Bước tới nội dung

Kord (súng máy hạng nặng)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
KORD
LoạiSung máy hạng năng
Nơi chế tạo Nga
Lược sử hoạt động
Sử dụng bởiXem phần Các quốc gia sử dụng
Lược sử chế tạo
Người thiết kếA.A. Namitulin, N.M. Obidin, Ju.M. Bogdanov và V.I. Zhirokhin[1]
Năm thiết kếNhững năm 1990
Nhà sản xuấtNhà máy Degtyarev
Giai đoạn sản xuất1998 – nay
Các biến thểXem phần Biến thể
Thông số
Khối lượng25,5 kg (56,22 lb) (6P50)
32 kg (71 lb) (6P50-1)
60 kg (130 lb) (6P50-2)
80 kg (180 lb) (6P50-3)
27 kg (60 lb) (6P49)
Chiều dài1.980 mm (78,0 in) (6P50-1, 6P50-2, 6P50-3)
1.625 mm (64,0 in) (6P49)

Đạn12,7×108mm
12,7×99mm NATO (xuất khẩu)[2]
Cơ cấu hoạt độngNạp đạn bằng khí nén, khóa nòng xoay
Tốc độ bắn660–750 viên/phút
Sơ tốc đầu nòng860 m/s (2.821,5 ft/s)
Tầm bắn hiệu quả2000 m đối với mục tiêu trên không2380 - 2500 m đối với mục tiêu mặt đất
Chế độ nạpDây đạn 50 viên
Ngắm bắnĐiểm ruồi hoặc kính ngắm quang học

Kord (tiếng Nga: Корд, Ковровские ОРужейники Дегтярёвцы, Konstruktsija ORuzheinikov-Degtyarovtsev) là loại súng máy hạng nặng sử dụng đạn 12,7×108mm do Nga thiết kế và đưa vào sử dụng từ năm 1998.[3]Loại súng này được thiết kế để thay thế khẩu NSV sau khi Kazakhstan tách khỏi Liên Xô và các nhà máy chế tạo loại súng này giữ bản quyền chế tạo và thiết kế các mẫu NSV.

Phát triển

Động lực phát triển loại vũ khí này xuất phát từ việc Liên bang Nga khi đó hoàn toàn thiếu dây chuyền sản xuất súng máy hạng nặng. Trước khi Liên Xô tan rã, loại đảm nhiệm vai trò súng máy hạng nặng là NSV, hay “Utyos” ("утёс", mnghĩa là “mỏm đá cô độc” trong tiếng Nga, tên gọi trong giai đoạn phát triển).[4] Trung tâm sản xuất chính của NSV khi ấy nằm tại khu vực nay thuộc Kazakhstan.[3]

Cục thiết kế Degtyarev của Nga được giao nhiệm vụ chế tạo một phiên bản nâng cấp, sử dụng đạn 12,7×108mm, có thể dùng làm hỏa lực yểm trợ, lắp trên phương tiện hoặc bắn phòng không. Tất cả các biến thể cũng có phiên bản dùng đạn .50 BMG (12,7×99 mm NATO) để xuất khẩu.[2]

Vũ khí áp dụng kết cấu mới nên nhẹ hơn đáng kể so với tiền nhiệm. Cơ cấu khai hỏa rất bền, đạt tốc độ bắn cao hơn và giật giảm rõ rệt. Nhờ nòng làm từ hợp kim công nghệ cao hạn chế biến dạng và võng, độ chính xác được cải thiện vượt trội so với các súng máy Liên Xô trước đây. Khác với thế hệ trước, súng có thể bắn từ hai chân chống, điểm khá hiếm với súng máy hạng nặng cỡ. Trọng lượng tương đối nhẹ và độ giật thấp cũng cho phép binh sĩ khỏe có thể cơ động khẩu súng mà không cần hỗ trợ.[5]

Thiết kế

Bề ngoài của khẩu Kord trông khá giống khẩu NSV nhưng tất cả chi tiết máy móc bên trong và loa che lửa đều được làm mới. Hệ thống nạp đạn bằng khí nén được thiết kế lại cũng như bộ phận chống giật được tích hợp thêm vào nòng súng để giảm độ giật giúp nó tăng tính chính xác khi bắn.

Kord có thể gắn ở các vị trí mà khẩu NSV từng gắn trên các phương tiện cơ giới nhưng có độ chính xác cao hơn. Loại súng này sử dụng cơ chế làm mát bằng không khí, nạp dây đạn không nối và sử dụng hệ thống trích khí dài cải tiến một phần. Bộ phận chống giật của súng sau khi cải tiến đã kiêm luôn chức năng chống chớp sáng.

Kord sử dụng loại đạn 12.7×108mm giống như NSV. Thường thì dây đạn nạp vào từ phía bên phải nhưng vẫn có thể chỉnh lại để nạp vào từ phía bên trái nếu muốn. Vỏ đạn được đẩy ra phía trước qua một khe nhỏ phía bên phải. Loại súng này sử dụng hệ thống điểm hỏa bằng điện khi được gắn trên các phương tiện cơ giới. Nó hoàn toàn tự động nên việc điều chỉnh chế độ bắn phụ thuộc vào việc bóp cò của xạ thủ.

Vì độ giật của súng đã giảm hơn hẳn so với các loại súng máy hạng nặng khác nên thay vì chỉ có thể gắn trên bệ chống ba chân, nó có thể sử dụng chân chống chữ V tích hợp thiết kế riêng cho loại súng này để tăng tính cơ động. Nó có thể được mang bởi một binh lính đi đến nhiều vị trí khác nhau trong phạm vi ngắn và khai hỏa.

Hệ thống nhắm cơ bản của Kord là điểm ruồi và thước ngắm nhưng nó có thanh răng để gắn thêm các loại ống nhắm hay bộ phận hồng ngoại.

Trong quá trình phát triển, nhiều cải tiến đã được sử dụng trên Kord, nhưng bí mật chính là công nghệ làm nòng của súng. Các loại súng máy hạng nặng khi bắn loạt dài thì nòng súng sẽ nóng lên nhưng không đều, vì vậy dẫn đến hiện tượng cong nòng làm giảm độ chính xác. Nhóm các nhà thiết kế súng máy Kord đã đưa ra một sơ đồ khắc phục hiện tượng này, trong đó nhiệt độ dọc theo nòng súng được phân bổ đồng đều, do đó hiện tượng cong nòng khi bắn loạt dài được giảm tối đa.

Chất lượng của Kord được chứng minh tại triển lãm vũ khí ở UAE, trong cuộc thi đấu với nhiều loại súng máy hạng nặng của nước ngoài, Kord đã đánh bại tất cả các đối thủ. Nó không chỉ chính xác nhất mà còn chịu đựng sự bền bỉ nhất. Trong màn thử nghiệm bắn tính năng, Kord bắn một mạch 300 viên đạn, trong khi đối thủ đứng thứ nhì là chỉ 150 viên. Ngoài ra các khẩu súng máy hạng nặng tiếp tục thử nghiệm bắn trong điều kiện bão cát sa mạc, Kord đã vượt qua trong khi khẩu M2 Browning của Mỹ đã bị kẹt đạn trong điều kiện như vậy.

Biến thể

  • 6P49: Phiên bản cơ bản để gắn trên các phương tiện cơ giới.[3]
  • 6P50: Phiên bản nguyên mẫu cho bộ binh.[3]
  • 6P50-1: Phiên bản tích hợp chân chống chữ V[3]
  • 6P50-2: Phiên bản tích hợp bệ chống ba chân 6T19.[3]
  • 6P50-3: Phiên bản bộ binh có thể gắn ở nhiều vị trí. Nhả vỏ đạn ra phía tay phải.[3]
  • 6P51: Phiên bản có thể điều chỉnh bên nạp đạn.Nhả vỏ đạn ra phía trên súng.[3][3]
  • 6P60: Phiên bản tích hợp bệ chống ba chân 6T20 hỗ trợ bộ binh.[3]

Các quốc gia sử dụng

Tham khảo

  1. Fofanov, Vasiliy (2000–2007). "KORD 12.7MM HMG". fofanov.armor.kiev.ua. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2015.
  2. 1 2 "12.7 mm Kord tank mounted machine-gun (index 6P49 (6P51))". zid.ru. V.A.Degtyarev Plant. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2021.
  3. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Jane's Infantry Weapons 2005-2006.
  4. "Modern Firearms – NSV-12.7 Machine Gun". Modern Firearms. world.guns.ru. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2025.
  5. Russian "Udarnaya Sila" TV Show – Excerpt Showing Russian Officer Firing Kord from the Hip While Moving. YouTube (bằng tiếng Nga). Udarnaya Sila (Ударная Сила). Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2025.
  6. HQ Materiel Department Decision MI37585/27.12.2012 (Päätös MAAVEMATOS ak MI37585/27.12.2012) (Báo cáo) (bằng tiếng Phần Lan). Finnish Army. ngày 27 tháng 12 năm 2012.
  7. "Namibia receives Russian small arms". defenceweb.co.za. ngày 1 tháng 6 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2018.
  8. "Танкисты ЮВО отрабатывают элементы танкового биатлона на полигоне в Краснодарском крае". structure.mil.ru (bằng tiếng Nga). ngày 11 tháng 1 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2017.
  9. "Russian Kord and ASVK systems in Syria". armamentresearch.com. ngày 30 tháng 11 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2017.

Liên kết ngoài