Bước tới nội dung

IWI Galil

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(Đổi hướng từ Galil)
Galil
Súng trường IMI Galil
LoạiSúng trường tấn công
Súng carbine
Súng trường chiến đấu
Nơi chế tạo Israel
Lược sử hoạt động
Phục vụ1972–nay[1]
Sử dụng bởiXem Các quốc gia sử dụng
TrậnCách mạng Nicaragua[2]
Nội chiến El Salvador[2]
Nội chiến Liban
Chiến tranh Liban 2006
Chiến tranh Somali (1992–1993)
Chiến tranh biên giới Nam Phi
Chiến tranh Iraq
Xung đột vũ trang Colombia
Lược sử chế tạo
Người thiết kếYisrael Galili, Yaacov Lior
Nhà sản xuất
  • Israel Military Industries

Sản xuất theo giấy phép

  • Bernardelli
  • Indumil (Colombia)
  • Ka Pa Sa State Factories (Myanmar)
  • Denel Land Systems (Nam Phi)
  • Punj Lloyd Raksha Systems (Ấn Độ)
  • Nhà máy Z111 (Việt Nam)
Giai đoạn sản xuất1972–1998
Các biến thểXem Các biến thể
Thông số
Khối lượng
  • SAR: 3,75 kg (8,27 lb)
  • AR: 3,95 kg (8,7 lb)
  • ARM: 4,35 kg (9,6 lb)
Chiều dài
  • SAR : 850 mm (33 in) báng mở / 614 mm (24,2 in) báng gấp
Độ dài nòng
  • SAR: 332 mm (13,1 in)
  • AR, ARM: 460 mm (18,1 in)

Đạn
Cơ cấu hoạt độngTrích khí, khóa nòng xoay
Tốc độ bắn630–750 viên/phút
Sơ tốc đầu nòng
  • SAR: 900 m/s (2.953 ft/s)
  • AR, ARM: 950 m/s (3.116,8 ft/s)
Tầm bắn hiệu quả300–500 m
Chế độ nạp
Ngắm bắnĐiểm ruồi, ống ngắm có thể lắp thêm

Galil là một dòng súng trường tấn công sử dụng cỡ đạn 5.56x45mm NATO và 7.62x51mm NATO của Israel do Yisrael Galili and Yaacov Lior thiết kế vào cuối thập niên 1960 và được công ty Israel Military Industries Ltd (nay là Israel Weapon Industries Ltd) chế tạo từ đầu thập niên 1970.

Galil được thiết kế dựa trên RK 62 của Phần Lan,[3] mà RK 62 lại được dựa trên thiết kế của AK-47.[4] Galil đã vượt qua M16A1, Stoner 63, AK-47 và HK33 để giành chiến thắng trong cuộc thi thiết kế súng của Lực lượng Phòng vệ Israel. Từ năm 1972, Galil được chính thức chấp nhận trang bị cho lực lượng này và thay thế cho FN FAL.

Có bốn loại Galil cơ bản, đó là loại tiêu chuẩn AR (súng công kích), loại carbin SAR, loại thu nhỏ MAR, và loại súng máy hạng nhẹ ARM.

Một phiên bản thế hệ mới của Galil được ra mắt vào năm 2008 với tên gọi là Galil ACE.

Lịch sử IWI Galil

Súng trường chiến đấu FN FAL của Bỉ ban đầu được Lực lượng Phòng vệ Israel (IDF) tiếp nhận vào cuối những năm 1950 (sử dụng đạn 7,62×51mm NATO). FN FAL có một số hạn chế, trong đó lỗi phổ biến là cát bụi địa phương dày đặc gây kẹt súng (sau này xác định nguyên nhân chính là do bảo dưỡng không nghiêm ngặt). Tuy nhiên nhìn chung, FN FAL bị đánh giá là dài và cồng kềnh. Chiều dài và tình trạng trục trặc trở nên thường xuyên đến mức trong Chiến tranh Yom Kippurư 1973 một số binh sĩ đã bắt đầu trang bị cho mình tiểu liên Uzi nhỏ gọn hơn nhiều.[5]

So sánh giữu khẩu AMD-65 của Hungary (trên cùng), M16A1 của Mỹ (giữa) và khẩu Galil ARM (dưới)

Trong chiến tranh Sáu ngày, phía Israel đã thu giữ hàng ngàn khẩu AK-47 từ Ai Cập. Khẩu súng này đã chứng minh được sự đáng tin cậy và dễ điều khiển, nhu cầu bảo dưỡng thấp đủ để lính nghĩa vụ có thể duy trì bảo dưỡng cho vũ khí.

Khi IDF bắt đầu quá trình tìm kiếm một khẩu súng trường tự động mới, AK-47 đã được cân nhắc, nhưng khó khăn trong việc mua sắm đã hạn chế tính khả thi. Do đó, IDF đặc biệt tìm kiếm một loại vũ khí kết hợp ưu điểm của AK-47 như yêu cầu bảo dưỡng thấp, đồng thời có độ chính xác của M16 và FN FAL. Mẫu súng tiêu chuẩn tương lai ban đầu còn được đặt biệt danh là "Balashnikov".[6] Nhiều loại súng đã được đề xuất cho Quân đội Israel theo yêu cầu về một khẩu súng trường tấn công tiêu chuẩn, bao gồm M16A1 và Stoner 63 của Mỹ, HK33 của Tây Đức. Một thiết kế nội địa được đưa ra bởi Uziel Gal, cha đẻ của tiểu liên Uzi, nhưng bị đánh giá là phức tạp và kém tin cậy.[7]

Thiết kế thành công được đưa ra bởi Yisrael Galili, dựa trên Valmet RK 62 cỡ 7,62×39mm của Phần Lan – một biến thể của AK-47. (Những khẩu Galil đầu tiên được chế tạo với thân súng Valmet RK 62.)[3] Thời điểm này, Mỹ đang thay thế các nước châu Âu (đặc biệt là Pháp) trở thành đối tác và nhà cung cấp vũ khí chính của Israel. Do đó, súng Galil của Galili được chuyển sang cỡ đạn 5,56×45mm NATO của Mỹ (ban đầu là loại M193 55 grain). Các thử nghiệm từ cuối thập niên 1960 đến đầu thập niên 1970 đã đưa thiết kế của Galili trở thành nguyên mẫu chiến thắng. Tuy nhiên, việc trang bị Galil bị trì hoãn do Chiến tranh Yom Kippur 1973 bùng nổ bất ngờ.[5][7][8]

Quân đội Israel lần đầu sử dụng Galil cỡ đạn 5,56×45mm NATO với ba cấu hình cơ bản:

  • Automatic Rifle Machine-gun (ARM) với chân chống, kìm cắt dây và tay xách; trở thành súng trường tiêu chuẩn phát cho bộ binh tiền tuyến. Đây cũng là phiên bản nổi tiếng với dụng cụ mở chai tích hợp ở ốp tay trước.
  • Automatic Rifle (AR) không có chân chống, kìm cắt dây hay tay xách. Được cấp cho lực lượng hậu cần và quân cảnh.
  • Short Automatic Rifle (SAR) với nòng rút ngắn. Dành cho kíp xe, nhân viên tham mưu và các binh chủng đặc biệt.

Mặc dù Galil là súng trường tiêu chuẩn của Israel từ giữa thập niên 1970 đến đầu thập niên 1990, nhưng trên thực tế nó không bao giờ là loại súng chủ lực về số lượng. Khoảng năm 1975, 60.000 khẩu M16A1 từ Chương trình Viện trợ Quân sự Mỹ (MAP) bắt đầu được chuyển tới Israel và nhanh chóng được đưa vào sử dụng trong IDF. Chi phí sản xuất Galil cho toàn bộ lực lượng quá cao, trong khi Israel tiếp tục mua M16 và sau đó là M4 bằng nguồn tín dụng quân sự từ Mỹ, dần thay thế nhiều khẩu Galil đang phục vụ. Nhìn chung, binh sĩ Israel ưa chuộng M16 hơn, vì nó nhẹ và chính xác hơn, dù không bền và tin cậy bằng. Khi M4 xuất hiện, vũ khí này càng hấp dẫn hơn nhờ chiều dài ngắn, trọng lượng nhẹ, khả năng gắn nhiều loại ống ngắm và phụ kiện rail mà vẫn giữ được độ chính xác khi tháo lắp. M16 và M4 cũng tỏ ra phù hợp hơn trong vai trò bắn lựu, với việc sử dụng súng phóng lựu M203 40mm của Mỹ. Đặc biệt, lính dù Israel ưa thích M4 carbine hơn Galil, trong khi M16 vẫn được giữ lại để huấn luyện tân binh, lực lượng dự bị, Pháo binh và Binh chủng Tăng thiết giáp (Heil HaShiryon).[9]

Đến năm 2000, Galil ARM và AR đã bị loại khỏi biên chế và được thay thế bằng các biến thể M4 và M16. Galil SAR (G’lilon) vẫn tiếp tục phục vụ trong một số đơn vị tuyến sau, gồm Đội Cận vệ Quốc hội (Knesset Guard)[5] và Pháo binh cùng Binh chủng Tăng thiết giáp, cho tới khoảng năm 2004.

Trong một thời gian ngắn, Galil được cấp phép sản xuất tại NWM (Nederlandsche Wapen-en Munitiefabriek) De Kruithoorn N.V. để bán cho một quốc gia thuộc NATO.[10]

Hiện nay, Galil chỉ còn được sản xuất tại Colombia bởi Indumil, cùng các mẫu Galil Ace và Galil Córdova (mẫu Córdova do Indumil thiết kế).[11]

400 khẩu Galil đã được mua qua chính phủ Antigua cho băng đảng Medellín.[12]

Thiết kế IWI Galil

Cơ chế hoạt động

Dòng súng trường Galil là tùy chọn chế độ bắn hoạt động bằng hệ thống trích khí dài kiểu Kalashnikov, không có bộ điều áp. Súng khóa nòng bằng khóa xoay hai lẫy ăn vào rãnh được phay sẵn trong thân súng.

Khi bắn, một phần khí thuốc được dẫn qua lỗ trích đường kính 1,8 mm (0,07 in) khoan chếch 30° trên nòng và qua kênh trong khối trích khí vào xi-lanh khí, đẩy piston (gắn liền với bệ khóa nòng) lùi về sau. Trong quá trình này, rãnh cam trên bệ khóa nòng ăn với chốt cam trên bolt, khiến bolt xoay và mở khóa nòng. Cụm chi tiết trên bệ khóa nòng cho phép một đoạn chuyển động tự do, giúp áp suất trong nòng giảm xuống mức an toàn trước khi mở khóa. Ngay sau đầu piston mạ crôm có vòng rãnh giảm tiếp xúc, giúp giảm tích tụ khí dư. Khi bệ khóa nòng lùi về, nó nén lò xo hồi nằm trong khoang rỗng của bệ khóa nòng; năng lượng hồi này lại đẩy cụm chuyển động tiến lên, nạp viên đạn mới từ hộp tiếp đạn và khóa nòng. Tay kéo lên đạn gắn bên phải bệ khóa nòng, chuyển động theo mỗi phát bắn, và được bẻ chéo lên trên để có thể thao tác bằng tay trái trong khi tay bắn vẫn giữ cò.

Vỏ đạn đã bắn bị văng ra ngoài rất mạnh; nhiều trường hợp vỏ bị móp do đập vào vấu hất vỏ và có thể bị bắn xa tới 12 m (40 ft) tùy vị trí.[8]

Đặc điểm

Một binh sĩ Estonia tuần tra tháng 3/2005 tại Iraq với Galil SAR 5,56×45 mm cỡ nòng ngắn.

Galil sử dụng hệ thống búa đập với cơ cấu cò mô phỏng từ súng M1 Garand của Mỹ.[13] Súng có cần chọn chế độ bắn ba nấc S–A–R. Ngoài cần chọn kiểu AK-47 giữ nguyên bên phải thân súng, còn có cần gạt kép cho ngón cái ở bên trái, đặt ngay trên tay cầm, giúp thao tác nhanh hơn.[14]

  • Gạt cần trái về sau (R – Repetition): bắn bán tự động.
  • Gạt về giữa (A – Automatic): bắn tự động liên thanh.
  • Gạt về trước (S – Safe): khóa an toàn.

Một số mẫu dùng cơ cấu RAS liên kết ngược, thao tác ngược lại: đẩy về trước để đặt ở chế độ bán tự động hoặc tự động, kéo về sau để khóa an toàn.

Các nguyên mẫu Galil đầu tiên được chế tạo với thân thép tấm dập và ghép rivet, nhưng do áp suất hoạt động cao của đạn 5,56×45mm NATO, giải pháp này bị loại bỏ. Các nhà thiết kế đã chuyển sang thân thép đặc nguyên khối phay. Những nguyên mẫu đầu còn dùng thân Valmet Rk 62 sản xuất tại Phần Lan như một minh chứng cho nguồn gốc thiết kế.[13] Tất cả bề mặt kim loại bên ngoài được xử lý phốt-phát chống gỉ, rồi sơn men đen, trừ nòng, khối trích khí và cụm thước ngắm trước. Việc dùng thân thép nguyên khối giúp tránh hiện tượng nứt gãy mà dòng AK dùng thân dập từng gặp, nhưng cũng khiến Galil nặng hơn.[5]

Các bộ phận như khối trích khí, chốt giữ ốp tay và cơ cấu gấp báng đều là chi tiết đúc, gia công hoàn thiện và lắp ráp chính xác. Hệ thống ngắm cũng được đúc và gia công toàn bộ để tăng độ bền. Những chi tiết duy nhất được dập thép trên Galil gồm khóa hộp tiếp đạn, vòng bảo vệ cò, nắp che bụi, và trên mẫu R5, R6 thì chốt giữ ốp tay sau cũng dập thay vì đúc, cùng với hộp tiếp đạn.

Súng Galil được lắp ốp tay và tay cầm nhựa cứng chịu va đập, cùng báng gấp khung ống thép gấp về bên phải. Súng có thể gắn bộ giảm thanh. Điểm độc đáo là Galil tích hợp dụng cụ mở nắp chai ở ốp tay trước và kìm cắt dây thép trong chân chống.,[15] Tính năng mở nắp chai được thiết kế nhằm tránh việc dùng hộp tiếp đạn để mở chai, thói quen phổ biến của lực lượng dự bị IDF, vốn từng gây hư miệng hộp tiếp đạn trên tiểu liên Uzi. Kìm cắt dây giúp binh sĩ IDF rút ngắn thời gian cắt hàng rào thép gai, vốn rất thường gặp tại các vùng nông thôn Israel.

Các biến thể IWI Galil

Galil AR

Biến thể cơ bản, trang bị ốp lót tay bằng nhựa và báng súng dạng khung có thể gập sang phải. Phiên bản dùng đạn 5.56x45mm NATO trang bị băng đạn 35 viên với chiều dài nòng súng 460 mm (18,1 inch), phiên bản 7.62x51mm NATO trang bị băng đạn 25 viên với chiều dài nòng súng 535 mm (21,1 inch).

Galil SAR

Còn có tên gọi là G'lilon, có nòng súng ngắn hơn. Do nòng súng ngắn hơn nên các bộ phận trích khí cũng được thu ngắn đi. Phiên bản dùng đạn 5.56x45mm NATO trang bị băng đạn 35 viên với chiều dài nòng súng 332mm (13,1 inch), phiên bản 7.62x51mm NATO trang bị băng đạn 25 viên với chiều dài nòng súng 400mm (15,7 inch).

Súng Galil ARM dùng đạn 5.56 với băng đạn 35 viên

Galil ARM

Biến thể này được trang bị ốp lót tay bằng gỗ và chân chống có thể gấp lại, nhờ ốp lót tay làm từ gỗ nên khiến súng mát hơn khi khai hỏa liên tục. Điều thú vị nằm ở thiết kế chân chống của súng, khi chân chống được gấp lại, nó sẽ có hình dạng tương tự như một cái kìm cắt và nó được dùng để mở nắp của chai nước. Nó được thiết kế như vậy vì trước đó các người lính đã dùng mép của băng đạn để mở nắp chai rồi dẫn đến làm hỏng băng đạn.[16] Phiên bản dùng đạn 5.56x45mm NATO trang bị băng đạn 35 viên với chiều dài nòng súng 460 mm (18,1 inch), phiên bản 7.62x51mm NATO trang bị băng đạn 25 viên với chiều dài nòng súng 535 mm (21,1 inch).

Micro Galil

Còn được gọi là MAR (Micro Assault Rifle), đây là biến thể mới nhất và phiên bản thu nhỏ của Galil SAR với chiều dài khi mở báng là 706 mm và khi gấp báng là 465 mm, trọng lượng khi không có đạn là 2,98 kg. Súng trang bị băng đạn thép 35 viên, súng có tốc độ bắn vào khoảng 650–750 viên/phút, súng được tich hợp một chuyển đổi để có thể sử dụng băng đạn 20 và 30 viên của súng trường M16, cần gạt an toàn kiểu AK nằm bên phải và núm chọn chế độ bắn nằm ở hai bên súng với 4 chế độ: "S" — An toàn, "A" — Liên thanh, "B" — Loạt 3 viên, "R" — Bán tự động. Súng trang bị báng súng bằng nhôm có thể gấp lại, thước ngắm có thể tùy chỉnh từ 0 đến 300 mét và trên 300 mét, một số trang bị khác được tích hợp hoặc trang bị thêm bao gồm như điểm ngắm phát quang trong đêm, kính ngắm quang học ban đêm và ban ngày, ống giảm thanh, dây đeo nylon.

Galil Sniper

Súng bắn tỉa IWI Galil Sniper

Còn được gọi với tên Galil Tzalafim hay "Galatz", được dựa trên phiên bản ARM và dùng đạn 7.62x51mm NATO để cho ra độ chính xác cao.[17]

Súng chỉ có thể bắn ở chế độ bán tự động, cơ chế hoạt động thì tương tự như các biến thể Galil khác nhưng được tối ưu cho độ chính xác cao, tiếp đạn bằng băng đạn 25 viên và nòng súng nặng hơn các biến thể khác. Đầu nòng có thể vừa giúp giảm tia lửa và giảm giật, nó cũng có thể thay thế bằng nòng giảm thanh.

Phiên bản hiện đại hóa với tên gọi SR-99 được báng súng có thể tùy chỉnh thay vì báng gỗ, ốp lót tay và tay cầm bằng vật liệu tổng hợp.

Galatz được sản xuất theo giấy phép bởi Punj Lloyd Raksha Systems tại Ấn Độ[18][19] và Nhà máy Z111 tại Việt Nam.[20]

Magal

Biến thể carbine dành cho các đơn vị thực thi pháp luật, dùng đạn .30 carbine, có thể sử dụng băng đạn 15 hoặc 30 viên từ chính súng Carbine M1 hoặc băng đạn 27 viên có tích hợp cơ chế giữ khóa nòng mở. Được sản xuất vào năm 1999 nhưng đến năm 2001 thì bị cho ngưng sản xuất vì do khiếu nại về trục trặc.

Galil ACE

Thế hệ mới nhất của dòng súng trường Galil, tay gạt lên đạn nay đã chuyển sang bên trái, nhiều bộ phận được làm từ nhựa và polymer để giảm giá thành và trọng lượng. Các biển thể của Galil ACE có thể dùng các loại đạn 5.56x45mm NATO, 7.62x51mm NATO, 5.45x39mm, 7.62x39mm. Tất cả chúng đều được trang bị ray picatinny để gắn phụ kiện và súng có thể tháo lắp mà không cần dụng cụ.

Các quốc gia sử dụng IWI Galil

Các quốc gia từng sử dụng

Tham khảo IWI Galil

  1. 1 2 3 Bishop, Chris (1998). Guns in Combat. Chartwell Books, Inc. ISBN 0-7858-0844-2.
  2. 1 2 Montes, Julio A. (tháng 5 năm 2000). "Infantry Weapons of the Salvadoran Forces". Small Arms Review. Quyển 3 số 8.
  3. 1 2 Knupp, Jeremiah (December 28, 2017)."Galil ACE: IWI Brings the AK Into the Modern Era". American Rifleman.
  4. "Israeli Made AK47 Varieties". ngày 17 tháng 3 năm 2005. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 3 năm 2005. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2021.
  5. 1 2 3 4 Galil Ace 5.56 Lưu trữ ngày 18 tháng 10 năm 2013 tại Wayback Machine – SAdefensejournal.com, 29 May 2013
  6. Gary Paul Johnston, Thomas B. Nelson (2016). The World's Assault Rifles. Ironside International Publishers, Inc. ISBN 9781619846012.
  7. 1 2 IMI Galil ARM/SAR – Militaryfactory.com
  8. 1 2 Galil Rifle History Lưu trữ ngày 12 tháng 5 năm 2013 tại Wayback Machine – Dnmsport.com
  9. Rappoport, Elie, Micro Tavor vs. the M4/M16: Core Of The IDF", Draft IDF, 28 December 2017, retrieved 11 March 2018
  10. "Kalasjnikov, het wapen dat wereldgeschiedenis schreef" (PDF) (bằng tiếng Đức). ngày 28 tháng 9 năm 2007. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 28 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2021.
  11. https://www.indumil.gov.co/categoria-producto/productos-militares/armas-es-es-es/ [liên kết hỏng]
  12. "Arms Scandal Could Force Out Antigua Rulers : Caribbean: Israeli shipment of machine guns and rifles wound up in the hands of a Colombia drug baron". Los Angeles Times (bằng tiếng Anh). ngày 16 tháng 7 năm 1990. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2022.
  13. 1 2 Kokalis, Peter (2001). Weapons Tests And Evaluations: The Best Of Soldier Of Fortune. Boulder, Colorado: Paladin Press. tr. 253. ISBN 1-58160-122-0.
  14. "Galil ARM". ngày 27 tháng 10 năm 2010.
  15. Sweeney, Patrick (2009). The Gun Digest Book of the AK & SKS: A Complete Guide to Guns, Gear and Ammunition. Gun Digest Books. tr. 191. ISBN 978-0-89689-678-9.[liên kết hỏng vĩnh viễn]
  16. Kokalis, Peter G. (2001). Weapon tests and evaluations: the best of Soldier of fortune. Boulder, Colo: Paladin Press. ISBN 978-1-58160-122-0.
  17. "Galil 7.62 x 51mm sniper". www.valmet.org. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2025.
  18. Peri, Dinakar (ngày 4 tháng 5 năm 2017). "Punj Lloyd, IWI of Israel make small arms in India". The Hindu (bằng tiếng Anh). ISSN 0971-751X. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2025.
  19. Archive →, View (ngày 16 tháng 12 năm 2017). "Tavor in India : Israeli Assault Rifle's Journey and Prospects in India". Strategic Frontier (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2025.
  20. Johnson, Steve (ngày 6 tháng 6 năm 2013). "IWI To Produce Weapons In Vietnam". thefirearmblog.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2025.
  21. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 Jones, Richard D. Jane's Infantry Weapons 2009/2010. Jane's Information Group; 35 edition (January 27, 2009). ISBN 978-0-7106-2869-5.
  22. "The Magal .30M1: A look back at the Galil's cousin that's still kicking for Brazilian and Israeli police forces, by Ronaldo Olive". Tactical Life. ngày 3 tháng 3 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2014.
  23. 1 2 3 4 Wezeman, Siemon T. "Israeli arms transfers to sub-Saharan Africa" (PDF). SIPRI Background Paper. SIPRI. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 15 tháng 12 năm 2013.
  24. 1 2 3 Binnie, Jeremy; de Cherisey, Erwan (2017). "New-model African armies" (PDF). Jane's. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2017.
  25. Small Arms Survey (2005). "The Central African Republic: A Case Study of Small Arms and Conflict". Small Arms Survey 2005: Weapons at War. Oxford University Press. tr. 318. ISBN 978-0-19-928085-8. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 30 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2018.
  26. Touchard, Laurent (ngày 17 tháng 12 năm 2013). "Centrafrique : le Soudan a-t-il armé les ex-Séléka ?". Jeune Afrique (bằng tiếng Pháp).
  27. FAMAE (Chile) has begun producing IWI GALIL ACE Rifles. The Firearm Blog. Steve Johnson. August 11, 2014
  28. "INDUMIL – Industria Militar". Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2014.
  29. "IWI Galil ACE 5.56 mm assault rifle (Israel), Rifles". Jane's Information Group. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2010.
  30. "Partes de guerra – FARC-EP Bloque Martín Caballero". Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2014.
  31. Small Arms Survey (2003). "Making the Difference?: Weapon Collection and Small Arms Availability in the Republic of Congo". Small Arms Survey 2003: Development Denied. Oxford University Press. tr. 263. ISBN 0199251754. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 12 tháng 11 năm 2010.
  32. Haapiseva-Hunter, Jane (1999). Israeli foreign policy: South Africa and Central America. South End Press. tr. 115. ISBN 978-0-89608-285-4.
  33. http://www.dodmedia.osd.mil/DVIC_View/Still_Details.cfm?SDAN=DMSD0200526&JPGPath=/Assets/Still/2002/Marines/DM-SD-02-00526.JPG%5B%5D Bản mẫu:Bare URL image
  34. "Uudised – Kaitsevägi". mil.ee. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2025.
  35. "Uudised – Kaitsevägi". Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2014.
  36. "Uudised – Kaitsevägi". Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2014.
  37. "Uudised – Kaitsevägi". Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2014.
  38. Philip Alpers. "Guns in Fiji". gunpolicy.org. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2014.
  39. Capie, David (2004). Under the Gun: The Small Arms Challenge in the Pacific. Wellington: Victoria University Press. tr. 63–65. ISBN 978-0-86473-453-2.
  40. "Armament of the Georgian Army". Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2014.
  41. Haapiseva-Hunter, Jane (1999). Israeli foreign policy: South Africa and Central America. South End Press. tr. 113. ISBN 978-0-89608-285-4.
  42. Small Arms Survey (2003). "Red Flags and Buicks: Global Firearms Stockpiles". Small Arms Survey 2003: Development Denied. Oxford University Press. tr. 112. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 12 tháng 11 năm 2010.
  43. "Kopassus & Kopaska – Specijalne Postrojbe Republike Indonezije" (bằng tiếng Croatia). Hrvatski Vojnik Magazine. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2010.
  44. Italian Ministry of Interior – Decree n° 559/A/1/ORG/DIP.GP/14 of March 6, 2009, concerning weapons and equipment in use with the Italian National Police – in Italian Lưu trữ ngày 16 tháng 7 năm 2011 tại Wayback Machine Retrieved on August 25, 2010.
  45. Grupo SIPSE. "Nuevo armamento para SSP de Cancún". sipse.com. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2014.
  46. "Specijalne-jedinice.com | Special Police Unit of the Republic of Montenegro". Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2018.
  47. "Burmese Small Arms Development". smallarmsreview.com. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2016.
  48. "Legacies of War in the Company of Peace: Firearms in Nepal" (PDF). Nepal Issue Brief (2). Small Arms Survey: 5. tháng 5 năm 2013. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 25 tháng 2 năm 2014.
  49. Alpers, Philip (2010). Karp, Aaron (biên tập). The Politics of Destroying Surplus Small Arms: Inconspicuous Disarmament. Abingdon-on-Thames: Routledge Books. tr. 168–169. ISBN 978-0-415-49461-8.
  50. "Galile dla Paragwaju – Altair Agencja Lotnicza". Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2014.
  51. https://dl.pnp.gov.ph/presentation-and-blessing-of-the-newly-procured-pnp-equipment/%5B%5D
  52. "Rice Not Guns – German Arms in the Philippines". Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2014.
  53. "World Infantry Weapons: Sierra Leone". 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 11 năm 2016.[nguồn tự xuất bản]
  54. "home". Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2014.
  55. "United Nations News Centre". UN News Service Section. ngày 30 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2014.
  56. "IMI GALIL ขนาด 5.56 mm ปืนเล็กกลจากอิสราเอลที่ใช้ในราชการกรมราชทัณฑ์ และ ขนาด 7.62 mm ปืนซุ่มยิงของกองทัพบก". chaoprayanews.com. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2015.
  57. Capie, David (2004). Under the Gun: The Small Arms Challenge in the Pacific. Wellington: Victoria University Press. tr. 68–69. ISBN 978-0864734532.
  58. Musisi, Frederic (ngày 10 tháng 5 năm 2015). "CMI Officers Arrested Over Shs500 Million Robbery". Daily Monitor (Kampala). Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2015.
  59. "AKs among U.S. Police Departments". ngày 16 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2018.
  60. "Снайперская винтовка "Форт-301". На что способна украинская лицензия израильского Galil". ФОКУС (bằng tiếng Nga). ngày 5 tháng 5 năm 2023. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2026.
  61. "Bộ đội Hải quân Việt Nam luyện cùng vũ khí mới". Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2014.
  62. "La Estrella De Panama". La Estrella De Panama. ngày 29 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2022.
  63. "Janes, Latest defence and security news". Janes.com.
  64. Walter, John (2006). Rifles of the World. Krause. tr. 616. ISBN 978-0-89689-241-5.
  • Kokalis, Peter (2001). Weapons Tests And Evaluations: The Best Of Soldier Of Fortune. Boulder,

Colorado, USA: Paladin Press. ISBN 978-1-58160-122-0. {{Chú thích sách}}: line feed character trong |location= tại ký tự số 10 (trợ giúp)