Bước tới nội dung

Alexander von Humboldt

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Alexander von Humboldt
Chân dung của Joseph Karl Stieler (1843)
SinhFriedrich Wilhelm Heinrich Alexander von Humboldt
(1769-09-14)14 tháng 9 năm 1769
Berlin, Phổ
Mất(1769-09-14)14 tháng 9 năm 1769
Berlin, Phổ
Nơi an nghỉLâu đài Tegel
Học vịĐại học Frankfurt (Oder)
Đại học Göttingen
Trường Mỏ Freiberg (Bằng tốt nghiệp, 1792)
Nổi tiếng vìĐịa lý sinh học, Kosmos (1845–1862), Hải lưu Humboldt, Bão từ, Khoa học Humboldt, Chủ nghĩa lãng mạn Berlin[1]
Giải thưởngHuy chương Copley (1852)
Sự nghiệp khoa học
NgànhĐịa lý
Cố vấn nghiên cứuMarkus Herz, Georg Christoph Lichtenberg, Carl Ludwig Willdenow, Abraham Gottlob Werner
Chữ ký

Alexander von Humboldt (tên đầy đủ: Friedrich Wilhelm Heinrich Alexander Freiherr von Humboldt, nghe, 14 tháng 9 năm 1769 - 6 tháng 5 năm 1859) là một nhà khoa họcnhà thám hiểm nổi tiếng của Vương quốc Phổ. Ông là em trai của Wilhelm von Humboldt, bộ trưởng nội các Vương quốc Phổ và là nhà triết học, ngôn ngữ học.

Từ năm 1799 đến năm 1804, von Humboldt đã thực hiện chuyến thám hiểm Mỹ Latinh, ông là người đầu tiên tìm hiểu và mô tả vùng đất "mới" này theo quan điểm khoa học thực sự. Ông cũng là một trong những người đầu tiên đề ra giả thuyết cho rằng hai bờ Đại Tây Dương (ở phía Mỹ Latinh và phía Châu Phi) đã từng gắn liền với nhau. Về cuối đời, von Humboldt đã cho xuất bản bộ sách 5 tập Kosmos trong nỗ lực thống nhất các nhánh kiến thức khác nhau của thế giới.

Tiểu sử

Alexander von Humboldt sinh ngày 14 tháng 9 năm 1769 tại Berlin thuộc Markgrafschaft Brandenburg (lãnh địa của bá tước Brandenburg) nằm trong Đế quốc La Mã thần thánh. Cha của Alexander, ông Alexander Georg von Humboldt, thuộc một gia đình nổi tiếng ở Pomerania, là thiếu tá trong Quân đội Phổ và đã từng được khen thưởng vì thành tích chiến đấu trong Chiến tranh Bảy năm. Mẹ của Alexander là bà Maria Elizabeth von Colomb, vợ góa của nam tước von Holwede. Ông Georg và bà Elizabeth cưới nhau năm 1766, họ có hai người con là Wilhelm và Alexander.

Khi còn nhỏ, Alexander von Humboldt không phải là đứa trẻ đặc biệt thông minh hoặc khỏe mạnh. Tuy vậy cậu bé Alexander đã bộc lộ niềm đam mê sưu tầm và ghi nhãn cho các loại cây cỏ, ốc và côn trùng, vì vậy cậu thường được gọi đùa là "nhà bào chế thuốc". Sau cái chết bất ngờ của người cha năm 1779 khi Alexander mới 10 tuổi, việc dạy dỗ hai anh em von Humboldt hoàn toàn do bà Maria đảm trách. Khi lên đại học, Alexander học ngành tài chính trong 6 tháng tại Đại học Frankfurt (Oder). Ngày 25 tháng 4 năm 1789 ông trúng tuyển vào Đại học Göttingen, khi đó đang rất nổi tiếng với những bài giảng của Christian Gottlob Heine và Johann Friedrich Blumenbach. Khả năng khoa học đa dạng của von Humboldt bắt đầu phát triển trong thời gian học tập ở đây. Trong kì nghỉ năm 1789 ông đã thực hiện một chuyến dã ngoại khoa học trên sông Rhine và cho ra đời chuyên luận khoa học đầu tiên, Mineralogische Beobachtungen über einige Basalte am Rhein.

Sự say mê du hành và khám phá trong von Humboldt thực sự hình thành sau khi ông kết bạn với Georg Forster, con rể của Heyne - người đồng hành với thuyền trưởng James Cook ở chuyến thám hiểm thứ hai. Từ đó trở đi, công việc học tập và tài năng khoa học hiếm có của von Humboldt bắt đầu hướng tới việc chuẩn bị các chuyến thám hiểm mang tính khoa học thực sự. Để bổ sung kiến thức, ông bắt đầu học thương mại và ngoại ngữ ở Hamburg, địa chất học ở Technische Universität Bergakademie Freiberg (Đại học bách khoa và mỏ Freiberg) (dưới sự hướng dẫn của Abraham Gottlob Werner), giải phẫu họcJena, cuối cùng là thiên văn học và phương pháp sử dụng các dụng cụ khoa học dưới sự hướng dẫn của Franz Xaver von Zach và J. G. Köhler.

Những cuộc du hành

Du hành và làm việc ở châu Âu

Chân dung von Humboldt do Friedrich Georg Weitsch vẽ năm 1806

Mùa hè năm 1790 Alexander von Humboldt thực hiện một chuyến đi ngắn tới Anh cùng người bạn Forster. Trong hai năm 17921797 ông tới Viên còn năm 1795 ông thực hiện những chuyến tìm hiểu về địa chất và thực vật tại Thụy SĩÝ. Ngày 29 tháng 2 năm 1792 ông được chọn làm hội thẩm viên ở Berlin, mặc dù chỉ coi đây là công việc tạm thời trước khi thực sự tập trung vào khoa học, ông vẫn hoàn thành nó một cách xuất sắc đến nỗi nhanh chóng được thăng chức và được cử thực hiện một số nhiệm vụ ngoại giao quan trọng. Sau cái chết của người mẹ ngày 19 tháng 11 năm 1796, von Humboldt bắt đầu hoàn toàn tập trung vào những dự định khoa học và thám hiểm mà ông đã mơ ước từ lâu.

Thám hiểm Mỹ Latinh

Ban đầu Alexander von Humboldt được mời tham gia cuộc đi biển vòng quanh thế giới của thuyền trưởng Nicolas Baudin, nhưng sau khi chuyến đi này bị hoãn, ông đã rời Paris tới Marseille cùng nhà thực vật học Aimé Bonpland, với hy vọng sẽ được tham gia cuộc viễn chinh của Napoléon Bonaparte tới Ai Cập. Không có phương tiện di chuyển, hai người buộc phải tới Madrid, nơi họ gặp bộ trưởng Don Mariano Luis de Urquijo - người đã mang đến cho Alexander và Aimé cơ hội thám hiểm một vùng đất "mới", Mỹ Latinh.

Với lời giới thiệu của de Urquijo, von Humboldt và Bonpland được lên con tàu Pizarro đi tới châu Mỹ. Họ xuất phát từ cảng La Coruña ngày 5 tháng 6 năm 1799, dừng lại 6 ngày ở Tenerife để leo lên đỉnh núi lửa Teide và tới Cumaná, Venezuela ngày 16 tháng 7. von Humboldt tới thăm hội truyền giáo ở Caripe và phát hiện ra loài chim dầu (Steatornis caripensis, tên Latinh do chính von Humboldt đặt). Quay về Cumaná, trong hai đêm 11 và 12 tháng 11 năm 1799, von Humboldt đã quan sát hiện tượng kỳ thú mưa sao băng Leonids, sự kiện thiên văn đánh dấu sự hiểu biết đầu tiên của khoa học về tính chu kỳ của hiện tượng này. Tháng 2 năm 1800, sau khi cùng Bonpland tới Caracas, von Humboldt rời bờ biển với mục đích khám phá dòng chảy của con sông Orinoco. Trong chuyến du hành kéo dài 4 tháng này, ông đã đi qua gần 3000 km trải dài trên vùng đất hoang dã và không có người ở của Nam Mỹ với những khám phá khoa học quan trọng như việc tìm ra sự tồn tại của kênh Casiquiare nối sông Orinoco với sông Amazon, hay xác định chính xác vị trí rẽ nhánh của con sông. Loài cá chình điện được von Humboldt và Bonpland phát hiện ngày 19 tháng 3 năm 1800 khi hai nhà thám hiểm bị điện giật khá mạnh vì chạm vào loài sinh vật này.

Ngày 24 tháng 11, hai người bạn lại tiếp tục đi thuyền buồm tới Cuba, dừng chân tại hòn đảo này vài tháng trước khi trở về đất liền ở Cartagena, Colombia. Sau một chuyến đi mệt mỏi và khó khăn vượt qua con sông Magdalena và những đỉnh núi đóng băng của dãy Cordillera Real (Ecuador), von Humboldt và Bonpland tới Quito ngày 6 tháng 1 năm 1802. Những ngày ở lại Quito của hai người được đánh dấu bằng chuyến leo lên đỉnh hai ngọn núi lửa Pichincha và Chimborazo. Nhóm leo núi của von Humboldt đã chạm tới độ cao 5786 mét, một kỉ lục thế giới vào thời bấy giờ. Chuyến du hành Ecuador kết thúc với cuộc thám hiểm nguồn của con sông Amazon về phía Lima, Peru. Tại Callao, von Humboldt đã quan sát được hiện tượng Sao Kim đi qua Mặt Trời ngày 9 tháng 11, những đặc tính giống phân bón của phân chim (guano) cũng được người châu Âu biết tới lần đầu tiên nhờ những ghi chép của ông trong giai đoạn này. Sau Peru, von Humboldt và Bonpland phải trải qua một cuộc đi biển đầy sóng gió để tới México, nơi họ ở lại trong một năm, di chuyển qua nhiều thành phố trước khi tới Hoa Kỳ trong một thời gian ngắn. Hai người trở về châu Âu trên con thuyền buồn xuất phát từ cửa sông Delaware và tới đích tại Bordeaux ngày 3 tháng 8 năm 1804.

Danh tiếng vượt trội

Chân dung tự họa năm 1814

Trong giai đoạn đầu thế kỉ 18 ở châu Âu có lẽ von Humboldt là một trong những người nổi tiếng nhất. Các viện hàn lâm, cả ở Phổ và nước ngoài đều muốn mời ông trở thành viện sĩ chính thức. Vua Friedrich Wilhelm III của Phổ thậm chí còn ban cho von Humboldt một chỗ chính thức trong nội các của Hoàng gia với mức lương 2500 thaler (sau đó tăng gấp đôi) mà gần như không phải làm gì. Ở nước Pháp von Humboldt cũng được cả giới khoa học và xã hội Paris hết sức trọng vọng tuy vậy ông vẫn quyết định về sống cố định ở Berlin từ ngày 12 tháng 5 năm 1827. Tại đây ông tiến hành các nghiên cứu về từ trường Trái Đất. Theo lời đề nghị của Alexander, chính quyền Nga đã cho xây dựng một loạt các trạm nghiên cứu từ trường và khí tượng ở Bắc Á.

Thám hiểm nước Nga

Bản đồ cuộc thám hiểm của Humboldt đến Nga năm 1829

Năm 1811, và một lần nữa vào năm 1818, các dự án thám hiểm châu Á đã được đề xuất cho Humboldt, đầu tiên là bởi chính phủ Nga của Sa hoàng Nicholas I, và sau đó là bởi chính phủ Phổ; nhưng trong mỗi lần, những hoàn cảnh bất lợi đã cản trở. Mãi đến khi bước sang tuổi sáu mươi, ông mới tiếp tục vai trò nhà thám hiểm vì lợi ích khoa học như trước đây.

Bộ trưởng Tài chính Nga, Bá tước Georg von Cancrin, đã liên hệ với Humboldt về khả năng sử dụng tiền tệ dựa trên bạch kim ở Nga và mời ông đến thăm dãy núi Ural. Humboldt không mấy lạc quan về tiền tệ dựa trên bạch kim, khi bạc vẫn là tiêu chuẩn tiền tệ thế giới. Nhưng lời mời đến thăm Ural rất hấp dẫn, đặc biệt là vì Humboldt từ lâu đã mơ ước được đến châu Á. Ông muốn đến Ấn Độ và đã nỗ lực đáng kể để thuyết phục Công ty Đông Ấn Anh cho phép một chuyến đi, nhưng những nỗ lực đó đã không thành công.[2]

Khi Nga nhắc lại lời mời trước đó với Humboldt, ông đã chấp nhận.[3] Người Nga tìm cách lôi kéo Humboldt bằng cách khơi gợi sự quan tâm lâu dài của ông đối với các địa điểm khai thác mỏ, nhằm mục đích khoa học so sánh cho Humboldt, nhưng cũng để người Nga có được kiến ​​thức chuyên môn về tài nguyên của họ. Đối với Humboldt, lời hứa tài trợ chuyến đi của nhà vua Nga là vô cùng quan trọng, vì khối tài sản thừa kế 100.000 thaler của Humboldt đã hết và ông sống nhờ lương hưu của chính phủ Phổ là 2.500–3.000 thaler với tư cách là thị thần của nhà vua. Chính phủ Nga đã ứng trước 1.200 chervontsev ở Berlin và thêm 20.000 chervontsev khi ông đến Saint Petersburg.[4]

Humboldt rất muốn đi du lịch không chỉ đến dãy Ural mà còn băng qua thảo nguyên Siberia đến biên giới Nga với Trung Quốc. Humboldt đã viết thư cho Cancrin nói rằng ông dự định học tiếng Nga để đọc các tạp chí khai thác mỏ bằng ngôn ngữ này.[5] Khi các chi tiết của chuyến thám hiểm được hoàn thiện, Humboldt nói rằng ông sẽ đi đến Nga trên cỗ xe ngựa riêng của người Pháp, cùng với một người hầu người Đức, cũng như Gustav Rose, một giáo sư hóa học và khoáng vật học. Ông cũng mời Christian Gottfried Ehrenberg tham gia chuyến thám hiểm để nghiên cứu vi sinh vật dưới nước ở Hồ BaikalBiển Caspi. Bản thân Humboldt rất muốn tiếp tục nghiên cứu về từ tính của núi và các mỏ khoáng sản. Như thường lệ trong nghiên cứu của mình, ông mang theo các dụng cụ khoa học để thực hiện các phép đo chính xác nhất.[6] Người Nga đã sắp xếp các công việc địa phương, bao gồm chỗ ở, ngựa và đoàn tùy tùng đi kèm. Chức danh của Humboldt trong chuyến thám hiểm là một quan chức của Bộ Mỏ. Khi đoàn thám hiểm tiến gần đến các khu vực nguy hiểm, ông phải di chuyển trong một đoàn xe hộ tống.

Về thể chất, Humboldt vẫn có sức khỏe tốt, mặc dù tuổi đã cao, ông viết thư cho Cancrin: "Tôi vẫn đi bộ rất nhẹ nhàng, chín đến mười giờ mà không nghỉ ngơi, bất chấp tuổi tác và mái tóc bạc của tôi".[7]

Từ tháng 5 đến tháng 11 năm 1829, ông và đoàn thám hiểm ngày càng đông đã đi qua vùng đất rộng lớn của đế chế Nga từ sông Neva đến sông Yenisei, hoàn thành quãng đường 9.614 dặm (15.472 km) trong vòng 25 tuần. Humboldt và đoàn thám hiểm di chuyển bằng xe ngựa trên những con đường được bảo trì

Tem bưu chính năm 1959 của Liên Xô.

tốt, tiến độ nhanh chóng nhờ việc thay ngựa tại các trạm dừng chân. Đoàn thám hiểm đã tăng lên với Johann Seifert, một thợ săn và nhà sưu tập mẫu vật động vật; một quan chức khai thác mỏ người Nga; Bá tước Adolphe Polier, một trong những người bạn của Humboldt từ Paris; một đầu bếp; cộng thêm một đội Cossack để bảo vệ. Ba cỗ xe ngựa được chất đầy người, đồ tiếp tế và dụng cụ khoa học. Để các phép đo từ tính của Humboldt được chính xác, họ mang theo một chiếc lều không có sắt.[8] Chuyến thám hiểm này khác với các chuyến đi đến châu Mỹ Latinh của ông với Bonpland, khi chỉ có hai người và đôi khi có người hướng dẫn địa phương đi cùng. Chính phủ Nga quan tâm đến việc Humboldt tìm kiếm triển vọng khai thác mỏ và phát triển thương mại của vương quốc và đã nói rõ rằng Humboldt không được điều tra các vấn đề xã hội, cũng như không được chỉ trích điều kiện sống của nông nô Nga. Trong các ấn phẩm của mình về châu Mỹ thuộc Tây Ban Nha, ông đã bình luận về điều kiện sống của người dân bản địa và lên án chế độ nô lệ da đen, nhưng điều đó xảy ra rất lâu sau khi ông rời khỏi những vùng lãnh thổ đó.[9] Như Humboldt đã phát hiện ra, chính phủ kiểm soát chặt chẽ đoàn thám hiểm, ngay cả khi đoàn thám hiểm cách Moscow 1.000 dặm (1.600 km), với các quan chức chính quyền địa phương chào đón đoàn thám hiểm ở mỗi điểm dừng chân. Lộ trình được lên kế hoạch với Tobolsk là điểm đến xa nhất, sau đó là trở về Saint Petersburg.

Humboldt đã viết thư cho Bộ trưởng Nga Cancrin rằng ông đang kéo dài chuyến đi của mình, biết rằng bức thư sẽ không đến tay ông kịp thời để hủy bỏ kế hoạch. Càng đi về phía đông vào vùng lãnh thổ hoang dã hơn, Humboldt càng thích thú. Họ vẫn tiếp tục đi theo Đường cao tốc Siberia và đạt được tiến độ xuất sắc, đôi khi đi được 160 km trong một ngày.[10] Mặc dù họ bị chặn lại vào cuối tháng 7 và được cảnh báo về sự bùng phát bệnh than, Humboldt vẫn quyết định tiếp tục bất chấp nguy hiểm. "Ở tuổi của tôi, không nên trì hoãn bất cứ điều gì".[11]

Mặc dù chuyến đi được thực hiện với tất cả những lợi thế do sự bảo trợ trực tiếp của chính phủ Nga mang lại, nhưng nó diễn ra quá nhanh để có thể mang lại lợi ích về mặt khoa học. Việc điều chỉnh ước tính phóng đại phổ biến về độ cao của cao nguyên Trung Á, và dự đoán về việc phát hiện ra kim cương trong các bãi đãi vàng ở dãy Ural, là những khía cạnh quan trọng của những chuyến đi này. Cuối cùng, cuộc thám hiểm kéo dài 8 tháng, đi được 15.500 km, dừng lại ở 658 trạm bưu điện và sử dụng 12.244 con ngựa.[12]

Một nhà văn cho rằng "Không có gì hoàn toàn như Humboldt mong muốn. Toàn bộ cuộc thám hiểm là một sự thỏa hiệp."[13] Hoàng đế Nga đã mời Humboldt trở về Nga, nhưng Humboldt đã từ chối vì ông không tán thành những hạn chế của Nicholas đối với quyền tự do đi lại của ông trong suốt cuộc thám hiểm và khả năng tự do báo cáo về nó.[14] Humboldt đã xuất bản hai tác phẩm về cuộc thám hiểm Nga, đầu tiên là Fragments de géologie et de climatologie asiatiques vào năm 1831, dựa trên các bài giảng mà ông đã trình bày về chủ đề này. Năm 1843, ông hoàn thành bộ ba tập Asie Centrale,[15] mà ông dành tặng cho Sa hoàng Nicholas, mà ông gọi là "một bước đi không thể tránh khỏi, vì cuộc thám hiểm được thực hiện bằng chi phí của ông ấy".[16] Tính đến năm 2016, những tác phẩm này vẫn chưa được dịch sang tiếng Anh.[17] Chuyến thám hiểm nước Nga năm 1829 khi ông đã già ít được biết đến hơn nhiều so với những chuyến du hành kéo dài 5 năm ở châu Mỹ thuộc Tây Ban Nha, vốn đã tạo ra nhiều tác phẩm được xuất bản trong nhiều thập kỷ kể từ khi ông trở về năm 1804. Tuy nhiên, nó đã cung cấp cho Humboldt dữ liệu so sánh cho nhiều ấn phẩm khoa học sau này của ông.

Giai đoạn sau

Các nhiệm vụ ngoại giao

Trong khoảng thời gian từ 1830 đến 1848, von Humboldt được vua Louis-Philippe I của Pháp giao một số nhiệm vụ ngoại giao nhờ vào những mối quan hệ rộng rãi của ông. Ngày 8 tháng 4 năm 1836 người anh trai Wilhelm von Humboldt chết trên tay của Alexander, sự kiện này đã ảnh hưởng lớn tới giai đoạn cuối đời của ông: "Tôi đã mất đi một nửa bản thân".

Sau khi vua Frederick William IV của Phổ lên ngôi tháng 6 năm 1840, von Humboldt lại càng được trọng dụng và ông nhiều việc tới mức chỉ được ngủ vài giờ mỗi ngày ngay trên bàn làm việc.

Tác phẩm Kosmos

Giai đoạn sau của cuộc đời, Alexander von Humboldt vẫn không ngừng nghỉ các hoạt động nghiên cứu khoa học của mình. Ông bắt tay vào viết bộ sách Kosmos với nỗ lực thống nhất các nhánh kiến thức khác nhau của thế giới. Hai tập đầu tiên của bộ sách được xuất bản vào giữa những năm 18451847. Tập thứ 3 và thứ 4 được xuất bản vào khoảng thời gian từ 1850 đến 1858 trong khi một phần bản thảo của tập thứ 5 được xuất bản vào năm 1862 sau khi von Humboldt qua đời.

Sức khỏe suy sụp và qua đời

Ngày 24 tháng 2 năm 1857, von Humboldt gặp phải một cơn tai biến mạch máu não nhưng không để lại hậu quả lớn.[18] Chỉ đến mùa Đông năm 1858 - 1859 thì sức khỏe của ông mới bắt đầu suy giảm nhanh chóng. Alexander von Humboldt qua đời lặng lẽ ngày 6 tháng 5 năm 1859, khi này ông đã 89 tuổi. Những lời cuối cùng của ông được cho là "Những tia nắng này thật rực rỡ! Chúng dường như đang gọi Trái Đất lên Thiên Đường!"[19] Thi hài của ông được đưa đi long trọng qua các đường phố Berlin, trên một cỗ xe tang do sáu con ngựa kéo. Các thị thần hoàng gia dẫn đầu đoàn rước, mỗi người được giao nhiệm vụ mang một chiếc gối có huy chương và các huân chương danh dự khác của Humboldt. Gia đình mở rộng của Humboldt, hậu duệ của anh trai ông là Wilhelm, đã đi bộ trong đám rước. Quan tài của Humboldt được thái tử nhiếp chính đón tại cửa nhà thờ. Ông được chôn cất tại nơi an nghỉ của gia đình ở Tegel, bên cạnh anh trai Wilhelm và chị dâu Caroline.[20]

Đời tư

Phần lớn đời tư của von Humboldt cho đến nay vẫn là điều bí ẩn vì ông đã thiêu hủy toàn bộ những thư từ cá nhân của mình. Tuy vậy vào năm 1908 nhà nghiên cứu giới tính Paul Näcke cùng cộng sự Magnus Hirschfeld đã đưa ra những nghiên cứu về việc von Humboldt có tham gia vào những nhóm đồng tính ở Berlin.[21] Trong suốt cuộc đời mình, von Humboldt thường bộc lộ những cảm xúc khá mạnh mẽ với phái nam. Ông viết cho người lính Reinhard von Haeften rằng: "Tôi biết rằng tôi chỉ sống thông qua anh, Reinhard đáng quý của tôi, và rằng tôi chỉ có thể hạnh phúc khi có sự có mặt của anh".[22] Chưa từng lấy vợ, Alexander chỉ có hai mối quan hệ tình cảm với người khác giới trong đời, lần đầu tiên là với người vợ xinh đẹp của Marcus Herz, thầy giáo của ông, và lần thứ hai là một thời gian chung sống ngắn ngủi với người đàn bà có tên Pauline Wiesel ở Paris năm 1808.[23]

Vinh danh

Các danh pháp khoa học

Trong những chuyến thám hiểm của mình, Alexander von Humboldt đã miêu tả rất nhiều đặc điểm địa lý và loài sinh vật còn chưa được giới khoa học châu Âu biết tới cho đến lúc đó. Vì vậy có rất nhiều đặc điểm địa lý cũng như các loài sinh vật có danh pháp khoa học đặt theo tên của nhà thám hiểm.

Loài sinh vật
Đặc điểm địa lý
  • Vịnh Humboldt - Vịnh ở Nam California
  • Hải lưu Humboldt - Dòng chảy ở bờ biển phía Tây của Nam Mỹ
  • Sông Humboldt
  • Đầm lầy Humboldt
  • Dãy núi Đông và Tây Humboldt.

Tên địa danh

Tên của Alexander von Humboldt đã được đặt cho rất nhiều địa danh ở Hoa Kỳ, ví dụ như Humboldt, South Dakota, Humboldt, Tennessee hay Humboldt, Kansas. Tên của ông cũng được đặt cho Vườn quốc gia Alejandro de HumboldtCuba và Rừng quốc gia Alexander von Humboldt ở Peru.

Quỹ Alexander von Humboldt

Sau khi von Humboldt qua đời, bạn bè và đồng nghiệp của ông đã lập ra Quỹ Alexander von Humboldt (Stiftung) để khuyến khích các nhà khoa học trẻ. Mặc dù đã hai lần bị mất hết tài sản sau thời kì Siêu lạm phát những năm 1920Chiến tranh thế giới thứ hai, quỹ đã được tái khôi phục với sự hỗ trợ của chính phủ Đức để tặng thưởng cho các nhà khoa học trẻ trong và ngoài nước Đức. Quỹ này hiện đóng một vai trò quan trọng trong việc thu hút các nhà nghiên cứu nước ngoài tới Đức làm việc cũng như gửi các nhà khoa học Đức ra nước ngoài.

Tham khảo

  1. Helmut Thielicke, Modern Faith and Thought, William B. Eerdmans Publishing, 1990, p. 174.
  2. Wulf, Theodor (ngày 8 tháng 5 năm 2018), "The Laws of Thermodynamics", Modern Physics, Routledge, tr. 174–200, ISBN 978-0-203-70476-9, truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2026
  3. Depmeier, Wulf; Fischer, Reinhard X. (ngày 1 tháng 4 năm 2015). "Special Issue: Zeolites". Zeitschrift für Kristallographie - Crystalline Materials. Quyển 230 số 4. tr. 199–199. doi:10.1515/zkri-2015-5001. ISSN 2196-7105.
  4. Antonovskiy, Alexander Yu. (2021). "Alexander von Humboldt and Science Policy". Voprosy Filosofii. Số 2. tr. 24–28. doi:10.21146/0042-8744-2021-2-24-28. ISSN 0042-8744.
  5. Howes, Homer A. (tháng 5 năm 1955). "Historian's report". Journal of Allergy. Quyển 26 số 3. tr. 283–285. doi:10.1016/0021-8707(55)90026-5. ISSN 0021-8707.
  6. Kenney, Sylvia W.; Dufay, Guillaume; Feininger, Laurence (tháng 6 năm 1955). "Et in terra De Quaremiaux". Notes. Quyển 12 số 3. tr. 479. doi:10.2307/893164. ISSN 0027-4380.
  7. Masur, Gerhard; de Terra., Helmut (tháng 10 năm 1955). "Humboldt: The Life and Times of Alexander Von Humboldt 1769-1859". The American Historical Review. Quyển 61 số 1. tr. 124. doi:10.2307/1845358. ISSN 0002-8762.
  8. Wulf, Christoph (ngày 1 tháng 12 năm 2015). "Bildung, kulturelles Lernen und philosophische Reflexion als Bedingungen gesellschaftlicher Entwicklung". Paragrana. Quyển 24 số 2. tr. 191–202. doi:10.1515/para-2015-0217. ISSN 2196-6885.
  9. "Wolf (wulf)", The Deorhord, Princeton University Press, tr. 205–216, ngày 20 tháng 2 năm 2024, ISBN 978-0-691-26099-0, truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2026
  10. "Osteopetrosis", Diagnostic Imaging: Spine, Elsevier, tr. 206–207, 2015, ISBN 978-0-323-37705-8, truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2026
  11. "Appendix B. Interviewees Quoted in the Text", Responding to Human Trafficking, University of Pennsylvania Press, tr. 207–208, ngày 31 tháng 12 năm 2015, truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2026
  12. Engelhardt, G. (tháng 12 năm 1900). "Zur Lehre der postoperativen Seelenstörungen". Deutsche Zeitschrift für Chirurgie. Quyển 58 số 1–2. tr. 46–94. doi:10.1007/bf02797858. ISSN 0367-0023.
  13. Ausberg, Laura; Ciroth, Andreas; Feifel, Silke; Franze, Juliane; Kaltschmitt, Martin; Klemmayer, Inga; Meyer, Kirsten; Saling, Peter; Schebek, Liselotte (2015), "Lebenszyklusanalysen", Umweltbewertung für Ingenieure, Berlin, Heidelberg: Springer Berlin Heidelberg, tr. 203–314, ISBN 978-3-642-36988-9, truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2026
  14. Kenney, Sylvia W.; Dufay, Guillaume; Feininger, Laurence (tháng 6 năm 1955). "Et in terra De Quaremiaux". Notes. Quyển 12 số 3. tr. 479. doi:10.2307/893164. ISSN 0027-4380.
  15. de Humboldt, A. (1842). "Asie Centrale. Recherches sur les Chaines de Montagnes et la Climatologie comparee". Journal of the Royal Geographical Society of London. Quyển 12. tr. 269. doi:10.2307/1798007. ISSN 0266-6235.
  16. "Abbreviations and publishers of journals quoted in this volume". Vacuum. Quyển 5. tháng 10 năm 1955. tr. 341–345. doi:10.1016/0042-207x(55)90041-5. ISSN 0042-207X.
  17. Greve, Wulf (2013), "Aquatic Plants and Animals", Phenology: An Integrative Environmental Science, Dordrecht: Springer Netherlands, tr. 433–450, ISBN 978-94-007-6924-3, truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2026
  18. "Clerke, Agnes Mary (1842–1907)", Oxford Dictionary of National Biography, Oxford University Press, ngày 6 tháng 2 năm 2018, truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2026
  19. "Editions and Analyses Quoted", Valentine and Orson, Columbia University Press, tr. 269–279, ngày 31 tháng 12 năm 1929, ISBN 978-0-231-89913-0, truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2026
  20. Voutsinas, D. (1955). "La qualification et la fonction du psychologue au VIe congrès de l'U.N.A.R. (Montpellier, 23-26 octobre 1954)". Bulletin de psychologie. Quyển 8 số 6. tr. 368–369. doi:10.3406/bupsy.1955.6494. ISSN 0007-4403.
  21. Havelock Henry Ellis (1927). "Sexual Inversion". Studies in the Psychology of Sex. Quyển 2. tr. 39.
  22. Helmut de Terra, The Life and Times of Alexander Von Humboldt, Alfred A. Knopf, New York 1955, tr. 63
  23. Helferich, Gerard (2004). Humbold't Cosmos. tr. 312.

Liên kết ngoài