Bước tới nội dung

Huệ phi (Khang Hy)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Thanh Thánh Tổ Huệ phi
清聖祖惠妃
Khang Hi Đế phi
Thông tin chung
Mất7 tháng 4 năm 1732
An tángPhi viên tẩm của Cảnh lăng
Phu quânThanh Thánh Tổ
Khang Hi Hoàng đế
Hậu duệ
Tước hiệu[Huệ tần; 惠嬪]
[Huệ phi; 惠妃]
Thân phụTác Nhĩ Hòa

Huệ phi Ô Lạp Na Lạp thị (chữ Hán: 惠妃乌喇纳喇氏; ? - 7 tháng 4 năm 1732), Bao y Chính Hoàng kỳ[1], cũng gọi Nạp Lạt thị (纳喇氏), là một trong những phi tần đầu tiên của Thanh Thánh Tổ Khang Hi Đế.

Thân thế

Huệ phi xuất thân từ họ Na Lạp thị nhánh quốc chủ Ô-Cáp (Na Lạp thị nhánh Nạp Tề Bố Lộc), cùng tộc với Đại phi của Thái Tổ, Kế phi của Thái Tông, Thông tần của Thánh Tổ, Hiếu Kính Hiến Hoàng hậu. Cháu nội của Nạp Tề Bố Lộc tên là Giai Mục Khách Thạc Châu Cổ (佳穆喀硕珠古), ông sinh được 4 người con trai, hậu duệ của con trai đầu Đô Lặc Hy (都勒希) hình thành bộ tộc Ô Lạp, tức là gia tộc quốc chủ bộ tộc Ô Lạp. Đô Lặc Hy sinh được 3 người con trai, con trai đầu tên là Ngạch Hòa Tang Cốc (额和桑谷), con trai thứ 2 tên là Khố Thân Thăng Cổ Lộc (库绅升古禄), con trai thứ 3 tên là Cổ Đối Chu Yến (古对朱燕). Cổ Đối Chu Yến sinh được 2 người con trai, con trai đầu tên là Đài Phí Khách (台费喀), con trai thứ 2 tên là Thái Lan (泰兰), sau này quốc chủ Ô Lạp do hậu duệ của Thái Lan đảm nhiệm, còn Huệ phi là cháu 4 đời của Đài Phí Khách. Tính theo vai vế anh em họ, Huệ phi là cháu họ (gọi bằng bác gái họ) của Đại phi của Thái Tổ và Hiếu Kính Hiến Hoàng hậu, cháu họ (gọi bằng bà cô họ) của Kế phi của Thái Tông, cô họ (trong phạm vi 5 đời) của Thông tần của Thánh Tổ, đều đã ra khỏi 5 đời.

Chi họ Ô Lạp Na Lạp thị của Huệ phi tuy cùng tộc với quốc chủ Ô Lạp, nhưng thân phận địa vị có hạn, đầu đời Thanh được biên vào Bao y kỳ tịch Chính Hoàng kỳ, hiện tại chưa rõ thuộc người dưới quyền Bao y Tá lĩnh hay Bao y Quản lĩnh. Cha của Huệ phi tên là Tác Nhĩ Hòa, vào triều Khang Hy nguyên nhậm chức Tư khố, sau thăng đến Lang trung, là quan viên trung cấp của Nội vụ phủ. Gia tộc Huệ phi sau này có được nâng ra khỏi Bao y kỳ tịch hay không, hiện tại vẫn chưa rõ.[2]

Trong các nghiên cứu trước đây, do dã sử 《Vĩnh Hiến lục》 (《永宪录》) từng đề cập "Minh Châu, Võ Anh điện Đại học sĩ Thái tử Thái phó kiêm Lễ bộ Thượng thư, chuyên quyền nắm sự vụ trong khoảng năm Khang Hy thứ 20, em gái làm Quý phi, sinh Hoàng trưởng tử"[3], gọi Huệ phi là em gái của Đại học sĩ Minh Châu họ Diệp Hách Na Lạp thị, các học giả dựa vào đó tham khảo gia phả của Minh Châu, cho rằng cha của Huệ phi là Tác Nhĩ Hòa chính là Tác Nhĩ Hòa con trai bác của Minh Châu, vậy Huệ phi là cháu họ của Minh Châu. Trên thực tế, theo sử liệu ghi lại, anh họ của Minh Châu là Tác Nhĩ Hòa ban đầu nhậm chức Lang trung, sau kế thừa tước Nhị đẳng Nam và Thế quản Tá lĩnh, làm quan đến chức Lại bộ Thị lang, qua đời vào tháng 11 năm Thuận Trị thứ 11 (1654). Mà Huệ phi trong 《Ngọc điệp》 (《玉牒》) năm Khang Hy thứ 45 (1706) vẫn được ghi là "con gái của Tư khố Tác Nhĩ Hòa họ Na Lạp thị"[4], trong 《Ngọc điệp》 sau đó mới được ghi là "con gái của Lang trung Tác Nhĩ Hòa họ Na Lạp thị"[5], có thể biết cha của Huệ phi là Tác Nhĩ Hòa vào giữa triều Khang Hy nguyên nhậm chức Tư khố, đến cuối triều Khang Hy mới thăng nhậm chức Lang trung, trùng tên với anh họ Tác Nhĩ Hòa của Minh Châu, nhưng tình hình làm quan hoàn toàn khác nhau, không phải cùng một người.

Đại Thanh tần phi

Thời gian Huệ phi vào cung hiện tại vẫn chưa rõ. Từ ghi chép của 《Tấu tiêu đương》 (《奏销档》) Nội vụ phủ triều Khang Hy, ít nhất vào năm Khang Hy thứ 2 (1663) và Khang Hy thứ 5 (1666), Hiếu Trang Văn Hoàng hậu đều tuyển chọn nữ tử Nội vụ phủ cho Thánh Tổ, Huệ phi có thể được tuyển vào cung trong giai đoạn này. Huệ phi sau khi vào cung, có từng đảm nhiệm Quan nữ tử hay không, được Thánh Tổ thu làm hậu cung chủ vị vào lúc nào, trong tình huống nào, hiện tại đều không rõ.

Ngày 28 tháng 7 năm Khang Hy thứ 8 (1669), Hiếu Trang Văn Hoàng hậu hạ đạt chỉ ý, tăng thêm số lượng gấm vóc được ban cho các vị Thứ phi dưới trướng Thánh Tổ. Trong đó, ngoài Vinh phi và Thứ phi Trương thị đã sinh con cái lần lượt được thăng lên 20 tấm gấm và 18 tấm gấm, còn có 5 vị Cách cách được thăng lên 12 tấm gấm, lần lượt tên là "Cách Lan Châu", "Ô Nãi", "An Tỷ", "Hoa Tắc", "Quan Tỷ"[6]. Trong 5 vị Cách cách này, đã biết "Cách Lan Châu" và "Ô Nãi" đều được Hiếu Trang Văn Hoàng hậu tuyển chọn vào cung năm Khang Hy thứ 2 (1663), trong đó "Ô Nãi" tức là Đoan tần Đổng thị, "Cách Lan Châu" là con gái của Cách Lặc, đều không phải là Huệ phi. Cân nhắc đến việc lúc đó Huệ phi đã mang thai, số lượng gấm vóc được ban chắc chắn không thấp hơn Đoan tần và những người khác, do đó suy đoán bà chính là một trong 3 vị Cách cách "An Tỷ", "Hoa Tắc", "Quan Tỷ".

Năm Khang Hy thứ 9 (1670) nhuận tháng 2 và Khang Hy thứ 11 (1672) tháng 2, Huệ phi lần lượt sinh hạ 2 vị Hoàng tử cho Thánh Tổ, trong đó con trai đầu Thừa Khánh (承庆) chết yểu vào năm Khang Hy thứ 10 (1671), con trai thứ 2 Doãn Thì xếp thứ tự là Đại A ca. Sau khi sinh hạ Hoàng tử, Huệ phi được thăng làm Tiểu Phúc tấn, là một trong 4 vị Tiểu Phúc tấn dưới trướng Thánh Tổ vào năm Khang Hy thứ 10 (1671)[7], vị phân cấp bậc thấp hơn Trữ Tú cung Cách cách và 6 vị Cách cách Ngoại Bát kỳ mới vào cung.

Năm Khang Hi thứ 16 (1677), sách thăng Tần vị, phong hiệu Huệ tần (惠嬪).[8] Theo cách Khang Hi Đế gửi thư cho 4 vị Phi, có lẽ Huệ tần cư ngụ Diên Hi cung (延禧宮).[9] Trong cung, sau cái chết của Hiếu Chiêu Nhân Hoàng hậu, Na Lạp thị gần như trở thành người đứng đầu. Suốt nhiều năm sau, bà cùng Khang Hi Đế lo việc nội đình, cũng thập phần tâm đắc, cùng trải qua 8 năm Loạn tam phiên căng thẳng.

Năm Khang Hi thứ 20 (1681), tháng 12, Khang Hi Đế đại phong hậu cung, lấy Đại học sĩ Lý Úy (李霨) càm Tiết, sách phong Huệ tần Na Lạp thị trở thành Huệ phi (惠妃).[10]

Sách văn viết:

Khi ấy, Na Lạp thị là người đứng đầu Tứ phi, trên: Nghi phi Quách Lạc La thị, Đức phi Ô Nhã thị và Vinh phi Mã Giai thị. Theo ý chỉ của Hiếu Trang Văn Hoàng hậu, Huệ phi cùng Vinh phi giữ bổn phận chủ trì mọi việc trong nội đình. Do địa vị của mẹ, cũng như thân phận Trưởng tử, Dận Thì có ý tranh đoạt với Thái tử Dận Nhưng, đứa con do Hiếu Thành Nhân Hoàng hậu Hách Xá Lý thị sinh ra.

Khang Hi Đế giá băng, Huệ phi từng được Liêm Thân vương Dận Tự phụng dưỡng ở phủ đệ, do khi vừa được Lương phi sinh ra thì Khang Hi Đế đem Dận Tự cho Huệ phi nuôi dưỡng. Sau Dận Tự bị tội, Huệ phi lại trở về trong cung sống. Năm Ung Chính thứ 10 (1732), ngày mồng 7 tháng 4, Huệ phi qua đời, hưởng thọ khoảng 80 tuổi. Tháng 9 năm đó, bà được nhập Cảnh lăng Phi viên tẩm.

Tương quan

Sau khi Ngao Bái bị diệt, Na Lạp thị gia tộc hưng thịnh. Tuy không rõ bà nhập cung khi nào, nhưng đều ghi sơ lược bà là Thứ phi, không rõ phong hiệu. Khi Khang Hi Đế phong Hiếu Chiêu Nhân Hoàng hậu Nữu Hỗ Lộc thị làm Kế Hậu, Na Lạp thị cùng Mã Giai thị ở trong cung phụ trợ Kế Hậu việc nội cung, là do đích thân Hiếu Trang Thái hoàng Thái hậu cho phép, địa vị không thể xem thường.

Theo suy đoán, Huệ phi đương thời rất có khả năng trú tại Diên Hi cung (延禧宮),[11] mà trong thư từ Khang Hi Đế gửi đến Diên Hi cung phi (延禧宮妃), Hoàng đế lệnh Diên Hi cung phi hỗ trợ cung cấp quần áo cho các Thường tại trẻ tuổi ở trong cung, như vậy có thể phán đoán ra Huệ phi địa vị trong cung căn bản là đủ tư cách chăm lo các phi tần thấp, nhìn ra được địa vị của bà không hề thấp. Đến đây phần nhiều cũng chỉ là suy đoán, nhưng Huệ phi có danh nghĩa là mẹ đẻ của Hoàng trưởng tử, cộng thêm tư lịch là một trong những tần phi vào cung sớm nhất của Khang Hi Đế, phán đoán này rất có cơ sở.

Năm Khang Hi thứ 47 (1708), Dận Thì bị hoạch tội, suýt nữa bị giết chết. Huệ phi Na Lạp thị dâng thư nói rằng Dận Thì từ nhỏ không hiếu thuận, Khang Hi Đế thuận nước đẩy thuyền, đưa Dận Thì đến chỗ mẫu thân mình bế môn tự trách, từ đó không phải chịu tội chết. Huệ phi đã tuyệt đỉnh thông minh, cứu lấy con mình mà cũng bảo toàn địa vị của mình không bị liên lụy như thế.

Hậu cung bài tự

Căn cứ 《Khâm định đại thanh hội điển tắc lệ》cuốn 42, hậu phi bài vị trình tự ghi lại:[12]

Văn hóa đại chúng

NămTên phimDiễn viênTên nhân vật
2001Khang Hi vương triềuCung Tuyết HoaHuệ phi
2005Khang Hi bí sửThạch Tiểu QuầnNạp Lạt Huệ Nhi
2011Tử Cấm kinh lôiVương Quân HinhNhan Ánh Tuyết
2013Cung toả trầm hươngTrương Nhã ManhHuệ phi
2016Tịch mịch không đình xuân dục vãnVương Nhược TâmNạp Lan Huệ
2022Thiên hạ trường hàBốc Chỉ DiệcHuệ Phi

Xem thêm

Tham khảo

  1. 《清代后妃杂识》: 圣祖惠妃,正黄旗包衣乌喇纳喇氏,郎中索尔和之女。康熙初年被选入宫中,属格格级。原服缎疋数不明。康熙八年七月二十八日,晋升为服十二匹缎。康熙九年闰二月初二日,生第三子承庆;同年,晋封为小福晋级。康熙十一年二月十四日,生第五子固山贝子品级允禔。康熙十六年五月二十四日,诏封为惠嫔。同年八月二十二日,以侍郎富鸿基为使,册封为惠嫔。康熙二十年十月二十五日,诏晋为惠妃。同年十二月二十日,以大学士李霨为使,册封为惠妃。雍正元年六月,获准出宫,移居于和硕廉亲王允禩府邸。雍正四年(1726年),因和硕廉亲王允禩获罪,回宫居住。雍正十年(1732年)四月初七日薨。同年九月,奉安景陵妃园寝。
  2. 此段乌喇纳喇氏谱系,整理自《八旗满洲氏族通谱》《那氏宗谱》《佛满洲家谱精选·辽宁卷》《清代谱牒档案(缩微胶卷)》。
  3. 萧奭:《永宪录》,北京:中华书局,1997年点校本,第191页。
  4. 杨启樵:《揭开雍正皇帝隐秘的面纱》,上海:上海书店,2002年,书影第8、9页。
  5. 《汉文列祖子孙直档玉牒》,中国第一历史档案馆编:《清代谱牒档案(缩微胶卷)》C69。
  6. 《口奏及绿头牌档案》,康熙八年八月初一日条,中国第一历史档案馆编:《内务府奏销档(缩微胶卷)》。
  7. 《口奏绿头牌及白头本档案》,康熙十年七月十一日条,中国第一历史档案馆编:《内务府奏销档(缩微胶卷)》。
  8. 《清实录·清圣祖实录·卷之六十八》康熙十六年......八月......○丙寅。上御太和殿。遣大学士索额图、为正使。大学士李霨、为副使。持节授妃钮祜卢氏册宝。立为皇后......遣大学士觉罗勒德洪、持节授佟氏册宝。封为贵妃。遣尚书吴正治、侍郎额星格、杨正中、马喇、富鸿基、学士项景襄、李天馥等、持节授册封李氏为安嫔,王佳氏为敬嫔,董氏为端嫔,马佳氏为荣嫔,纳喇氏为惠嫔,郭罗洛氏为宜嫔,何舍里氏为僖嫔......
  9. Chi tiết: 康熙帝三十五年曾给自己的后妃写过书信,他在书信中排列他的后妃的顺序为:延禧宫妃、翊坤宫妃、永和宫妃及钟粹宫妃。目前已知翊坤宫为宜妃居住宫殿,永和宫为德妃居住宫殿,翊坤宫和永和宫恰好对应在书信排列顺序的第二第三位。根据四妃的排位顺序"惠宜德荣",惠妃居首,康熙帝又是个严格按照长幼、地位高低排位来书写的人,因此可以推断惠妃在康熙朝居延禧宫,荣妃为钟粹宫妃。(荣妃排位在四妃最末,而且康熙三十五年大阿哥和三阿哥都受到皇父的重视和宠爱,康熙帝当没有理由将四妃之首列在最末,反将排在最末的荣妃列于首位。但目前尚没有发现惠妃确定居于延禧宫的资料,因此是根据四妃排位顺序和康熙帝行文习惯来进行推测。)
  10. 《清实录·清圣祖实录·卷之九十九》康熙二十年。辛酉。十二月......○命大学士勒德洪、持节进封贵妃佟氏、为皇贵妃......○命大学士李霨、持节进封惠嫔纳喇氏。为惠妃。册文曰、朕惟治本齐家、茂衍六宫之庆。职宜佐内、备资四德之贤。恪恭久效于闺闱。升序用光以纶綍。咨尔惠嫔纳喇氏。柔嘉成性。淑慎持躬。动谐珩佩之和、克娴于礼。敬凛夙宵之节、靡懈于勤。兹仰承太皇太后慈谕、以册印、进封尔为惠妃。尔其祗膺晋秩、副象服之有加。懋赞坤仪、迓鸿庥之方至。钦哉。尚书吴正治、持节进封宜嫔郭罗洛氏、为宜妃。册文同......
  11. 康熙帝三十五年曾给自己的后妃写过书信,他在书信中排列他的后妃的顺序为:延禧宫妃、翊坤宫妃、永和宫妃及钟粹宫妃。目前已知翊坤宫为宜妃居住宫殿,永和宫为德妃居住宫殿,翊坤宫和永和宫恰好对应在书信排列顺序的第二第三位。根据四妃的排位顺序"惠宜德荣",惠妃居首,康熙帝又是个严格按照长幼、地位高低排位来书写的人,因此可以推断惠妃在康熙朝居延禧宫,荣妃为钟粹宫妃。(荣妃排位在四妃最末,而且康熙三十五年大阿哥和三阿哥都受到皇父的重视和宠爱,康熙帝当没有理由将四妃之首列在最末,反将排在最末的荣妃列于首位。但目前尚没有发现惠妃确定居于延禧宫的资料,因此是根据四妃排位顺序和康熙帝行文习惯来进行推测。)
  12. Năm Càn Long 29, Dận Đào biên soạn. Đài Loan thương vụ ấn thư quán xuất bản năm 1986.