Bước tới nội dung

Kỳ thủ Nữ lưu (shogi)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(Đổi hướng từ Kỳ thủ Nữ lưu)
Hai kỳ thủ Nữ lưu là Kato Momoko (trái) và Ito Sae (phải)

Kỳ thủ Nữ lưu ( (じょ) (りゅう) () () (Nữ lưu kỳ sĩ) Joryū kishi?, - kỳ thủ chuyên nghiệp nữ) là những nữ kỳ thủ shogi chuyên nghiệp trong hệ thống riêng của họ. Do trong giới Shogi chuyên nghiệp Nhật Bản tồn tại hai hệ thống chuyên nghiệp khác nhau, một dành cho các kỳ thủ chuyên nghiệp mà ở đó không có sự phân biệt nam - nữ và một chỉ dành riêng cho phụ nữ, khái niệm này được sử dụng.[1][2]

Một kỳ thủ Nữ lưu khi hoạt động có thể trực thuộc Liên đoàn Shogi Nhật Bản, Hội Kỳ thủ Chuyên nghiệp nữ Nhật Bản (LPSA) hoặc không trực thuộc bất cứ tổ chức nào trong hai tổ chức trên.

Tổng quan

Nền móng cho sự ra đời hệ thống chuyên nghiệp nữ

Dựa trên sự phát triển của việc phụ nữ ngày càng học chơi shogi nhiều hơn và sự xuất hiện của giải đấu Nữ lưu Danh Nhân chiến (mà ngày nay là Nữ lưu Danh Nhân nghiệp dư chiến), vào những năm 1960, Oyama Yasuharu - chủ tịch đương thời của Liên đoàn Shogi Nhật Bản mạnh mẽ yêu cầu sự thành lập của một hệ thống chuyên nghiệp chỉ dành riêng cho các kỳ thủ nữ, với ý tưởng vào việc có thể nhờ các kỳ thủ nữ để làm phổ biến shogi hơn nữa[3] - ý tưởng này vấp phải nhiều phản ứng trái chiều khi đó.[4] Cuối cùng, vào năm 1974, nhờ có những ảnh hưởng của Oyama và Harada Yasuo, sự đồng thuận trong việc hình thành hệ thống chuyên nghiệp dành riêng cho các kỳ thủ nữ đã được đạt tới.[4]

Sáu người phụ nữ đầu tiên được trở thành những kỳ thủ Nữ lưu đầu tiên, của thế hệ đầu tiên vào ngày 31 tháng 10 năm 1974, bao gồm:[5]

  • Takojima Akiko (Nữ lưu Tam đẳng): Bà cũng là người phụ nữ đầu tiên tham dự Trường Đào tạo Kỳ thủ trẻ, và sau khi rời hội cũng được chứng nhận mức độ Nhị đẳng.[5] Bà giải nghệ vào năm 2018.
  • Sekine Kiyoko (Nữ lưu Nhị đẳng): Trước khi trở thành kỳ thủ Nữ lưu, bà đã là một nữ kỳ thủ nghiệp dư với trình độ được đánh giá ngang ngửa với Takojima.[5] Bà giải nghệ vào năm 2011 với mức xếp hạng Nữ lưu Lục đẳng.[6]
  • Tada Yoshiko (Nữ lưu Nhị đẳng): Bà đã chiến thắng Nữ lưu Danh Nhân nghiệp dư chiến bốn kỳ liên tiếp trước khi trở thành kỳ thủ Nữ lưu, Bà giải nghệ vào năm 2004.[5]
  • Yamashita Kazeko (Nữ lưu Sơ đẳng): Năm 1972, Yamashita đã được phong Nữ lưu Nhất cấp.[7] Bà giải nghệ năm 2012.
  • Terashita Noriko (Nữ lưu Sơ đẳng): Bà là nữ học viên đầu tiên của lớp dạy cờ dành riêng cho nữ giới của Liên đoàn Shogi Nhật Bản, lớp này khai giảng lần đầu tiên vào năm 1962. Bà giải nghệ thi đấu chuyên nghiệp vào năm 1985.
  • Murashima Yukiko (Nữ lưu Sơ đẳng): Bà giải nghệ vào năm 1989.

Từ kỳ thủ Nữ lưu tới kỳ thủ chuyên nghiệp

Trong hệ thống kỳ thủ chuyên nghiệp vốn không có sự phân biệt giới tính nam - nữ, và cũng kể từ khi Trường Đào tạo Kỳ thủ trẻ ra đời vào năm 1928, điều kiện để trở thành kỳ thủ chuyên nghiệp chỉ đơn giản là gia nhập trường đào tạo và được thăng lên Tứ đẳng tại đây.[8][9] Năm 2014, Imaizumi Kenji, một nam kỳ thủ nghiệp dư đã vượt qua bài thi này và chính thức trở thành kỳ thủ chuyên nghiệp vào ngày 1 tháng 4 năm 2015.[10] Do đó, kể cả khi hệ thống kỳ thủ Nữ lưu đã ra đời vào năm 1974, một kỳ thủ nữ hoàn toàn có thể tham gia Tưởng Lệ hội song song, và Hayashiba Naoko, Nakai Hiroe, Yauchi Rieko, Usui Ryoko đã tận dụng điều này để luyện tập trở thành kỳ thủ chuyên nghiệp trong khi vẫn đang hoạt động như một kỳ thủ Nữ lưu. Đã có những sự tranh luận nổ ra, để từ đó dẫn tới vào năm 1998, bộ Quy tắc của Nữ Lưu kì sĩ (女流棋士総則 (Nữ Lưu kì sĩ tổng tắc)?) được ra đời, và khẳng định rằng khi tham gia Tưởng Lệ hội, một kì thủ nữ sẽ không được giữ vai trò Nữ Lưu kì sĩ nữa (奨励会員と女流棋士の重複は認めない?), và khi đó kỳ thủ Nữ lưu sẽ phải thông báo tạm thời nghỉ ngơi/rút lui với tổ chức chủ quản.[11][12]

Năm 2011, Satomi Kana - người khi đó đang sở hữu ba danh hiệu Nữ lưu đã đặt nghi vấn và tranh luận với Trường Đào tạo trong quy tắc này, để từ đó một lần nữa các giám đốc của Liên đoàn phải cho phép một kỳ thủ nữ vẫn được công nhận là kỳ thủ Nữ lưu khi tham gia Tưởng Lệ hội.[13] Satomi vượt qua bài thi đầu vào của Trường Đào tạo để được thăng lên Nhất cấp vào tháng 5 năm 2011,[14] tuần tự tới Sơ đẳng (tháng 1 năm 2012) - Nhị đẳng (tháng 7 năm 2013) và Tam đẳng vào tháng 12 cùng năm đó. Cô cũng đã tham gia Giải đấu Tam đẳng với mục đích tìm kiếm cơ hội được thăng lên Tứ đẳng - trở thành kỳ thủ chuyên nghiệp, tuy nhiên sau năm kỳ cô thất bại trong mục tiêu này và phải rút lui khỏi Trường Đào tạo do giới hạn tuổi tác.

Mặc dù tính tới tháng 1 năm 2023, chưa có bất cứ người phụ nữ nào thành công trở thành kỳ thủ chuyên nghiệp, dựa trên việc Satomi Kana, sau đó là Nishiyama Tomoka và gần đây là Naka Nanami đang dần chạm tới mục tiêu này, vấn đề về việc hoạt động dưới tư cách kỳ thủ Nữ lưu khi đã trở thành kỳ thủ chuyên nghiệp được Liên đoàn yêu cầu phải làm rõ hơn bao giờ hết,[15] nên vào ngày 7 tháng 8 năm 2019, Liên đoàn Shogi Nhật Bản đã quy định về sự tham gia của các kỳ thủ Nữ lưu và nữ hội viên Tưởng Lệ hội trong các giải danh hiệu chính thức như sau:[16]

  1. Nếu một kỳ thủ Nữ lưu vượt qua Kỳ thi Kết nạp Kỳ thủ chuyên nghiệp, cô ấy có thể tham gia cả các giải danh hiệu chính thức và cả các giải danh hiệu Nữ lưu.
  2. Nếu một nữ kỳ thủ đang trực thuộc Tưởng Lệ hội thành công được thăng lên Tứ đẳng, người đó cũng có thể gửi yêu cầu trở thành kỳ thủ Nữ lưu, tuy nhiên yêu cầu này phải được gửi đi trong thời gian 2 tuần kể từ khi được thăng lên Tứ đẳng.

Ngoài con đường thông qua hội Tưởng Lệ, một kỳ thủ Nữ lưu cũng có thể trở thành một kỳ thủ chuyên nghiệp nếu như có thành tích tốt trong các giải danh hiệu chính thức để đạt đủ điều kiện tham gia Kỳ thi Kết nạp Kỳ thủ chuyên nghiệp (棋士 (きし) (へん) (にゅう) () (けん) (Kì sĩ biên nhập thí nghiệm) Kishi Bennyu Shiken?), sau đó giành chiến thắng 3 trong 5 ván đấu với 5 kỳ thủ Tứ đẳng mới tham gia hệ thống chuyên nghiệp khi đó để vượt qua bài thi và trở thành kỳ thủ chuyên nghiệp.

Liên đoàn Shogi Nhật Bản đã đổi tên bài thi này từ Kỳ thi Kết nạp Chuyên nghiệp (プロ編入試験?) thành Kỳ thi Kết nạp Kỳ thủ chuyên nghiệp (棋士 (きし) (へん) (にゅう) () (けん) (Kì sĩ biên nhập thí nghiệm) Kishi Bennyu Shiken?) như ngày nay vào tháng 10 năm 2019, với mong muốn nhiều kỳ thủ Nữ lưu sẽ thực hiện kỳ thi này hơn ngoài các kỳ thủ nghiệp dư như thường lệ. Việc đổi tên này không làm thay đổi nội dung cơ bản của kỳ thi.[17] Để đủ điều kiện tham gia kỳ thi kết nạp này, một kỳ thủ không chuyên phải đáp ứng một trong các điều kiện sau đây:

  • Chiến thắng nhiều hơn 10 ván đấu và có tỉ lệ chiến thắng trên 60,5%, bắt đầu từ kết quả tốt nhất tính trở lại tới khi nộp ứng cử tham gia bài thi.
  • Kỳ thủ đó phải đạt được một trong các thành tích sau đây tại các giải danh hiệu chính thức:
    • Long Vương chiến: Chiến thắng giai đoạn Giải đấu Xếp hạng ở bất cứ tổ nào.
    • Vương Vị chiến: Thành công lọt vào giải đoạn League Xác định Khiêu chiến giả
    • Vương Tọa chiến/Kỳ Vương chiến/Kỳ Thánh chiến: Lọt vào top 8 kỳ thủ xuất sắc nhất trong giai đoạn Xác định Khiêu chiến giả
    • Cup Asahi mở rộng/Ngân Hà chiến/NHK Cup: Lọt vào top 4 kỳ thủ xuất sắc nhất trong vòng Chung kết.
    • Tân Nhân Vương chiến: Chiến thắng một kỳ Tân Nhân Vương chiến.

Hoạt động

Công việc chính của các kỳ thủ Nữ lưu gồm có việc thi đấu ở các giải danh hiệu Nữ lưu chính thức, các hoạt động liên quan tới phổ biến và quảng bá shōgi, truyền thông, sự kiện, giáo dục, người lắng nghe và ghi chép kỳ phổ.[18] Tuy nhiên, không có quy định nào quy định cụ thể cho các hoạt động ngoài việc thi đấu chuyên nghiệp, nên việc được làm gì sau giờ thi đấu chính thức là lựa chọn của mỗi nữ kỳ thủ.

Khi một kỳ thủ Nữ lưu giải nghệ, họ không được phép tham gia các giải đấu chính thức do Liên đoàn Shogi Nhật Bản quy định, tuy nhiên đẳng cấp và các danh dự họ có được trong quá trình thi đấu sẽ được bảo toàn. Ngoài ra, quyền thành viên của tổ chức họ trực thuộc như Liên đoàn Shogi Nhật Bản, kỳ thủ Nữ lưu hội hay Hội Kỳ thủ Chuyên nghiệp nữ Nhật Bản cũng được bảo toàn.

Hệ thống đẳng cấp

Sự ưu tiên trong hệ thống khi sắp xếp các kỳ thủ Nữ lưu được quy định như sau, với thứ tự từ sự ưu tiên cao nhất:

  1. Các kỳ thủ đang sở hữu danh hiệu. Nếu một kỳ thủ sở hữu nhiều danh hiệu hơn, cô ấy sẽ được ưu tiên cao hơn - nếu hai nữ kỳ thủ hoặc nhiều hơn sở hữu cùng một số danh hiệu, danh hiệu nào được sắp xếp cao hơn sẽ giúp kỳ thủ sở hữu danh hiệu đó được xếp ưu tiên hơn.
  2. Các kỳ thủ nữ đủ điều kiện cho danh dự Nữ hoàng/Vĩnh thế, với người nào đạt được danh dự Nữ hoàng/Vĩnh thế sớm hơn sẽ được ưu tiên hơn.
  3. Ngoài hai trường hợp trên, các kỳ thủ Nữ lưu sẽ được sắp xếp theo thứ tự đẳng cấp giảm dần từ Nữ lưu Lục đẳng tới Nữ lưu Nhị cấp. Trong trường hợp có nhiều kỳ thủ cùng một mức xếp hạng, thứ tự ưu tiên sẽ giảm dần từ người được thăng cấp trước tới người được thăng cấp sau cùng.

Thi đấu với các kỳ thủ chuyên nghiệp

Các kỳ thủ Nữ lưu với thành tích xuất sắc có thể được tham gia các giải danh hiệu chính thức mà vốn chỉ dành cho các kỳ thủ chuyên nghiệp (thường được coi là các nam kỳ thủ chuyên nghiệp).[19]

Giải nghệ

Có hai loại giải nghệ, một loại là khi một kỳ thủ Nữ lưu tự nguyện giải nghệ, loại còn lại là việc giải nghệ dựa vào các điểm giáng cấp (降級点?), lấy cơ sở trên Quy tắc của Nữ Lưu kì sĩ (女流棋士総則 (Nữ Lưu kì sĩ tổng tắc)?).[20]

Tuy nhiên, sau khi giải nghệ, các kỳ thủ nữ vẫn có thể tham gia vào các giải danh hiệu chính thức[a] với tư cách một kỳ thủ nghiệp dư. Trong quá khứ, Hayashiba Naoko, Ōba Mika và Fujita Maiko đã tham gia Nữ lưu Vương Tọa chiến kỳ 1 dưới tư cách một kỳ thủ nữ nghiệp dư,[21] sau đó là Yamashita Kazuko[b] cùng với Fujita tham gia Nữ lưu Vương Tọa chiến kỳ 4.[22]

Cùng với việc giải nghệ, một vài kỳ thủ Nữ lưu cũng đồng thời rút lui khỏi tổ chức chủ quản, và trong trường hợp này họ không còn được công nhận là một kỳ thủ Nữ lưu nữa.

Điểm giáng cấp

Tính tới tháng 10 năm 2021, bộ luật cho việc yêu cầu một kỳ thủ Nữ lưu giải nghệ được dựa trên Quy tắc của Nữ Lưu kì sĩ (女流棋士総則 (Nữ Lưu kì sĩ tổng tắc)?)[20] được công bố vào tháng 4 năm 2018 trên trang chủ của Liên đoàn Shogi Nhật Bản, và cũng theo đó Thanh Lệ chiến - Nữ lưu Thuận Vị chiến không tham gia vào việc tính điểm giáng cấp này.[c]Lưu ý rằng do Liên đoàn Shogi Nhật Bản là tổ chức ban hành, nên các kỳ thủ Nữ lưu trực thuộc Hội Kỳ thủ Chuyên nghiệp nữ Nhật Bản không phải chịu ảnh hưởng này.

Nói chung, một kỳ thủ Nữ lưu sẽ nhận một điểm giáng cấp nếu xếp hạng nói chung của kỳ thủ đó trong năm đó thấp. Tuy nhiên, nếu như trong năm đó kỳ thủ đó xin nghỉ ngơi vì bất cứ lý do nào như thai sản, bệnh tật, cô ấy sẽ không phải nhận bất cứ một điểm giáng cấp nào.

Quy tắc chung

  • Một kỳ thủ Nữ lưu sẽ phải giải nghệ bắt buộc nếu như người đó nhận đủ ba điểm giáng cấp.
  • Kỳ thủ Nữ lưu có thể tiếp tục thi đấu mà không xin nghỉ hưu khi qua 65 tuổi, tuy nhiên phải thỏa mãn hai điều kiện sau:
    • Nữ kỳ thủ đó phải không có bất cứ điểm giáng cấp nào vào năm mà kỳ thủ đó đạt 65 tuổi.
    • Sau khi vượt qua mốc 65 tuổi, nếu như nhận một điểm giáng cấp, kỳ thủ đó sẽ phải giải nghệ ngay lập tức vào năm sau đó.
  • Số lượng điểm giáng cấp phụ thuộc vào số lượng kỳ thủ Nữ lưu đang hoạt động chuyên nghiệp tính từ ngày 1 tháng 4 của năm đó hoặc trước đó, số lượng cụ thể được tính toán dựa trên
    • Với 36 kỳ thủ Nữ lưu gốc, sẽ có một điểm giáng cấp. Cứ mỗi 5 kỳ thủ mới gia nhập hệ thống kỳ thủ Nữ lưu, số lượng điểm giáng cấp sẽ tăng thêm một.
    • Nếu như trước khi áp dụng điểm giáng cấp có một kỳ thủ nữ tự nguyện giải nghệ, số điểm giáng cấp mà đáng ra phải áp dụng vào năm tiếp theo sẽ được giảm đi bằng với số kỳ thủ nữ tự nguyện giải nghệ.
    • Điểm giáng cấp không thay đổi kể cả khi có kỳ thủ xin nghỉ thi đấu tạm thời.

Tiêu chuẩn cho kỳ thủ Nữ lưu bị áp dụng điểm giáng cấp

  • Hệ thống điểm giáng cấp được tham chiếu dựa trên việc các kỳ thủ Nữ lưu thi đấu tám giải danh hiệu Nữ lưu chính thức, bao gồm: (theo thứ tự ưu tiên)
    1. Thanh Lệ chiến
    2. Nữ lưu Thuận Vị chiến
    3. Nữ lưu Vương Tướng chiến
    4. Thương Phu Đằng Hoa chiến
    5. Nữ lưu Danh Nhân chiến
    6. Nữ lưu Vương Tọa chiến
    7. Giải Mynavi Nữ mở rộng
    8. Thương Phu Đằng Hoa chiến
  • Khi được thăng lên Nữ lưu Nhất cấp, nếu có điểm giáng cấp sẽ được loại bỏ một điểm. Ngoại trừ Cup YAMADA, nếu có ít nhất 8 chiến thắng trong tám giải Nữ lưu kể trên, kỳ thủ đó được xóa một điểm giáng cấp, tuy nhiên cần lưu ý rằng mỗi năm chỉ có một điểm giáng cấp được xóa bỏ.

Các kỉ lục

  • Nữ kỳ thủ trẻ nhất trở thành kỳ thủ Nữ lưu là Fujita Aya (cô sinh năm 1998, trở thành kỳ thủ Nữ lưu năm 11 tuổi, 6 tháng). Tính tới năm 2024, có tổng cộng 7 nữ kỳ thủ trở thành kỳ thủ Nữ lưu khi 12 tuổi hoặc trẻ hơn.
  • Kỳ thủ Nữ lưu lớn tuổi nhất từng hoạt động là Takojima Akiko. Bà giải nghệ năm 2018, khi 71 tuổi 10 tháng.
  • Kỳ thủ Nữ lưu thi đấu nhiều ván nhất trong một năm là Nishiyama Tomoka, cô thi đấu 65 ván trong năm 2022. Trong năm 2022, cô thi đấu tới 6 loạt trận tranh danh hiệu (Bạch Linh - Nữ Vương - Nữ lưu Danh Nhân - Nữ lưu Vương Vị - Nữ lưu Vương Tướng - Thương Phu Đằng Hoa). 2022 cũng là năm Nishiyama Tomoka đạt kỉ lục kỳ thủ Nữ lưu có nhiều ván thắng nhất trong một năm, với 46 ván.
  • Tỉ lệ thắng trong một năm cao nhất thuộc về Shimizu Ichiyo, với 89,65% trong năm 1993 (26 thắng - 3 thua).
  • Chuỗi thắng dài nhất thuộc về Fukuma Kana (khi đó là Satomi Kana) vào năm 2015, với 21 trận thắng liên tiếp.
  • Nakai Hiroe là người đầu tiên đạt mốc 700 ván thắng (vào ngày 3 tháng 9 năm 2021). Người thứ hai đạt được mốc này là Shimizu Ichiyo (29 tháng 7 năm 2023)[23][24]
  • Shimizu Ichiyo là người phụ nữ đầu tiên/kỳ thủ Nữ lưu đầu tiên trở thành chủ tịch của Liên đoàn Shogi Nhật Bản.[25]

Ghi chú

  1. Tính tới năm 2023, giải duy nhất có thể tham gia dưới diện này là Nữ Lưu Vương Tọa chiến
  2. Bà tham gia giải đấu này dưới tên thật của mình - Nakagawa Kazuko (中川カズ子)
  3. Mặc dù ở Nữ Lưu Thuận Vị chiến cũng có hệ thống điểm giáng cấp (được công bố vào tháng 11 năm 2021), hệ thống này hoàn toàn không liên quan tới việc Yêu cầu Giải nghệ.

Tham khảo

  1. "プロ棋界|将棋界について|将棋の基礎知識|日本将棋連盟". www.shogi.or.jp (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2023.
  2. Đối với giới cờ vây chuyên nghiệp, chỉ tồn tại duy nhất một hệ thống chuyên nghiệp không phân biệt nam - nữ, và khái niệm Nữ Lưu kì sĩ không được sử dụng để phân biệt cho bất cứ điều gì. Tuy nhiên, cũng nhằm mục đích gia tăng số nữ kì thủ chuyên nghiệp và phổ biến cờ vây, các tiêu chuẩn riêng cho việc tuyển chọn các nữ kì thủ cũng được tạo ra song song với hệ thống chuyên nghiệp.Hsieh Yi Min là kì thủ nữ thứ tư, và cũng là nữ kì thủ duy nhất tính tới hết năm 2004 tham gia hệ thống cờ vây chuyên nghiệp thông qua các tiêu chuẩn thông thường.
  3. HIRAOKA, Takuya (2014). Journal of Japan Society for Fuzzy Theory and Intelligent Informatics. Quyển 26 số 5. tr. 200–203. doi:10.3156/jsoft.26.5_200. ISSN 1347-7986 http://dx.doi.org/10.3156/jsoft.26.5_200. {{Chú thích tạp chí}}: |title= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  4. 1 2 SANGYO EISEIGAKU ZASSHI. Quyển 47 số Special. 2005. tr. 839. doi:10.1539/sangyoeisei.kj00003804469. ISSN 1341-0725 http://dx.doi.org/10.1539/sangyoeisei.kj00003804469. {{Chú thích tạp chí}}: |title= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  5. 1 2 3 4 INC, SANKEI DIGITAL (ngày 5 tháng 4 năm 2018). "【話の肖像画】女流棋士第1号・蛸島彰子(4) 初の女性棋戦でタイトル獲得(1/2ページ)". 産経ニュース (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2023.
  6. "関根紀代子女流五段が引退|将棋ニュース|日本将棋連盟". www.shogi.or.jp (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2023.
  7. "山下 カズ子 ( やました かずこ )". 日本女子プロ将棋協会 (bằng tiếng Nhật). ngày 28 tháng 5 năm 2007. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2023.
  8. "里見香奈さん初の女性棋士ならず 出雲のイナズマでも壁高く|将棋界を斬る 田丸昇九段の眼". 日刊ゲンダイDIGITAL. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2023.
  9. Có vài ngoại lệ cho điều kiện này, ví dụ như Hanamura Motoji vào năm 1944 và Segawa Shoji vào năm 2005 - cả hai người họ đều trở thành kì thủ chuyên nghiệp mà không thông qua Tưởng Lệ hội. Năm 2006, Liên đoàn Shogi Nhật Bản công bố việc bắt đầu tổ chức Kỳ thi Kết nạp Kì thủ chuyên nghiệp nhằm trao cơ hội trở thành kì thủ chuyên nghiệp cho các kì thủ nghiệp dư và Nữ Lưu kì sĩ mà không phân biệt bất cứ điều gì.<ref>Watanabe Akira. "棋士総会。". 渡辺明ブログ. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2018. {{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |archive-date= (trợ giúp)
  10. "今泉健司氏、プロ合格" (bằng tiếng Nhật). ngày 8 tháng 12 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2018. {{Chú thích báo}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |archive-date= (trợ giúp)
  11. 別冊宝島440『将棋これも一局読本』(宝島社、1999年)pp.144 - 153
  12. Tuy nhiên, Yauchi và Usui là hai kì thủ nữ duy nhất vượt qua ngoại lệ này.
  13. "「奨励会と女流棋士の重籍に関する件」について|将棋ニュース|日本将棋連盟". www.shogi.or.jp (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2023.
  14. "里見香奈女流名人・女流王将・倉敷藤花、奨励会1級編入試験に合格|将棋ニュース|日本将棋連盟". www.shogi.or.jp (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2023.
  15. "男性棋戦と女流棋戦の両立が可能に 日本将棋連盟が女流・女性奨励会員のついての新規定を発表". スポーツ報知 (bằng tiếng Nhật). ngày 7 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2023.
  16. "女流棋士、女性奨励会員の棋戦参加について |将棋ニュース|日本将棋連盟". www.shogi.or.jp (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2023.
  17. 「▲将棋△」『産経新聞』(東京本社)2019年11月11日付朝刊、12版、5面、囲碁・将棋欄。
  18. https://web.archive.org/web/20180908123226/https://www.shogi.or.jp/column/2016/12/post_74.htm
  19. "今年度対女流、対アマ成績|成績・ランキング|日本将棋連盟". www.shogi.or.jp (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2023.
  20. 1 2 "女流棋士の降級点と引退制度について|よくある質問|日本将棋連盟". www.shogi.or.jp (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2023.
  21. "第1期リコー杯女流王座戦アマ東・西日本予選大会". www.shogi.or.jp. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2023.
  22. "第4期リコー杯女流王座戦アマ東・西日本予選大会". www.shogi.or.jp. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2023.
  23. "こまおと:中井広恵女流六段(52)が... | 毎日新聞". web.archive.org. ngày 11 tháng 9 năm 2021. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 9 năm 2021. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2025.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  24. "2023年7月29日 里見女流五冠か木村女流1級 対 清水女流七段か山田(久)女流四段|予選|第17期マイナビ女子オープン". book.mynavi.jp. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2025.
  25. "日本将棋連盟新役員のお知らせ|将棋ニュース|日本将棋連盟". www.shogi.or.jp (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2025.