Bước tới nội dung

Im lặng độc hại

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Im lặng độc hại (tiếng Anh: Silent treatment) là việc từ chối giao tiếp với một người đang cố gắng giao tiếp và mong chờ phản hồi. Nó có thể dao động từ việc hờn dỗi đơn thuần đến hành vi kiểm soát lạm dụng ác ý. Đây có thể là một hình thức lạm dụng cảm xúc gây hấn thụ động, trong đó sự không hài lòng, không chấp thuận và sự khinh thường được thể hiện qua các cử chỉ phi ngôn ngữ trong khi vẫn giữ im lặng bằng lời nói.[1] Đó là một hình thức trừng phạt mang tính thao túng.[2][3] Nó có thể được sử dụng như một hình thức tẩy chay xã hội, theo nhà tâm lý học xã hội Kipling Williams, đây là hình thức phổ biến nhất của sự tẩy chay.

Nguồn gốc thuật ngữ

Thuật ngữ này bắt nguồn từ "sự đối xử" (treatment) thông qua sự im lặng, vốn thịnh hành trong các nhà tù ở châu Âu và Mỹ vào thế kỷ 19, chẳng hạn như trong hệ thống Auburn. "Được sử dụng kể từ các cuộc cải cách nhà tù năm 1835, hình thức im lặng này được dùng trong các nhà tù như một giải pháp thay thế cho trừng phạt thể xác, vì người ta tin rằng việc cấm tù nhân nói chuyện, gọi họ bằng số thay vì tên, và bắt họ che mặt để không nhìn thấy nhau sẽ khuyến khích sự tự kiểm điểm về tội lỗi của họ".[4]

Trong các mối quan hệ giữa các cá nhân

Trong một mối quan hệ, im lặng độc hại có thể là một kiểu mẫu khó phá vỡ và giải quyết vì nếu nó ăn sâu, các mối quan hệ có thể dần dần xấu đi.[5] Im lặng độc hại có nhiều khả năng được sử dụng bởi những cá nhân có lòng tự trọng thấp và khả năng chịu đựng xung đột kém. Để tránh xung đột, một cá nhân sẽ từ chối thừa nhận nó và đôi khi sẽ sử dụng sự im lặng như một cơ chế kiểm soát.[6] Những người thực hiện im lặng độc hại trừng phạt nạn nhân của họ bằng cách từ chối nói chuyện hoặc thậm chí từ chối thừa nhận sự hiện diện của họ. Thông qua sự im lặng, người thực hiện "lớn tiếng" truyền đạt sự không hài lòng, tức giận, buồn bã và thất vọng của họ.[7] Những cảm xúc này có thể khơi gợi phản ứng kém thích nghi từ các nạn nhân có mức độ nhạy cảm với sự từ chối cao, điều này thường có thể dẫn đến bạo lực và các biểu hiện gây hấn về thể chất nhiều hơn.[8][9]

Sự im lặng có chủ đích là một hình thức hành vi tìm kiếm sự chú ý và có thể tạo ra các phản ứng mong muốn, chẳng hạn như sự chú ý, hoặc cảm giác quyền lực từ việc tạo ra sự không chắc chắn cho nạn nhân. Thật không may, việc tránh xung đột dưới hình thức im lặng độc hại gây kiệt quệ về mặt tâm lý cho tất cả các bên liên quan và dẫn đến sự xấu đi không thể cứu vãn của các mối quan hệ lãng mạn và gia đình có ý nghĩa.[10]

Phớt lờ chiến thuật

Im lặng và không phản hồi không chỉ là các hình thức thao túng và tìm kiếm sự chú ý gây hấn thụ động; chúng cũng có thể được sử dụng làm công cụ để thúc đẩy thay đổi hành vi. Phớt lờ chiến thuật (Tactical ignoring) là một chiến lược trong đó một người không đưa ra dấu hiệu bên ngoài nào về việc nhận ra một hành vi, chẳng hạn như không giao tiếp bằng mắt, không phản hồi bằng lời nói hoặc thể chất, hoặc không thừa nhận rằng một tin nhắn đã được đọc.[11] Tuy nhiên, đây là một quá trình rất chủ động vì người đó vẫn nhận thức sâu sắc về hành vi và theo dõi cá nhân kia để quan sát xem họ đã lên kế hoạch gì và đảm bảo an toàn cho họ hoặc cho người khác. Đây là một kỹ thuật thường được sử dụng trong mối quan hệ cha mẹ - con cái[12] và tương tự như im lặng độc hại vì phớt lờ chiến thuật là một kỹ thuật quản lý hành vi, khi được áp dụng đúng cách, có thể truyền tải thông điệp rằng hành vi của một người sẽ không dẫn đến kết quả mong muốn của họ. Nó cũng có thể dẫn đến việc giảm các hành vi không mong muốn.[13]

Phớt lờ chiến thuật có thể là một yếu tố của kế hoạch quản lý hành vi khi có nhiều hành vi thách thức đang được giải quyết. Bởi vì đây là một phương pháp liên quan đến việc không phản hồi lại một hành vi không mong muốn, nên nó cần được bổ sung bằng sự củng cố khác biệt cho một hành vi thay thế, như thấy trong đào tạo giao tiếp chức năng, một quy trình để dạy một hành vi tìm kiếm sự chú ý phù hợp hơn.[14]

Đọc thêm

  • The “silent treatment”. Its incidence and impact. Paper presented at the sixty-ninth Annual Midwestern Psychological Association, Chicago, IL. Ferguson, M., and .. 1997
  • Kipling D. Williams Wendelyn J. Shore Jon E. Grahe. The silent treatment: Perceptions of its behaviors and associated feelings – Group Processes Intergroup Relations October 1998 vol. 1 no. 2 117–141
  • Zadro, L., Richardson, R., & Williams, K. D. (2006, January). The antecedents of interpersonal ostracism: Do individual differences predict propensity to be a target or source of the silent treatment? Presented at the 7th annual meeting of the Society for Personality and Social Psychology, Palm Springs, CA.
  • Grahe, J. E., Shore, W. J., & Williams, K. D. (1997, May). Perceptions of the behaviors and feelings associated with the “silent treatment.”Presented at the 69th Annual Midwestern Psychological Association, Chicago.
  • Faulkner, S, Williams, K., Sherman, B., & Williams, E. (1997, May). The “silent treatment:” Its incidence and impact. Presented at the 69 th Annual Midwestern Psychological Association, Chicago.[Summarized in New Scientist, 1998, April, p. 18]

Tham khảo

  1. Booth, Sally Scollay (2017). "Planned Ignoring". The Challenge of Teaching. tr. 181–187. doi:10.1007/978-981-10-2571-6_25. ISBN 978-981-10-2569-3. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2016.
  2. Braiker, Harriet B. (2004). Who's Pulling Your Strings ? How to Break The Cycle of Manipulation. McGraw Hill Professional. ISBN 0-07-144672-9.
  3. Pearson, Catherine; Dunn, Jancee (ngày 2 tháng 7 năm 2025). "The Best Relationship Advice We've Heard So Far This Year". The New York Times (bằng tiếng Anh). ISSN 0362-4331. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2025. Some people think that using the silent treatment is a benign way of dealing with conflict, said Dr. Gail Saltz, a clinical associate professor of psychiatry at the NewYork-Presbyterian Hospital. It isn't, she explained. "The silent treatment is a punishment, whether you are acknowledging that to yourself or not," she said.
  4. London, The Kolberg Partnership. "London's Most Notorious Prisons – Page – Life In London Magazine – All In London". Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2016.
  5. USA Today (August 3, 2014) Silent treatment speaks volumes about a relationship
  6. Rittenour, Christine E.; Kromka, Stephen M.; Saunders, Russell Kyle; Davis, Kaitlin; Garlitz, Kathryn; Opatz, Sarah N.; Sutherland, Andrew; Thomas, Matthew (ngày 2 tháng 1 năm 2019). "Socializing the Silent Treatment: Parent and Adult Child Communicated Displeasure, Identification, and Satisfaction". Journal of Family Communication. 19 (1): 77–93. doi:10.1080/15267431.2018.1543187. ISSN 1526-7431. S2CID 149541777.
  7. Gregory L. (2009) Healing the Scars of Emotional Abuse
  8. Cain, Nicole M.; De Panfilis, Chiara; Meehan, Kevin B.; Clarkin, John F. (ngày 2 tháng 1 năm 2017). "A Multisurface Interpersonal Circumplex Assessment of Rejection Sensitivity". Journal of Personality Assessment. 99 (1): 35–45. doi:10.1080/00223891.2016.1186032. ISSN 0022-3891. PMID 27292201. S2CID 24364760.
  9. "Silent Treatment Là Gì, Biểu Hiện Thường Gặp Và Cách Xử Lý?" (bằng tiếng Anh). ngày 12 tháng 9 năm 2024. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2026.
  10. Williams, Kipling D (2002). Ostracism: The power of silence. Guilford.
  11. Phong, Báo điện tử Tiền (ngày 15 tháng 8 năm 2025). "Silent treatment trong tình yêu, 'bức tường' vô hình phá vỡ mối quan hệ". Báo điện tử Tiền Phong. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2026.
  12. "Ignoring | Consequences | Essentials | Parenting Information | CDC". www.cdc.gov (bằng tiếng Anh). ngày 8 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2022.
  13. Gable, R. A., Hester, P. H., Rock, M. L., & Hughes, K. G. (2009). "Back to basics: Rules, praise, ignoring, and reprimands revisited". Intervention in School and Clinic. 44 (4): 195–205. doi:10.1177/1053451208328831. S2CID 145420670.{{Chú thích tập san học thuật}}: Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)
  14. Carr, Edward G.; Durand, V. Mark (Summer 1985). "Reducing behavior problems through functional communication training". Journal of Applied Behavior Analysis. 18 (2): 111–126. doi:10.1901/jaba.1985.18-111. PMC 1307999. PMID 2410400.

Liên kết ngoài