Bước tới nội dung

Dự tần (Đạo Quang)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Thanh Tuyên Tông Dự Tần
清宣宗豫嫔
Đạo Quang Đế Tần
Thông tin chung
Sinh2 tháng 11 năm 1816
Mất28 tháng 8 năm 1897
Tử Cấm Thành, Bắc Kinh
An tángMộ Đông lăng (慕東陵), Thanh Tây lăng
Phối ngẫuThanh Tuyên Tông
Đạo Quang Hoàng đế
Tước hiệu[Linh Thường tại; 玲常在]
[Thượng Đáp ứng; 瑺答应]
[Hoàng khảo Thượng Thường tại; 皇考瑺常在]
[Hoàng tổ Thượng Quý nhân; 皇祖瑺贵人]
[Hoàng tổ Dự Tần; 皇祖豫嫔]

Dự Tần Thượng Giai thị (chữ Hán: 豫嫔尚佳氏; 2 tháng 11 năm 1816 - 28 tháng 8 năm 1897), là một phi tần của Thanh Tuyên Tông Đạo Quang Đế trong lịch sử Trung Quốc.

Thân thế

Dự Tần xuất thân từ Thượng Giai thị (尚佳氏) Thẩm Dương, là Hán nhân nhập kỳ, thủy tổ nhập kỳ của bà tên là Thượng Đại Đức (尚大德), đầu thời Thanh được biên vào Bao y kỳ tịch, là Chính Bạch kỳ Bao y Tá lĩnh Hạ nhân. Sau khi Thượng Đại Đức nhập kỳ, con trai ông là Thượng Hưng (尚兴) sĩ chí Nội vụ phủ Lang trung kiêm Tá lĩnh, Thượng Hưng sinh được 6 con trai, lần lượt là Thượng Chí Lập (尚志立), Thượng Chí Kiệt (尚志杰), Thượng Chí Thuấn (尚志舜), Thượng Chí Phú (尚志富), Thượng Chí Cường (尚志强), Thượng Chí Nghiêu (尚志尧), trong đó Thượng Chí Kiệt và Thượng Chí Thuấn đều sĩ chí Nội vụ phủ Đại thần, là một trong những thế gia Nội vụ phủ có tiếng đầu thời Thanh, Dự Tần chính là cháu gái chắt của Thượng Chí Kiệt.

Căn cứ theo "Phổ điệp", Thượng Chí Kiệt có con trai Thượng Minh (尚明), Thượng Minh thú thê Hứa thị, sinh con trai Thượng Phúc Hải (尚福海). Phúc Hải sĩ chí Giang Ninh Chức tạo, kế thê của ông là Ô Nhã thị là cháu gái nội của Thừa Ân công Bác Khải (博启), cháu gái họ của Hiếu Cung Nhân Hoàng hậu, cũng tức là bà nội của Dự Tần. Phụ thân của Dự Tần là con trai út Thượng Như Khánh (尚如庆) của Phúc Hải, là Bách Đường A của Nội vụ phủ, ông sinh được 3 con trai, lần lượt tên là Thượng Anh Huệ (尚英惠), Thượng Anh Tú (尚英秀), Thượng Anh Khải (尚英启). Hiện tại biết được Anh Huệ (Anh Quế) là anh ruột của Dự Tần[1], Anh Khải thì là em trai ruột của Dự Tần[2]. Ngoài ra, Dự Tần có một vị bác tên là Thượng Thiện Khánh (尚善庆), sĩ chí Nội vụ phủ Viên ngoại lang, kế thê của ông là Cảnh thị là cháu gái ruột của Thuần Ý Hoàng quý phi.

Đại Thanh tần phi

Nhìn từ "Đương án cung phân", năm Đạo Quang thứ 9 (1829) vẫn chưa có ghi chép về Dự Tần, đến năm Đạo Quang thứ 10 (1830), bà đã làm “Linh Thường tại[3] tại sách. Do đó có thể biết, Dự Tần hẳn là trước năm Đạo Quang thứ 10 thông qua tuyển Nội vụ phủ Tú nữ được tuyển làm Quan nữ tử nhập cung, và nhận được ân sủng trước tháng 11 năm Đạo Quang thứ 10, từ đó được phong làm Linh Thường tại (玲常在).

Sau khi nhập cung, Dự Tần dường như vẫn luôn sống ở Diên Hi cung[4], về sau sau khi bị giáng vị vẫn sống tại Diên Hi cung[5], đương thời chủ vị của Diên Hi cung là Điềm Tần. Về nguyên nhân Dự Tần bị giáng vị, căn cứ đương án, tháng 10 năm Đạo Quang thứ 19 (1839), Đại Nữu (大妞) 16 tuổi là Quan nữ tử dưới quyền Dự Tần vì bệnh mà bị giao xuất, trước khi giao xuất, vì “làm bẩn hỏng đồ thêu” từng chịu phạt 40 gậy[6]. Ngày 13 tháng 12 cùng năm, Đại Nữu 15 tuổi là Quan nữ tử dưới quyền Dự Tần vì ăn trộm mà bị giao xuất, trước khi giao xuất, vì nhiều lần ăn trộm tơ nhung từng chịu phạt 40 gậy, đồng thời bị phạt bản 8 cái lên hai má trái phải[7]. Nhìn từ tập tục và cung quy của Thanh cung, hai vị cung nữ này chịu phạt thuộc về hiện tượng bình thường. Sau khi hai vị cung nữ này xuất cung, lại có một vị cung nữ bổ vào dưới quyền Dự Tần, thế nhưng cũng vào ngày mồng 1 tháng 6 năm sau bị giao xuất, lý do tương đối phức tạp, dẫn đương án như sau:

    • [本月初一日,敬事房交出延禧宫女子一名大妞,系因愚笨出宫。臣等随即派员详细查验,据该员禀称,查得: 交出延禧宫女子一名,现年十六岁,于去年十一月初五日进宫,在玲常在位下当差。进宫后,因学做女工粗鲁愚笨,曾令太极监责打四十板。今年五月间,不记日期,因过门无意踩毙猫羔,脸上被打数下。后因采食院内树上杏实,两手被打数板。又因喂猫时无意踩伤猫羔,次日猫死,左右胳膊被打十余板。再因猫抓其手,随将猫打伤,掌心被打十余板,次日猫死,尚未责罚。五月二十八日,因无意踢碎洗手瓷盆,两手被罚二十板,皆系主位自行责罚。 现验得该女子脸上青肿,实系板片责打,伤痕亦不甚重。以此等情由,禀复上闻,谨将臣等遵旨查明原委据实奏闻。][8]
    • Ngày mồng 1 tháng này, do Kính sự phòng giao xuất một danh Nữ tử Đại Nữu của Diên Hi cung xuất cung vì ngu ngốc, thần đẳng lập tức phái viên chức kiểm tra tỉ mỉ, nay theo viên chức đó bẩm xưng, tra được: Giao xuất một danh Nữ tử ở Diên Hi cung, xưng là 16 tuổi, vào ngày mồng 5 tháng 11 năm ngoái tiến cung, làm việc dưới quyền Linh Thường tại. Sau khi tiến cung, vì học làm nữ công thô lỗ ngu ngốc, từng lệnh thái giám đánh 40 bản. Trong tháng 5 năm nay, không nhớ ngày tháng, vì qua lại cửa, vô ý giẫm chết mèo con, trên mặt bị đánh vài cái. Sau vì hái ăn quả hạnh trên cây trong viện, hai tay bị đánh vài bản. Lại vì lúc cho mèo ăn vô ý giẫm thương mèo con, qua ngày hôm sau mèo chết, bị đánh mười mấy bản vào cánh tay trái phải. Lại vì mèo cào tay ả, liền đánh thương con mèo, bị đánh mười mấy bản vào lòng bàn tay. Qua hôm sau mèo chết, vẫn chưa trách phạt. Ngày 28 tháng 5, vì vô ý đá làm nứt chậu sứ rửa tay, hai tay bị phạt 20 bản, đều là do Chủ vị tự mình trách phạt... Nay nghiệm được chỗ sưng xanh trên mặt Nữ tử đó, thực chất là do đánh bằng bản, vết thương cũng không nặng lắm. Những lý do như vậy. Bẩm phúc lên trên, cẩn tương (kính đem) nguyên do mà bọn thần tuân chỉ tra rõ tấu văn theo đúng sự thật.”

Trong phần đương án này, quan trọng nhất chính là câu “đều là do Chủ vị tự mình trách phạt”. Trong Thanh cung, Hậu cung chủ vị xử phạt cung nữ, thái giám dưới tay, thông thường đều cần có Thủ lĩnh thái giám của Chủ vị có mặt, và do người khác thi hành. Dự Tần “tự mình trách phạt” không phù hợp với quy củ cung đình. Cũng chính vào ngày này, Dự Tần từ Linh Thường tại bị giáng vị thành Thượng Đáp ứng (瑺答应). Cho nên, có học giả nhận định việc giáng vị của Dự Tần có liên quan đến việc bà lăng ngược cung nữ[9].

Sau khi bị giáng vị, Dự Tần trong triều Đạo Quang không còn nhận được tấn thăng nữa, đánh mất sủng ái của Tuyên Tông. Năm Đạo Quang thứ 25 (1845), sau khi Diên Hi cung hỏa hoạn, bà dường như chuyển đến Trữ Tú cung cư trú[10]. Năm Đạo Quang thứ 30 (1850), Đạo Quang Đế qua đời, con trai thứ tư của ông là Thanh Văn Tông Hàm Phong Đế nối ngôi, tấn tôn cho bà là Hoàng khảo Thượng Thường tại (皇考尚常在). Năm Hàm Phong thứ 11 (1861), Thanh Mục Tông Đồng Trị Đế nối ngôi, sang ngày 10 tháng 10 (âm lịch) thì ra chỉ tấn tôn bà làm Hoàng tổ Thượng Quý nhân (皇祖尚贵人).

Năm Đồng Trị thứ 13 (1874), Thanh Đức Tông Quang Tự Đế nối ngôi, tấn tôn bà làm Hoàng tổ Dự Tần (皇祖豫嫔). Căn cứ theo tài liệu của Nội vụ phủ có tên Hồng xương thông dụng (鴻稱通用), phong hào Dự có Mãn văn là 「Sebjengge」[11], có nghĩa là "Khoái lạc", "Hoan lạc". Ngày 28 tháng 8 năm Quang Tự thứ 23 (1897), Dự Tần 82 tuổi hoăng thệ, là người hoăng thệ cuối cùng trong các Hậu cung chủ vị của Đạo Quang.

Tham khảo

  1. 《奏为尊封佳嫔等位代奏谢恩事》,咸丰十一年十月十五日,档案号:05-0809-065,中国第一历史档案馆藏。
  2. 《为尚贵人晋封豫嫔率阖族人谢恩事的呈文》,同治十三年十一月二十三日,档案号:05-0879-058,中国第一历史档案馆藏。
  3. 《呈皇太后年例宫分清单》,道光十年十一月,档案号:05-0659-072,中国第一历史档案馆藏。
  4. 《奏为查验延禧宫出宫女子受责情形事》,道光十九年十月二十三日,档案号:05-0708-039,中国第一历史档案馆藏。
  5. 《奏为查验延禧宫交出女子一名情形事》,道光二十年六月初三日,档案号:05-0713-029,中国第一历史档案馆藏。
  6. 《奏为查验延禧宫出宫女子受责情形事》,道光十九年十月二十三日,档案号:05-0708-039,中国第一历史档案馆藏。
  7. 《奏为宫内交出偷窃女子一名验得有伤情形事》,道光十九年十二月十四日,档案号:05-0709-042,中国第一历史档案馆藏。
  8. 《奏为查验延禧宫交出女子一名情形事》,道光二十年六月初三日,档案号:05-0713-029,中国第一历史档案馆藏。
  9. 赵玉敏:《道光帝“玲常在”出身与名号考补》,《历史档案》2012年第4期。
  10. 《为报明由敬事房接出储秀宫尚贵人位下当差官女子大妞因笨退出并无受过责打事》,无朝年,档案号:05-13-002-000776-0059,中国第一历史档案馆藏。
  11. 《为咨取恭办豫嫔金棺前行各次祭喇嘛禅僧念经铺设经堂按例核算需用黑毡事致内务府》,光绪二十五年二月二十六日,档案号:05-13-002-000325-0040,中国第一历史档案馆藏。