Luis Antonio của Tây Ban Nha
| Luis của Tây Ban Nha | |||||
|---|---|---|---|---|---|
Chân dung bởi Anton Raphael Mengs, 1776. | |||||
| Thông tin chung | |||||
| Sinh | 25 tháng 7 năm 1727 Sevilla, Tây Ban Nha | ||||
| Mất | 7 tháng 8 năm 1785 (58 tuổi) Arenas de San Pedro, Ávila | ||||
| An táng | El Escorial | ||||
| Phối ngẫu | María Teresa của Vallabriga và Rozas | ||||
| Hậu duệ | Luis María của Borbón và Vallabriga María Teresa của Borbón María Luisa của Borbón | ||||
| |||||
| Hoàng tộc | Nhà Borbón-Anjou | ||||
| Thân phụ | Felipe V của Tây Ban Nha | ||||
| Thân mẫu | Elisabetta Farnese | ||||
| Tôn giáo | Công giáo La Mã | ||||
Luis của Tây Ban Nha[1] (tiếng Tây Ban Nha: Luis Antonio Jaime de Borbón y Farnesio; 25 tháng 7 năm 1727 – 7 tháng 8 năm 1785), được biết đến với tên gọi Hồng y Infante, là một vương tử Tây Ban Nha kiêm giáo sĩ. Ông là con trai của vua Felipe V của Tây Ban Nha và người vợ thứ hai, Elisabetta Farnese. Ông từng giữ chức hồng y phó tế của Santa Maria della Scala, cũng như là quản lý các vấn đề trần tục, và sau đó còn quản lý cả các vấn đề tâm inh của Tổng giáo phận Toledo, tòa giám mục chính của Tây Ban Nha.
Cuộc đời của Luis bị định đoạt bởi việc sinh ra trong hoàng tộc, gánh nặng mà ông luôn mang theo một cách xứng đáng. Ông phải đi theo những con đường được vạch sẵn bởi nghi lễ, lý do quốc gia, sự thuận tiện chính trị và những ràng buộc khác. Từ nhỏ, ông phải thích nghi với đời sống của một Vương tử Tây Ban Nha, không thể có một tuổi thơ tự do. Khi trưởng thành, ông cũng không thể thoát khỏi khuôn khổ do địa vị đặt ra, dù tước vị infante đem lại nhiều đặc quyền. Ông phải phục vụ cho lợi ích của quốc gia theo yêu cầu chính trị, như trường hợp được phong hồng y và được bổ nhiệm làm tổng giám mục Sevilla rồi Toledo.[2]
Ông được ghi nhận trong Sách Kỷ lục Guinness là hồng y trẻ nhất trong lịch sử.[3]
Cuộc sống
Những năm đầu đời

Luis Antonio Jaime de Borbón y Farnesio sinh ra là con trai út của vua Felipe V của Tây Ban Nha và người vợ thứ hai, Elisabetta Farnese.[2] Không lâu sau khi chào đời, ông được rửa tội và được đặt tên là Luis Antonio Jaime. Khi mới chưa đầy tám tuổi, Luis đã được phong làm Hiệp sĩ của Huân chương Lông Cừu Vàng vào năm 1735 và được bổ nhiệm làm người quản lý các vấn đề thế tục của Tổng giáo phận Toledo vào ngày 10 tháng 11 cùng năm. Đến ngày 19 tháng 12, ông được phong làm Hồng y phó tế của Santa Maria della Scala, dù phải đến ngày 23 tháng 3 năm 1736 ông mới nhận mũ đỏ tại Madrid, sau khi vào ngày 13 tháng 3 ông chính thức tiếp quản Tổng giáo phận.
Ngày 26 tháng 11 năm 1737, ông được bổ nhiệm làm người quản lý các vấn đề tâm inh của tổng giáo phận. Đến ngày 18 tháng 12 năm 1754, ông từ bỏ đời sống giáo sĩ vì không có thiên hướng, đồng thời từ bỏ các tước vị và phẩm trật giáo hội, rồi nhận tước Bá tước thứ 13 xứ Chinchón, được anh trai ông là Infante Filippo nhường cho.

Khi người anh cùng cha khác mẹ, vua Ferdinando VI chết không có con vào năm 1759, Luis đã đòi quyền kế vị ngai vàng với lập luận rằng ông là người con trai còn sống duy nhất của Felipe V đang cư trú ở Tây Ban Nha (vì các anh trai ông là Carlos, Vua Napoli và Sicilia, và Filippo, công tước xứ Parma, đều đang trị vì ở Ý). Tuy tuyên bố của mình có tính hợp lý, Luis vẫn mất quyền kế vị vào tay người huynh trưởng Carlos.
Vương tử Luis đặc biệt yêu thích nghệ thuật, nhất là chơi đàn violin. Ông là một nhà bảo trợ lớn của nghệ thuật và văn hóa, ngưỡng mộ nhạc sĩ Luigi Boccherini, kiến trúc sư Ventura Rodríguez, và các họa sĩ Francisco de Goya, Luis Paret y Alcázar, cùng Charles Joseph Flipart.
Hôn nhân
Vua Carlos III, vì sợ em trai mình, đã đày Luis xa khỏi triều đình Madrid. Năm 1776, tại Olias del Rey, Luis đã kết hôn theo lối morganatic (hôn nhân bất bình đẳng) với một nữ quý tộc người Aragon, María Teresa của Vallabriga[4],[2] người kém ông tuổi và tính tình kiêu kỳ, khó chịu, cuối cùng phản bội chồng, điều này khiến vua Carlos III, người rất yêu quý Luis, càng thêm căm ghét bà và không bao giờ tha thứ.
Su khi từ bỏ chức hồng y và các tổng giám mục vào năm 1754, ông ở lại triều đình như một thành viên khác của gia đình hoàng gia, không có vai trò chính thức. Ông luôn gần mẹ mình, người tiếp tục chiếm ưu thế gần như tuyệt đối trong đời ông. Ông buộc phải đồng hành cùng anh mình, vua Ferdinand VI, trong cơn bệnh tâm thần dẫn đến cái chết của nhà vua tại cung điện Villaviciosa de Odón (Madrid). Khi từ bỏ các chức vụ tôn giáo, thu nhập của ông giảm đi, nên ông cần nguồn tài chính khác như các chức vụ trong Dòng quân sự, sau đó là lãnh địa Boadilla, bá quốc Chinchón,... Nhờ đó ông tích lũy được tài sản lớn, cho phép ông sống hài hòa và nuôi dưỡng đam mê nghệ thuật, trở thành một trong những nhà bảo trợ và sưu tập nghệ thuật quan trọng nhất thời mình, với một bộ sưu tập xứng tầm của một nhà vua. Ông là người tiên phong trong nông nghiệp và chăn nuôi hiện đại, thực nghiệm cải tiến cây trồng và giống vật nuôi.[2]
Con cái
Vì con của Luis sinh ra từ một cuộc hôn nhân bất bình đẳng, họ không thể nhận tước vị hoàng gia, do đó hậu duệ của Carlos vẫn là những người thừa kế hợp pháp của Tây Ban Nha (dù các con của Carlos sinh ra ở Napoli). Điều này rất hợp ý Carlos như vậy Luis sẽ không thể có con cái nào có quyền kế vị ngai vàng.
Hai vợ chồng có bốn người con:[5]
- Luis María de Borbón y Vallabriga, Bá tước thứ 14 xứ Chinchón, Hầu tước San Martín de la Vega, (Cadalso de los Vidrios, 22 tháng 5 năm 1777 – Madrid, 19 tháng 3 năm 1823), ông từ bỏ các tước vị để trở thành Hồng y, Tổng giám mục Toledo và Sevilla .[2]
- Antonio María de Vallábriga, (Arenas de San Pedro, 6 tháng 3 năm 1779 - ? tháng 12 năm 1779), chết khi còn nhỏ.[6][a]
- María Teresa de Borbón y Vallabriga, Nữ Bá tước thứ 15 xứ Chinchón (26 tháng 11 năm 1780[b] – 23 tháng 11 năm 1828[c])
- ; kết hôn tại El Escorial ngày 2 tháng 10 năm 1797 với Manuel de Godoy y Álvarez de Faria, Thân vương de la Paz, Công tước xứ Alcúdia, Công tước xứ Sueca 1767–1851). Hai người có một con gái duy nhất, Carlota Luisa Manuela.
- María Luisa de Borbón y Vallabriga (Toledo, 6 tháng 6 năm 1783[d] – Paris, 1 tháng 12 năm 1846); kết hôn năm 1817 với Joaquín José de Melgarejo y Saurín (1780–1835), Hầu tước thứ 3 xứ Melgarejo, Công tước thứ nhất xứ San Fernando de Quiroga và Bộ trưởng Ngoại giao Tây Ban Nha. Hai người không có con. Bà là cháu nội cuối cùng còn sống của vua Feipe V.
Qua đời
Vua Carlos dành nhiều tình cảm và sự kính trọng cho em trai mình, và ngay cả trong thời gian bị lưu đày, Luis vẫn được triều đình đối xử khá tốt. Luis cũng dành tình cảm tương tự cho Carlos vì vậy ông thừa nhận Carlos là vua và chấp nhận việc bị lưu đày. Tuy nhiên, Luis vẫn mãi đau buồn và cay đắng vì đã đánh mất cơ hội trở thành vua.[2] Ông qua đời trong sự nhục nhã và lưu đày vào ngày 7 tháng 8 năm 1785. Lễ tang được tổ chức ngày 11, thi hài ông được chôn tại nhà thờ tu viện San Pedro de Alcántara ở Arenas theo lệnh nhà vua. Năm 1800, theo lệnh Carlos IV, hài cốt được chuyển đến Panteón de Infantes (hầm mộ của các Vương tử, Vương nữ) tại tu viện El Escorial.
Tổ tiên
| Tổ tiên của Luis của Tây Ban Nha | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
Ghi chú
- ↑ Có 1 số nguồn nói rằng bà là một người con chết lưu không có tên, số khác lại nói là Một người con chết ngay sau khi sinh ra.
- ↑ Có 1 số nguồn ghi rằng bà sinh ngày 26 tháng 1 năm 1780, thậm chí là ngày 6 tháng 3 năm 1779.
- ↑ Có 1 số nguồn ghi rằng bà mất ngày 24 tháng 11 năm 1828 và ngày 28 tháng 11 năm 1828.
- ↑ Có 1 số nguồn lại ghi rằng bà sinh ngày 21 tháng 3 năm 1780.
Tham khảo
- ↑ "Wayback Machine" (PDF). www.ramhg.es. tr. 312. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 5 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2025.
- 1 2 3 4 5 6 Proyectos, HI Iberia Ingeniería y. "Luis Antonio Jaime de Borbón y Farnesio". historia-hispanica.rah.es (bằng tiếng Tây Ban Nha). Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2025.
- ↑ McWhirter, Ross, McFarlan, Donald, Boehm, David A., and McWhirter, Norris. 1990 Guinness Book of World Records. Sterling Pub. Co. tr. 270.
- ↑ Academy of History website, Luis María de Borbón y Vallabriga.
- ↑ Boadilla website, Cardinal Luis María de Borbón y Vallabriga.
- ↑ "Wayback Machine" (PDF). www.ramhg.es. tr. 318. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 5 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2025.