Hoàng Việt luật lệ
Hoàng Việt luật lệ hay còn được biết đến với tên Hoàng triều luật lệ, Quốc triều điều luật, Nguyễn triều hình luật, bộ luật Gia Long là bộ luật chính thức của Việt Nam thời đầu nhà Nguyễn do Bắc thành Tổng trấn Nguyễn Văn Thành soạn thảo và vua Gia Long cho ban hành năm 1813.[1] Bộ luật này có nội dung sao chép gần như nguyên vẹn "Đại Thanh luật lệ" của nhà Thanh (Trung Quốc)[2]
Lịch sử
Vua Gia Long sau khi lên ngôi để có cơ sở về luật pháp, lệnh cho Nguyễn Văn Thành, Vũ Trinh, Trần Hựu dựa vào Đại Thanh luật lệ và Luật Hồng Đức làm cơ sở soạn bộ luật cho triều Nguyễn có tên gọi là Hoàng Việt luật lệ (còn được gọi là Luật Gia Long), gồm 22 quyển và 398 điều[3] sau đó vua Gia Long cho ban hành chính thức vào năm 1813. Bộ luật này gần như lấy nguyên mẫu là luật nhà Thanh[4] Trong 398 điều thì chỉ có 2 điều là rút từ Quốc triều Hình luật thời Hậu Lê, vài chục điều luật khác biệt chút ít về từ ngữ so với luật của nhà Thanh, các điều luật còn lại đều sao chép lại nguyên xi tên gọi lẫn nội dung kể cả các tiểu chú của các điều luật trong "Đại Thanh luật lệ"[2]
Giống như "Đại Thanh luật lệ", Hoàng Việt luật lệ ngoài quyển đầu là mục lục các điều luật, bảng (hay đồ), thể lệ về phục tang, diễn giải thuật ngữ, các quyển còn lại được chia thành 6 thể loại, tương ứng với việc của 6 bộ: Lại, Bộ, Lễ, Binh, Hình, Công. Ngoài ra, cách trình bày in ấn của"Hoàng Việt luật lệ" cũng giống với bộ luật nhà Thanh. Một số điều luật trong "Hoàng Việt luật lệ" đã lược bỏ, thay đổi một số tiểu tiết của luật nhà Thanh cho phù hợp với cách gọi tại Việt Nam (Một số điều luật thay đổi đơn vị hành chính "tỉnh" của Trung Quốc thành "doanh, trấn" của Việt Nam, chức danh lý trưởng của Trung Quốc bằng xã trưởng của Việt Nam).
Hoàng Việt luật lệ được sử dụng trong suốt thời nhà Nguyễn rồi dùng tiếp ở Trung Kỳ trong thời Thực dân Pháp chiếm đóng Việt Nam.[5]
Sắp xếp nội dung
Bộ luật này có 398 điều và 30 điều tỷ dẫn,[6] chép trong 22 cuốn. Có sáu thể loại do ứng với việc sáu Bộ Lại, Công, Lễ, Hộ, Binh, Hình phụ trách. Chi tiết như sau:
- Cuốn thứ 1: mục lục điều luật, bảng (hay đồ), thể lệ về trang phục tang, diễn giải thuật ngữ
- Cuốn thứ 2 và 3: 45 điều danh lệ
- Cuốn thứ 4 và 5: 27 điều lại luật
- Cuốn thứ 6, 7 và 8: 66 điều hộ luật
- Cuốn thứ 9: 26 điều lễ luật
- Cuốn thứ 10 và 11: 58 điều binh luật
- Cuốn thứ 12 đến 20: 166 điều hình luật
- Cuốn thứ 21: 10 điều công luật
- Cuốn thứ 22: dẫn điều luật
Nội dung
Hoàng Việt luật lệ được xây dựng trên cơ sở khảo xét, tham chiếu bộ luật Hồng Đức (tức Quốc triều Hình luật, là bộ luật của nhà Lê), nhưng chủ yếu là mượn bộ luật của nhà Thanh, dù đã được chỉnh sửa và cập nhật cho phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam lúc bấy giờ.[7] Trong 398 điều thì 397 là chép lại Đại Thanh luật lệ. Chỉ có một điều là rút từ Quốc triều Hình luật.[6]. Luận án tại Đại học Vũ Hán của TS. Nguyễn Thị Thu Thủy có cho biết rõ: Nguyễn triều hình luật (tức luật Gia Long) không "sao chép nguyên xi, mù quáng" của nước Đại Thanh, mà bộ Luật nhà Nguyễn đã được chỉnh sửa, xử lý để phù hợp với thực tiễn Việt Nam thời ấy. Hoàng Việt luật lệ có sự kế thừa một số quy định nhân đạo của Bộ luật Hồng Đức của nhà Hậu Lê, đồng thời phát triển một số quy chế truyền thống ở trình độ cao hơn.[8] Học giả Vũ Văn Mẫu nhận xét "bộ luật ấy như một bộ áo Tàu may cho một người dân Việt, để phục sức trong xã hội Việt Nam".
Bảng (hay đồ): quy định về việc xử lý đối với những tài sản bất hợp pháp. Thể lệ nộp phạt chuộc tội, chí tiết về ngũ hình, các dụng cụ dùng trong tù, và trang phục tang chế. Danh lệ quy định về những nguyên tắc tổng quát về tội phạm và hình thức trừng phạt. Phần dẫn đều luật dùng để hướng dẫn việc so sánh các hình phạt và vận dụng luật trong trường hợp vụ việc mà luật không quy định tới. Hộ luật là các luật về hộ tịch, tài sản, hôn nhân, thuế, nợ nần, tiền chợ búa.
Bộ luật Gia Long có chứa đựng những định chế phân loại phạm nhân dựa trên lý lịch, địa vị và đối tượng yếu thế. Các quy định về "Bát nghị" cho phép giảm nhẹ hình phạt cho tám loại người dựa trên cống hiến, tài năng hoặc địa vị xã hội.[9] Đối với người già, trẻ em, người tàn tật và phụ nữ có thai, pháp luật có những quy định nương nhẹ như cho phép dùng tiền chuộc tội hoặc hoãn thi hành án tử hình cho đến sau khi sinh con.[9]
So với các bộ luật nhà Thanh, bộ luật này có sự giảm nhẹ hình phạt, các cực hình trong luật nhà Thanh như: Tru di tam tộc, Lăng trì, Yêm,... đều hoàn toàn bị loại bỏ trong bộ Hoàng Việt luật lệ này.[8] Ngoài ra, sự điều chỉnh của bộ luật còn thấy rõ qua từng phiên tòa mở trong năm (trừ các tội Mưu phản, Đại phản nghịch, Đạo tặc...). Theo luật, các phiên xử thường tổ chức vào đầu mùa thu chứ không mở vào đầu mùa hè vì nắng nóng sẽ ảnh hưởng xấu đến việc buộc tội của các phán quan. Nếu phiên tòa xử trong mùa thu năm nay mà chưa có phán quyết cuối cùng thì phải đợi đến mùa thu năm tới mới quyết án chung thẩm (gọi là Thu thẩm). Nếu tội nhân bị án tử hình (giam chờ để chống án hoặc xin ân xá hay chờ thỉnh ý vua) thì cũng phải đợi đến mùa thu khi có phiên tòa mới xử chung thẩm. Việc mở phiên tòa vào mùa thu là một điểm đáng chú ý của bộ luật này, thể hiện sự điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện của Việt Nam.[8]
Luật Gia Long quy định rất ngặt và xử lý nghiêm các trường hợp tham nhũng nhận tiền của hối lộ, bắt dân phải nộp tiền... phạm vào mức nào thì căn cứ vào luật mà xét xử. Những viên quan nào đến mức bị tước bỏ bằng, sắc, cáo của vua ban và bị xóa tên trong sổ bộ quan là bị bãi chức hoàn toàn. Còn lại tùy thuộc vào số lượng tiền của nhận hay chưa nhận mà có hình thức trách tội khác như lưu đày, đồ, bãi nhiệm, đánh đòn...[8]
Đối với điều luật về việc tuyển phi cho vua, Hoàng Việt luật lệ giữ nguyên các điều luật từ thời xưa mà không có thay đổi nào. Đó là độ tuổi tuyển phi từ 13 đến 16 tuổi (trừ các cuộc hôn nhân chính trị, tuy nhiên vẫn chưa ghi nhận trường hợp nào vi phạm điều luật trên vì hôn nhân chính trị).
Mặc dù chịu nhiều ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo trọng nam khinh nữ, nhưng trong Luật Gia Long vẫn có một số điều quy định chú ý phần nào đến quyền lợi phụ nữ. Luật quy định rằng "người nào dùng lời thô tục dâm đãng làm cho người đàn bà xấu hổ mà tự tử thì phải xử đến hình giảo giam hậu". Bộ luật còn cấm quan lại lấy đàn bà, con gái ở địa phương nơi mình đương chức nhằm tránh sự lạm dụng quyền thế của các quan để cưỡng bức con gái nhà lành, quan lại thiên vị nhà vợ hoặc gia đình nhà gái lợi dụng hôn nhân chi phối quan quyền.[10] Bộ luật cũng nghiêm cấm và có những hình phạt đối với những hành vi lừa gạt để kết hôn. Quyển 7 Hộ luật hôn nhân, Điều 12 Cưỡng chiếm lương gia thê nữ viết rằng: "Cưỡng đoạt vợ con gái nhà lành bán cho người khác làm thê thiếp, hay đem dâng cho vương phủ, cho nhà huân công hào thích thì đều bị xử giam chờ thắt cổ". Hay trong quyển 7 mục Hộ luật hôn nhân, Điều 15 Xuất thê viết rằng: "Nếu chồng bỏ vợ đi biệt 3 năm, trong thời gian ấy không báo quan biết, rồi bỏ đi thì phạt 80 trượng, tự ý cải giá thì phạt 100 trượng".
Xem thêm
- Luật nhà Hậu Lê
- Luật Hồng Đức
- Quốc triều khám tụng điều lệ
- Luật khác thời Nguyễn
- Hội điển toát yếu
- Khâm định Đại Nam Hội điển sự lệ
- Minh Mệnh chính yếu
- Đại Nam điển lệ toát yếu
Chú giải
- ↑ Lịch sử Việt Nam tập 5 (Quốc sử),Trương Thị Yến (chủ biên), NXB KHXH, 2017: "Hoàng Việt luật lệ được khắc in, ban hành và áp dụng vào thực tiễn năm 1813 trên phạm vi toàn quốc"
- 1 2 "Bản sao đã lưu trữ". Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2019.
- ↑ Đặng Việt Thủy & Đặng Thành Trung 2008, tr. 283
- ↑ Trần Trọng Kim 1971, tr. 177
- ↑ Lương Ninh 2000, tr. 299-318
- 1 2 Nguyễn Ngọc Huy. Quốc triều Hình luật Quyển A. Viet Publisher, 1989. tr 177
- ↑ Nguyễn Quyết Thắng: Lược khảo Hoàng Việt Luật lệ, Nhà xuất bản Văn hoá Thông tin, Hà Nội, 2002, tr 15, 16
- 1 2 3 4 Vũ Tú (ngày 14 tháng 7 năm 2025). "Vũ Trinh và bộ Nguyễn triều hình luật". Tạp chí Luật sư Việt Nam. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2026.
- 1 2 Nguyễn Thị Thanh Thủy (ngày 25 tháng 11 năm 2020). "Pháp luật Việt Nam thời trung đại từ điểm nhìn quan hệ giới". Tạp chí Văn hóa nghệ thuật. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2026.
- ↑ Hoàng Văn (ngày 23 tháng 6 năm 2018). "Chuyện ít biết về bộ luật Gia Long tiên phong bảo vệ phụ nữ". Đời sống pháp luật (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2026.
Thư mục
- Trần Trọng Kim (1971), [[Việt Nam sử lược]], quyển 2, Sài Gòn: Trung tâm Học liệu Xuất bản thuộc Bộ Giáo dục, Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 8 năm 2018, truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2008
{{Chú thích}}: URL chứa liên kết wiki (trợ giúp) - Đặng Việt Thủy; Đặng Thành Trung (2008), 54 vị Hoàng đế Việt Nam, Hà Nội: Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân
- Lương Ninh (2000), Lịch sử Việt Nam giản yếu, Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia