Bước tới nội dung

Hôn và khóc

khu vực trong sân trượt băng nghệ thuật khi các vận động viên nhận được điểm số của mình
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Khu vực hôn và khóc tại Chung kết Grand Prix Trượt băng nghệ thuật 2022

Khu vực hôn và khóc hay có thể gọi là khu vực vừa hôn vừa khóc (tiếng Anh: kiss and cry) là một khu vực trong sân trượt băng nghệ thuật nơi các vận động viên trượt băng nghệ thuật ngồi chờ đợi điểm số của mình được công bố sau khi biểu diễn xong bài thi trong một cuộc thi/giải đấu trượt băng nghệ thuật.[1] Nó được đặt tên như vậy là bởi các vận động viên và huấn luyện viên thường sẽ ôm hôn nhau để ăn mừng sau một bài biểu diễn tốt, hoặc khóc nhằm thể hiện cảm xúc thất vọng sau một bài biểu diễn tệ. Khu vực này thường nằm ở góc hoặc cuối sân và được trang bị một băng ghế hoặc nhiều chiếc ghế dài cho các vận động viên, huấn luyện viên và người giám sát để hiển thị kết quả thi đấu. Nó thường được trang trí công phu với hoa hoặc một số phông nền khác để phục vụ việc ghi hình và chụp ảnh các vận động viên khi họ phản ứng với phần biểu diễn và điểm số của mình.

Thuật ngữ này được Jane Erkko [fi], một quan chức trượt băng nghệ thuật người Phần Lan, là thành viên trong ban tổ chức của Giải Vô địch Trượt băng nghệ thuật Thế giới 1983 được tổ chức tại thủ đô Helsinki, đặt ra. Erkko đã nghĩ ra tên gọi này khi các kỹ thuật viên truyền hình, những người đang lập sơ đồ các khu vực sân trượt băng trước khi giải đấu diễn ra, muốn biết khu vực đó nên được gọi là gì.[2][3] Khu vực chờ đợi ngoài sân băng chính thức đầu tiên ở Thế vận hội đã xuất hiện từ kỳ Sarajevo 1984 diễn ra tại Bosna và Hercegovina, Nam Tư cũ.[4] Thuật ngữ tiếng Anh "kiss and cry" bắt đầu được sử dụng rộng rãi vào đầu những năm 1990 và hiện là một phần chính thức trong Quy chế của Liên đoàn Trượt băng Quốc tế.[5] Việc hiển thị khu vực hôn và khóc đã cá nhân hóa môn trượt băng nghệ thuật và giúp bộ môn này trở nên phổ biến và dễ nhận diện hơn trong các sự kiện Thế vận hội được phát sóng trên truyền hình.[4] Nhiều liên đoàn trượt băng nghệ thuật quốc gia, thậm chí còn đào tạo các vận động viên của mình về cách họ nên xuất hiện và phản ứng trước máy quay trong khi ngồi chờ đợi.[4]

Một số giải đấu thể dục dụng cụ hiện cũng đã có khu vực hôn và khóc.[6]

Tham khảo Hôn và khóc

  1. "kiss-and-cry area" definition from Double-Tongued Dictionary
  2. Sonia Bianchetti Garbato, Cracked Ice. ISBN 88-86753-72-1. pp. 45–56
  3. Erkko, coiner of 'kiss and cry,' passes away at 78
  4. 1 2 3 Macur, Juliet (ngày 22 tháng 2 năm 2010). "After Skating, a Unique Olympic Event: Crying". The New York Times. tr. A1. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2012.
  5. "Constitution and General Regulations". International Skaters Union. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2012.
  6. "Gymnastics Adds 'Kiss and Cry' Score Zone".