Bước tới nội dung

Hội đồng cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Hội đồng cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam


Thành viên Ủy ban
Lãnh đạoTrường ChinhNguyễn Văn LinhĐỗ Mười
Cơ cấu tổ chức
Cơ cấu Tổ chức cấp trênBan Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
Phương thức liên hệ
Trụ sở
Địa chỉHà Nội
Lịch sử
Thành lậpnăm 1986
Kết thúcnăm 2001
Cơ quan tương đương

{{{a}}}

Hội đồng Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam hay còn được gọi Hội đồng cố vấn Trung ương là cơ quan không được ghi trong Điều lệ Đảng nhưng có vị trí quan trọng trong bộ máy lãnh đạo từ năm 1986-2001.

Thành viên

Thành viên của Hội đồng cố vấn Trung ương được gọi là Cố vấn Ban chấp hành Trung ương và thường là các lãnh đạo chủ chốt trong bộ máy chính trị đã về hết nhiệm kỳ.

Các Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương thường là các lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Nhà nước Việt Nam từng đảm nhiệm một trong các chức danh sau:

  • Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
  • Chủ tích nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (trước đây là Chủ tịch Hội đồng Nhà nước)
  • Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (trước đây là Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng)

Riêng đối với trường hợp Lê Đức Thọ, dù không đảm nhiệm các chức danh trên nhưng do có uy tín chính trị to lớn nên vẫn được suy tôn làm Cố vấn.

Bối cảnh xuất hiện

Hội đồng xuất hiện trong bối cảnh Việt Nam bước sang giai đoạn "Đổi mới" và lãnh đạo phải thay đổi tư duy từ "Lãnh tụ hết đời " (mà nhân vật cuối cùng là cố Tổng Bí thư Lê Duẩn mất năm 1986) sang tư duy lãnh đạo theo "Nhiệm kỳ". Tuy thế các lãnh đạo lâu năm và có ảnh hưởng như Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ vẫn cần có 1 chức danh trong Đảng để tham gia công tác lãnh đạo. Một nguyên nhân nữa đó là sự xuất hiện của mô hình Ủy ban cố vấn của Đảng Cộng sản Trung Quốc năm 1982 nhằm chuyển giao quyền lực, trẻ hóa lãnh đạo một điều mà Việt Nam cũng rất tương đồng khi đó.

Danh sách cụ thể

Hội đồng cố vấn Trung ương tồn tại trong khóa VI, VII, VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Ban Chấp hành

Trung ương Đảng

Cố vấnChức vụNhiệm kỳGhi chú
Khóa VITrường ChinhNguyên Tổng Bí thư, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, Chủ tịch Quốc hội18/12/1986 - 27/6/1991Mất khi đang tại nhiệm
Phạm Văn ĐồngNguyên Thủ tướng Chính phủ
Lê Đức ThọNguyên Ủy viên Bộ Chính trị phụ trách Tổ chức, Tư tưởng, Nội chính và Ngoại giaoMất khi đang tại nhiệm
Khóa VIINguyễn Văn LinhNguyên Tổng Bí thư27/6/1991 - 1/7/1996
Võ Chí CôngNguyên Chủ tịch Hội đồng Nhà nước
Phạm Văn ĐồngNguyên Thủ tướng Chính phủ
Khóa VIIINguyễn Văn LinhNguyên Tổng Bí thư1/7/1996 - 29/12/1997Tất cả xin rút
Võ Chí CôngNguyên Chủ tịch Hội đồng Nhà nước
Phạm Văn ĐồngNguyên Thủ tướng Chính phủ
Khóa VIII (sau hội nghị TW 4)Đỗ MườiNguyên Tổng Bí thư, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng29/12/1997 - 22/4/2001Bầu bổ sung
Lê Đức AnhNguyên Chủ tịch nước
Võ Văn KiệtNguyên Thủ tướng Chính phủ, Quyền Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng

Giải thể

Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (2001), Đại hội và Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam quyết định chấm dứt chế độ cố vấn. Theo lý giải của Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu, việc thôi chế độ Cố vấn là do Ban Chấp hành Trung ương Đảng đánh giá Trung ương đã đủ mạnh mẽ, có đủ khả năng giải quyết các vấn đề quan trọng, không nhất thiết phải cần chế độ cố vấn nữa. [1]

Tuy nhiên, theo Nhà báo Huy Đức trong tác phẩm Bên thắng cuộc, nguyên nhân chế độ Ban Cố vấn bị chấm dứt là do mâu thuẫn giữa Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu và ba cố vấn khóa VIII (Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Võ Văn Kiệt)[2]

Ngoài lề

  • Người giữ chức Cố vấn Trung ương ngắn nhất là Trường Chinh: 18/12/1986 - 30/9/1988 (1 năm 311 ngày)
  • Người giữ chức Cố vấn Trung ương lâu nhất là Phạm Văn Đồng: 18/12/1986 - 29/12/1997 (11 năm 11 ngày)

Tham khảo

  1. Lê Doãn Hợp (ngày 8 tháng 11 năm 2020). "Nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu từng nói gì về việc dừng chế độ cố vấn?". Báo Dân trí.
  2. Huy Đức. "Bên thắng cuộc - Tập 2: Quyền bình - Chương 20: Lê Khả Phiêu và ba ông cố vấn".