Bước tới nội dung

Hoàn Nhan Hặc Lý Bát

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Hoàn Nhan Hặc Lý Bát
完顏劾里鉢
Thông tin chung
Sinh1039
Mất1092
An tángVĩnh lăng
Phối ngẫuxem văn bản
Hậu duệxem văn bản
Hoàng tộcnhà Kim
Thân phụHuệ Hoàn Hoàng đế Hoàn Nhan Ô Cốt Nãi
Thân mẫuChiêu Túc Hoàng hậu Đường Quát thị

Hoàn Nhan Hặc Lý Bát (chữ Hán: 完顏劾里鉢, 1039 - 1092), được biết đến là cha của Kim Thái Tổ Hoàn Nhan A Cốt Đả và Kim Thái Tông Hoàn Nhan Ngô Khất Mãi. Đồng thời, ông là tổ tiên của tất cả các Hoàng đế nhà Kim trở về sau.

Cuộc đời

Gia thế

Hoàn Nhan Hặc Lý Bát là con trai thứ hai của tộc trưởng của bộ tộc Hoàn Nhan thời bấy giờ là Ô Cốt Nãi (烏古廼). Mẹ của ông là chính thất Đường Quát thị (唐括氏), tên Đa Bảo Chân (多保真), con gái của một vu sư tên Thạch Phê Đức Tát Cốt Chỉ (石批德撒骨只). Từ thời của ông nội ông là Hoàn Nhan Thạch Lỗ (完顏石魯), bộ tộc này dần trở nên lớn mạnh nhờ luật pháp mà ông ban bố, được nhà Liêu bấy giờ phong làm tù trưởng.

Cha ông, Ô Cốt Nãi là người thông minh, đã giúp bộ tộc của mình thống trị các bộ tộc Nữ Chân khác, được nhà Liêu phong làm Tiết độ sứ, thống trị một phương. Hặc Lý Bát có một anh trai cùng mẹ là Hoàn Nhan Hặc Giả (完顏劾者), tuy nhiên ông lại được cha sủng ái hơn cả do lòng dũng cảm , tuy nhiên ông lại được cha sủng ái hơn cả do lòng dũng cảm và tài năng mưu trí, trong khi anh trai Hặc Giả có tính cách quá hiền lành. Sau khi Ô Cốt Nãi qua đời vào năm 1074, ông tiếp nhận vị trí thủ lĩnh từ người cha.

Hành trạng

Ban đầu, ông sống cùng một nơi với anh trai của mình, nơi mà ông đảm nhiệm xử lý các công việc bên ngoài trong khi Hặc Giả quản lý sự vụ trong bộ tộc. Khi mới nắm quyền, có một số cuộc nổi dậy nhỏ của Hoàn Noản (桓赧) và Ô Xuân (烏春)[1] nhưng đều bị ông dẹp tan, điều này gây nên thanh thế lớn cho bộ tộc.

Ông qua đời năm 1092, không kịp nhìn các con xây dựng nên nhà Kim. Kim Hi Tông đăng cơ, truy tặng Thánh Túc Hoàng đế (聖肅皇帝), miếu hiệu Thế Tổ (世祖), sau lại cải thành Thế Tổ Thần Vũ Thánh Túc Hoàng đế (世祖神武聖肅皇帝). Hoàn Nhan Lượng cải thành Nguyên Tổ Thánh Túc Hoàng đế (元祖大聖皇帝), sau khi Lượng bị lật đổ thì Kim Thế Tông khôi phục vị hiệu như thời Hi Tông.

Gia quyến

Cha mẹ

  • Thân phụ: Hoàn Nhan Ô Cốt Nãi (完顏烏骨廼, 1021 - 1074), Hi Tông tức vị truy tặng Huệ Hoàn Hoàng đế (惠桓皇帝), miếu hiệu Cảnh Tổ (景祖).
  • Thân mẫu: Đường Quát thị (唐括氏), tên Đa Bảo Chân (多保真), sau truy tặng Chiêu Túc Hoàng hậu (昭肃皇后).
  • Thứ mẫu:
  1. Chú Tư Khôi (注思灰), người Khiết Đan.
  2. Ôn Địch Ngân thị (温迪痕氏), tên Địch Bản (敌本).

Anh em

  • Hoàn Nhan Hặc Giả (完顏劾者), mẹ là Đường Quát thị, sau tặng Hàn quốc công (韩国公).
  • Hoàn Nhan Hặc Tôn (完顏劾孫), mẹ là Đường Quát thị, sau tặng Trịnh quốc công (鄭國公). Có con trai là Hoàn Nhan Dục (完顏昱, ? - 1139) được phong Dự quốc công (豫國公).
  • Hoàn Nhan Pha Lạt Thục (完颜颇剌淑, 1042 - 1094), mẹ là Đường Quát thị, sau khi anh trai Hặc Lý Bát qua đời thì kế vị anh trai làm thủ lĩnh bộ tộc. Kim Thái Tông đăng cơ, truy tặng Mục Hiến Hoàng đế (穆憲皇帝), miếu hiệu Túc Tông (肅宗). Hi Tông đăng cơ, cải thành Minh Duệ Mục Hiến Hoàng đế (明睿穆憲皇帝). Vợ là Bồ Sát thị (蒲察氏), sau truy tặng Tĩnh Tuyên Hoàng hậu (靖宣皇后). Có hai con trai, trưởng tử Nậu Khốc Khoản (耨酷款) phong Ôn quốc công (溫國公), thứ tử Bồ Lỗ Hổ (蒲魯虎) phong Sùng quốc công (崇國公)[2]
  • Hoàn Nhan Doanh Ca (完顏盈歌, 1053 - 1103), mẹ là Đường Quát thị, sau khi anh trai Pha Lạt Thục qua đời thì kế vị anh trai làm thủ lĩnh bộ tộc, được nhà Liêu phong làm Tiết độ sứ, thường xuyên giúp nhà Liêu bình định các cuộc nổi dậy trong khu vực, duy trì mối quan hệ tốt với Cao Ly và tập trung quyền lực vào tay người Nữ Chân. [3] Kim Thái Tông đăng cơ, truy tặng Hiếu Bình Hoàng đế (孝平皇帝), miếu hiệu Mục Tông (穆宗). Vợ là Ô Cổ Luận thị (烏古論氏), sau truy tặng Trinh Huệ Hoàng hậu (貞惠皇后). Có năm con trai, trưởng tử Hoàn Nhan Xương (完颜昌) phong Lỗ quốc vương (魯國王), nhị tử Hoàn Nhan Úc (完颜勗, 1099 - 1157) phong Kim Nguyên Quận vương (金源郡王), tam tử Hoàn Nhan Bồ Sát (完颜蒲察, ? - 1029) phong Tế quốc công (济国公), tứ tử Bồ Lí Điệt (蒲里迭) phong Sùng quốc công (崇國公), ngũ tử Tát Chúc (撒柷) nhậm Ngân thanh quang lộc đại phu.
  • Hoàn Nhan Hặc Chân Bảo (完顏劾真保), mẹ là Chú Tư Khôi, phong Đại quốc công (代国公).
  • Hoàn Nhan Ma Pha (完顏麻頗), mẹ là Ôn Địch Ngân thị, phong Ngu quốc công (虞國公). Có hai con trai, trưởng tử Hoàn Nhan Man Đồ Bản (完顏謾都本) nhậm Ngân thanh quang lộc đại phu, thứ tử Hoàn Nhan Man Đổ (完顏蠻睹).
  • Hoàn Nhan A Lí Hợp Muộn (完顏阿離合懣, 1071 - 1119), mẹ là Ôn Địch Ngân thị, phong Tùy quốc công (隋国公), qua đời truy thụy Cương Hiến (刚宪). Có hai con trai.
  • Hoàn Nhan Man Đô Ha (完顏謾都訶, ? - 1125), mẹ là Ôn Địch Ngân thị, phong Trịnh quốc công (郑国公).

Thê thiếp

  • Chính thất Noa Lãn thị (拏懒氏), sau truy tặng Dực Giản Hoàng hậu (翼简皇后).
  • Thứ thất Đồ Đan thị (徒单氏).
  • Thứ thất Phó Tán thị (仆散氏).
  • Hai vị thứ thất Thuật Hổ thị (仆散氏).
  • Thứ thất Ô Cổ Luận thị (乌古论氏).

Con cái

  1. Hoàn Nhan Ô Nhã Thúc, mẹ là Noa Lãn thị. Lãnh đạo bộ tộc từ năm 1103 đến 1113, sau Hi Tông truy tặng Cung Giản Hoàng đế (恭簡皇帝), miếu hiệu Khang Tông (康宗). Chính thê Đường Quát thị (唐括氏), sau truy tặng Kính Hi Hoàng hậu (敬僖皇后), thứ thê Ôn Đôn thị (溫都氏) và Bộc Tán thị (僕散氏) qua đời không lâu sau khi sinh con.
    1. Hoàn Nhan Tông Hùng (完顏宗雄, 1083 - 1122), mẹ là Đường Quát thị. Được phong Sở vương (楚王), sau khi Hoàn Nhan Lượng lên ngôi ra lệnh đào phá mộ phần. Có ba con trai.
    2. Hoàn Nhan Đồng Quát Truất (完顏同刮茁), mẹ là Ôn Đôn thị, được phong Chiêu Vũ Đại Tướng quân.
    3. Hoàn Nhan Ôi Khả (完顏隈可), mẹ là Bộc Tán thị, phong Tông quốc công (宗國公).
  2. Kim Thái Tổ Hoàn Nhan A Cốt Đả, mẹ là Noa Lãn thị.
  3. Hoàn Nhan Oát Đái (完顏斡帶, 1070 - 1100), mẹ là Noa Lãn thị. Là người quyết đoán, rất được Thái Tổ sủng ái, bệnh nặng mà mất khi 31 tuổi. Hi Tông đăng cơ, truy tặng Ngụy vương (魏王), thụy Định Túc (定肅).
  4. Kim Thái Tông Hoàn Nhan Ngô Khất Mãi, mẹ là Noa Lãn thị.
  5. Hoàn Nhan Cảo (完顏杲, ? - 1130), còn gọi Tà Dã (斜也), mẹ là Noa Lãn thị. Có sáu con trai, trưởng tử Hoàn Nhan Tông Nghĩa (完顏宗義, ? - 1150) phong Liêu vương (遼王), bị Hoàn Nhan Lượng xử tử.
  6. Hoàn Nhan Oát Tái (完顏斡賽), mẹ là Đồ Đan thị. Có công bình định Cao Ly, được phong Trịnh vương (郑王), Vệ vương (卫王) rồi Vệ quốc vương (卫国王).
  7. Hoàn Nhan Oát Giả (完顏斡者), mẹ là Đồ Đan thị. Được phong Lỗ vương (鲁王), sau giáng thành Lỗ công (封公).
  8. Hoàn Nhan Ô Cổ Nãi (完顏烏故乃), mẹ là Phó Tán thị. Mất trước khi nhà Kim thành lập, tặng Hán công (汉公).
  9. Hoàn Nhan Đồ Mẫu (完顏闍母, 1090 - 1129), mẹ là Thuật Hổ thị. Thường xuyên phò trợ thúc phụ Hoàn Nhan Cảo trong các chiến dịch, Hi Tông đăng cơ tặng Ngô quốc vương (吳國王), sau cải thành Lỗ vương (魯王), thụy Trang Tương (莊襄).
  10. Hoàn Nhan Tra Lạt (完顏查剌), mẹ là Thuật Hổ thị.
  11. Hoàn Nhan Ngang (完顏昂), còn gọi Ngô Đô Bổ (吾都补), mẹ là Ô Cổ Luận thị.
  12. Hoàn Nhan thị, con gái độc nhất, mẹ không rõ. Gả cho người của bộ tộc Bồ Sát, sinh Hộc Lỗ Đoản (斛魯短). Cháu nội là Bồ Sát Thạch Gia Nô (蒲察石家奴) được phong Vận vương (郧王), nghênh giá con gái của Kim Thái Tổ.

Tham khảo

  1. 《金史》卷一 本紀第一 世紀
  2. ^ 《大金國志》金國世系之圖
  3. 《金史》卷58:初,穆宗之前,諸部長各刻信牌,交互馳驛,訊事擾人。太祖獻議,自非穆宗之命,擅制牌號者置重法。自是,號令始一。;卷128:金自穆宗號令諸部不得稱都孛堇,於是諸部始列於統屬。