Bước tới nội dung

Ký hiệu chiêm tinh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Ký hiệu chiêm tinh là ký hiệu hình ảnh được sử dụng để biểu thị các thiên thể có liên quan trong chiêm tinh học.

Trong lịch sử, các biểu tượng chiêm tinh và thiên văn đã có sự chồng chéo. Các biểu tượng thường được sử dụng bao gồm các cung hoàng đạo, các hành tinh, tiểu hành tinh và các thiên thể khác. Chúng có nguồn gốc từ các bản thảo Byzantine thời trung cổ. Hình thức hiện tại của chúng là sản phẩm của thời kỳ Phục hưng châu Âu. Các biểu tượng khác cho các khía cạnh chiêm tinh được sử dụng trong nhiều truyền thống chiêm tinh khác nhau.

Lịch sử và nguồn gốc

Các biểu tượng cho các hành tinh cổ điển, cung hoàng đạo, góc chiếu, điểm và nút mặt trăng xuất hiện trong các bản thảo Byzantine thời trung cổ, nơi lưu giữ nhiều lá số tử vi cổ đại.[1] Trong các bản thảo tử vi Hy Lạp gốc, Mặt trời được mô tả bằng một vòng tròn mang ký hiệu cổ đại cho sự rạng rỡ (old sun symbol), trong khi Mặt trăng được tượng trưng bằng hình lưỡi liềm.[2]

Hành tinh cổ điển

Các ký hiệu viết cho Sao Thủy, Sao Kim, Sao Mộc và Sao Thổ được tìm thấy trong các bản thảo giấy cói Hy Lạp thời kỳ cuối Cổ điển.[3] Các ký hiệu cho Sao Mộc và Sao Thổ là các chữ lồng của các chữ cái đầu tiên của các tên Hy Lạp tương ứng, và ký hiệu cho Sao Thủy là một cây gậy thần được cách điệu.[3] Annie S. D. Maunder tìm thấy tiền thân của các ký hiệu hành tinh trong các nguồn trước đó, được sử dụng để đại diện cho các vị thần liên quan đến các hành tinh cổ điển. Bản đồ sao của Bianchini, được tạo ra vào thế kỷ thứ 2,[4] cho thấy các nhân cách hóa của Hy Lạp về các vị thần hành tinh được gắn với các phiên bản ban đầu của các ký hiệu hành tinh: Sao Thủy có một cây gậy thần; Sao Kim có, gắn vào vòng cổ của mình, một sợi dây nối với một vòng cổ khác; Sao Hỏa, một ngọn giáo; Sao Mộc, một cây gậy; Sao Thổ, một lưỡi hái; Mặt Trời, một vòng tròn có các tia tỏa ra từ nó; và Mặt Trăng, một mũ đội đầu có gắn hình lưỡi liềm.[5] Một sơ đồ trong cuốn Bách khoa Chiêm tinh học thế kỷ 12 của Johannes Kamateros cho thấy Mặt trời được biểu thị bằng vòng tròn có tia sáng, Sao Mộc bằng chữ zeta (chữ cái đầu của Zeus, vị thần tương ứng với Sao Mộc trong thần thoại Hy Lạp), Sao Hỏa bằng một chiếc khiên bị cắt ngang bởi một ngọn giáo, và các hành tinh cổ điển còn lại bằng các biểu tượng giống với các biểu tượng hiện đại, không có dấu chữ thập như trong các phiên bản hiện đại của các biểu tượng.[5]

Hành tinh

Đối với các hành tinh trong chiêm tinh học, thông thường (nhưng không phải luôn luôn) các ký hiệu bắt đầu từ các yếu tố chung: Vòng tròn biểu thị sức mạnh tâm linh, hình lưỡi liềm biểu thị tư duy, hình chữ thập biểu thị vật chất hoặc thực thể, và mũi tên biểu thị hành động hoặc phương hướng.[6]

TênKý hiệuẢnhĐại diện choÝ nghĩa ký hiệu
Mặt TrờiMặt TrờiKý hiệu Mặt Trời (một dấu chấm nằm ở trung tâm vòng tròn)Sức mạnh tâm linh (vòng tròn) bao quanh hạt giống tiềm năng (dấu chấm)
Mặt TrăngPrimer quartTrăng lưỡi liềmTư duy hoặc tâm linh phát triển của con người thông qua khả năng tiếp thu (lưỡi liềm)
Sao ThủySao ThủyTấm khiên có cánh của vị thần MercuryTư duy, sức mạnh tâm linh và vật chất
Sao KimSao KimGương của nữ thần Venus.Sức mạnh tâm linh nằm trên vật chất
Trái Đất🜨Trái ĐấtTrái Đất hoặc ký hiệu Mặt Trời (dấu thập của Mặt Trời)Trái Đất — những phương hướng chính
Sao HỏaSao HỏaChiếc khiên và ngọn giáo của vị thần Mars.Sức mạnh nằm trên sức mạnh tâm linh.
CeresCeresLưỡi hái. Ký hiệu đặc trưng của nữ thần CeresHình lưỡi liềm cách điệu
Sao MộcSao MộcTia chớp hoặc đại bàng của vị thần JupiterTư duy nằm trên đường nằm ngang của vật chất
Sao ThổSao ThổLưỡi hái của vị thần SaturnVật chất chiếm ưu thế hơn tâm trí hoặc tinh thần của con người
Sao Thiên VươngSao Thiên VươngKý hiệu là viết tắt của tên người khám phá ra Sao Thiên Vương là William HerschelTâm linh và sự "thống trị" của vật chất, dưới dạng ăng-ten
Sao Thiên VươngKý hiệu là sự kết hợp giữa ký hiệu của Mặt Trời và Sao Hỏa.Sức mạnh nằm trên sức mạnh tâm linh bao quanh hạt giống tiềm năng
Sao Hải VươngSao Hải VươngCây đinh ba của vị thần NeptuneTư duy và khả năng tiếp thu
Sao Diêm Vương (thay thế)Một sự biến thể với ký hiệu chiêm tinh của Sao Hải VươngTư duy vượt trên vật chất để đạt đến sức mạnh tâm linh
Sao Diêm VươngSao Diêm VươngTên viết tắt của PlutoPercival LowellKý hiệu thường được dùng nhất cho Sao Diêm Vương trong các bài viết chiêm tinh học.

Cung hoàng đạo

TênÝ nghĩaKý hiệuẢnhĐại diện cho
Bạch DươngCon cừu đựcĐầu và sừng của con cừu
Kim NgưuCon bò đựcKhuôn mặt và sừng của con bò đực
Song TửCặp song sinhCặp song sinh đứng cạnh nhau
Cự GiảiCon cuaĐôi càng của con cua
Sư TửCon sư tửĐầu và bờm của con sư tử
Xử NữTrinh nữlúa mạch
Thiên BìnhCán cânCán cân
Thiên YếtCon bọ cạpCái đuôi đầy nọc độc của con bọ cạp
Nhân MãCung thủMũi tên của nhân mã
Ma Kết[7]Con dê biểnĐầu và thân có đuôi cá của con dê biển.
Bảo BìnhNgười cầm bìnhGợn sóng của nước đôi
Song NgưCon cáHai con cá bơi ngược nhau

Các ký hiệu khác

Góc hợp

TênKý hiệuẢnhGócGiải thích
Trùng tụHai hoặc nhiều hành tinh nằm ở cùng một dấu hiệu

Ký hiệu vòng tròn có đường thẳng ngụ ý hai thiên thể cùng một vị trí (đồng thời là điểm bắt đầu của một góc)

Bán lục hợp30°Nằm cách nhau một dấu hiệu

Các đường giao nhau từ các góc trong ở nửa trên hình lục giác

Bán phương 45°Đường phân giác của một góc vuông (xem Cầu phương)
Lục hợp60°Hai dấu hiệu nằm cách nhau

Các đường giao nhau từ các góc trong của hình lục giác

QuintileQ Q72°
Cầu phương 90°(cũng được gọi là điểm tứ phân vị)

Ba dấu hiệu nằm cách nhau hoặc cùng một cách thức.Một tứ giác đều biểu thị bằng một góc vuông.

Tam hợp 120°Bốn dấu hiệu nằm cách nhau hoặc có bộ ba phần tử giống nhau

Một tam giác đều

Tam bán phương135°Ký hiệu của góc bán phương nằm bên dưới ký hiệu của góc cầu phương, ngụ ý về tổng của cả hai góc
Quintile képbQ bQ144°
Bất đồng vị150°Năm dấu hiệu nằm cách nhau

Các đường giao nhau từ các góc trong ở phần nửa thấp hơn của hình lục giác

Đối đỉnh180°Sáu dấu hiệu nằm cách nhau

Nét của ký hiệu Trùng tụ cộng thêm vòng tròn ở phía trên đường đi của nó, ngụ ý về hai thiên thể nằm đối nhau

Giới thiệu

  1. Neugebauer, Otto (1975). A history of ancient mathematical astronomy. tr. 788–789.
  2. Neugebauer, Otto; Van Hoesen, H. B. (1987). Greek Horoscopes. American Philosophical Society. tr. 1, 159, 163. ISBN 9780871690487.
  3. 1 2 Jones, Alexander (1999). Astronomical papyri from Oxyrhynchus. American Philosophical Society. tr. 62–63. ISBN 9780871692337. It is now possible to trace the medieval symbols for at least four of the five planets to forms that occur in some of the latest papyrus horoscopes (P.Oxy. 4272, 4274, 4275 ...). That for Jupiter is an obvious monogram derived from the initial letter of the Greek name. Saturn's has a similar derivation ... but underwent simplification. The ideal form of Mars' symbol is uncertain, and perhaps not related to the later circle with an arrow through it. Mercury's is a stylized caduceus.
  4. "Bianchini's planisphere". Florence, Italy: Istituto e Museo di Storia della Scienza (Institute and Museum of the History of Science). Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 10 năm 2009. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2010.
  5. 1 2 Maunder, A.S.D. (1934). "The origin of the symbols of the planets". The Observatory. 57: 238–247. Bibcode:1934Obs....57..238M.
  6. "Glyphs of the general astrological and Uranian planets". Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2023.
  7. Bản mẫu:Ref-llibre