Bước tới nội dung

Công tước xứ Normandie

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Huy hiệu của Công quốc Normandie

Công tước xứ Normandie (tiếng Pháp: Duc de Normandie; tiếng Anh: Duke of Normandy) là tước vị của những nhà cai trị Công quốc Normandie ở Tây Bắc nước Pháp vào thời kỳ Trung cổ. Công quốc này được thành lập vào năm 911, sau khi Vua Charles III của Pháp phong đất cho thủ lĩnh người VikingRollo. Hoàng gia Pháp đã 2 lần cho phép công quốc này mở rộng lãnh thổ của mình vào các năm 924 và 933.

Các hậu duệ nam giới của Rollo tiếp tục cai trị Công quốc Normandie cho đến năm 1135. Năm 1202, Vua Philippe II của Pháp tuyên bố Normandy là một thái ấp bị mất và đến năm 1204, quân đội của ông đã chinh phục nó. Sau đó, Normandy vẫn là một đơn vị cấp tỉnh của Vương quốc Pháp, vẫn được gọi là Công quốc Normandie, nhưng chỉ đôi khi được cấp cho một thành viên thuộc Vương tộc Pháp làm "apanage" (tước vị được cấp cho một hoàng tử, con thứ của vua Pháp, người không kế vị ngai vàng).

Bất chấp việc Công quốc Normandie đã bị Pháp thôn tính và sáp nhập vào thế kỷ 13, tất cả các nhà cai trị của Vương quốc Anh đều xưng mình là "Công tước xứ Normandie". Đây là tước hiệu được sử dụng cho dù quân chủ Anh là Vua hay Nữ vương.

Lịch sử tước hiệu

Giáo hoàng Biển Đức VIII, người được tương truyền đã phong tước hiệu Công tước xứ Normandie cho Richard II

Không có tài liệu nào nói đến việc Rollo nắm giữ hoặc sử dụng bất kỳ tước hiệu nào. Con trai và cháu trai của ông, Công tước William Kiếm dàiCông tước Richard I, đã sử dụng các tước hiệu "bá tước" (tiếng La Tinh comes hoặc consul) và "Thân vương" (Princeps).[1] Trước năm 1066, tước hiệu phổ biến nhất của người cai trị xứ Normandy là "Bá tước xứ Normannia" (comes Normanniae) hoặc "Bá tước của người Norman" (comes Normannorum).[2] Tước hiệu Bá tước xứ Rouen (comes Rotomagensis) chưa bao giờ được sử dụng trong bất kỳ tài liệu chính thức nào, nhưng nó đã được sử dụng cho William Kiếm dài và con trai của ông bởi tác giả ẩn danh trong một bài điếu văn (planctus) về cái mất của ông. Bất chấp giả thuyết nào của người Norman về tước hiệu công tước, Adémar de Chabannes vẫn gọi người cai trị Norman là "Bá tước xứ Rouen" vào cuối những năm 1020. Vào thế kỷ XII, nhà sử học người Iceland là Ari Thorgilsson trong Landnámabók của ông đã gọi Rollo là Ruðu jarl (Bá tước xứ Rouen), đây là dẫn chứng duy nhất được chứng thực trong tiếng Bắc Âu cổ, mặc dù đã quá muộn để trở thành bằng chứng cho các tài liệu ở thế kỷ thứ X.[3] Nhà sử học người Norman cuối thế kỷ XI, William xứ Poitiers đã sử dụng tước hiệu "Bá tước xứ Rouen" cho những nhà cai trị người Norman cho đến Richard II. Mặc dù các tài liệu tham khảo về các nhà cai trị Norman đề cập đến tước vị này tương đối thưa thớt và chỉ giới hạn trong các nguồn tường thuật, nhưng vẫn thiếu bằng chứng tư liệu về các tước hiệu của người Norman trước cuối thế kỷ thứ X.[4]

Việc sử dụng tước hiệu công tước (dux) lần đầu tiên được ghi chép lại vào năm 1006, khi Richard II ủng hộ Tu viện Fécamp. Trước đó, nhà văn Richerus đã gọi Richard I là dux pyratorum, nhưng nó chỉ có nghĩa là "thủ lĩnh của những tên cướp biển" chứ không phải là một tước hiệu. Trong thời trị vì của Richard II, tể tướng của triều đình Pháp bắt đầu gọi người cai trị Norman là "Công tước của người Norman" (dux Normannorum).[1] Ngay từ thời trị vì của Công tước William II (1035–1087), người cai trị Normandy có thể tự phong mình là "Thân vương và Công tước, Bá tước xứ Normandy" vì họ không chắc chắn về tước vị của mình.[2] Từ tương đương trong tiếng La Tinh của "Công tước xứ Normandie" là "dux Normanniae", được sử dụng vào năm 1066,[5] nhưng nó không thay thế "dux Normannorum" cho đến thời kỳ Angevin (1144–1204), vào thời điểm mà bản sắc của người Norman đang mờ dần.[6]

Richard I đã thử sử dụng tước hiệu "hầu tước" (marchio) ngay từ năm 966, Vua Lothaire của Pháp cũng sử dụng tước hiệu này.[7] Richard II thỉnh thoảng cũng sử dụng nó, nhưng ông có vẻ thích tước hiệu công tước hơn. Chính sự ưa thích này của ông đối với tước hiệu công tước đã khiến các nhà sử học tin rằng đó là tước hiệu "tự phong" của các nhà cai trị Norman. Chắc chắn nó không được vua Pháp ban cho họ. Vào thế kỷ XII, Tu viện Fécamp lan truyền thông tin rằng tước vị Công tước xứ Normandie đã được trao cho Richard II bởi Giáo hoàng Benedict VIII (trị vì 1012–24). Các tể tướng của triều đình Pháp không thường xuyên sử dụng tước vị này cho đến sau năm 1204, khi Công quốc Normandie bị tước vương quyền.[2]

Lý do thực tế cho việc sử dụng một tước hiệu cao hơn Bá tước là vì các nhà cai trị của xứ Normandy bắt đầu trao tước hiệu Bá tước cho các thành viên trong gia tộc của họ, bản thân nhà cai trị có tước hiệu bá tước không thể phong tước hiệu bá tước cho người khác, chỉ có thể phong các tước vị thấp hơn. Việc tạo ra các Bá tước phụ thuộc vào người cai trị Normandy đòi hỏi người sau phải có một tước hiệu cao hơn. Quá trình tương tự đã được thực hiện ở các Thân vương quốc khác của Pháp vào thế kỷ XI, khi tước hiệu Bá tước được sử dụng rộng rãi hơn và do đó đã bị mất giá trị. Các nhà cai trị Norman tuy vẫn giữ tước hiệu bá tước cho gia đình công tước và không có bất cứ ai nằm ngoài vương tộc Normandy được cấp một bá quốc trong lãnh địa của họ, cho đến khi Helias xứ Saint-Saens được Henry I của Anh phong làm Bá tước xứ Arques vào năm 1106.[2]

Danh sách Bá tước xứ Rouen (911–996)

Nhà Normandy

ChaTên

Sinh – Mất

Tại vịQuan hệ với người tiền nhiệm
Rollo
(Rollon)
k.835/870 – 928/933
911–928Được trao quyền cai trị bởi Hiệp ước Saint-Clair-sur-Epte
William Kiếm dài
(Gllâome I)
893 – 17 tháng 12 năm 942
927–17 tháng 12 năm 942Con trai của Rollo
Richard I
the Fearless
(R'chard Sans-Peux)
28 tháng 8 năm 932 – 20 tháng 11 năm 996
17 tháng 12 năm 942 – 20 tháng 11 năm 996Con trai của William Kiếm dài

Danh sách Công tước xứ Normandie (996–1204)

Nhà Normandy (996–1114)

Chân dungTên

Sinh – Mất

Tại vịHôn nhânQuan hệ với người tiền nhiệmTước vị khác
Richard II
Tốt bụng
(R'chard le Bouon)
978 – 28 tháng 8 năm 1026
996–1026(1) Judith xứ Bretagne
có 6 người con
(kết hôn năm 1000; mất 1017)

(2) Popia xứ Envermeu
có 2 người con
(kết hôn năm 1017)

Con trai của Richard I
Richard III
(R'chard III)
997/1001 – 06 tháng 08 1027
28 tháng 8 năm 1026 – 6 tháng 8 năm 1027Không bao giờ kết hônCon trai của Richard II
Robert I
Nguy nga
(Robèrt le Magnifique)
22 tháng 6 năm 1000 – 1-3 tháng 7 năm 1035
1027–1035Không bao giờ kết hôn
Có mối quan hệ ngoài hôn nhân với Herleva và
một con trai hoặc một con trai và một con gái
Em trai của Richard III
William II
Kẻ chinh phục
(Gllâome le Contchérant)
3 tháng 7 năm 1035 – 9 tháng 9 năm 1087
k.1028 – Ngày 9 tháng 9 năm 1087Mathilde xứ Vlaanderen
10 người con
(cưới 1051/2; mất 1083)
Con trai của Robert IVua của Anh
Robert II
Tất ngắn
(Robèrt Courtheuse)
k.1051 – 3 tháng 2 1134
Ngày 9 tháng 9 năm 1087 – 1106Sybilla xứ Conversano
1 con trai
(sinh 1100; mất ngày 18 tháng 3 năm 1103)
Con trai cả của William II
Henry I
Beauclerc
(Henri I Beauclerc)
k.1068 – 1 tháng 12 năm 1135
1106 – 1 tháng 12 năm 1135(1) Matilda của Scotland
1 con trai và 1 con gái
(sinh 1100; mất 1118)

(2) Adelheid xứ Leuven
không có hậu duệ
(kết hôn năm 1121)

Em trai của Robert II
Con trai của William II
Vua của Anh
William (III)
Clito
(Gllâome Cliton)
25 tháng 10 năm 1102 – 28 tháng 7 năm 1128
(Yêu sách)
1106 – 1128(1) Sibylle xứ Anjou
không có hậu duệ
(sinh 1123; bãi bỏ 1124)

(2) Joanna xứ Montferrat
không có hậu duệ
(sinh 1127; mất 1128)

Con trai cả của Robert IIBá tước xứ Vlaanderen

Nhà Blois (1135 – 1144)

Chân dungTên

Sinh – Mất

Tại vịHôn nhânQuan hệ với người tiền nhiệmTước vị khác
Stephen I
(Étienne I)
1092/1096 – 25 tháng 10, 1154
1135–1144Mathilde I, Nữ Công tước xứ Boulogne
5 người con
(sinh 1136; mất 1152)
Cháu trai William II thông qua Adela xứ Normandie
Cháu trai của Henry I
Vua của Anh

Nhà Plantagenet (1144 – 1259)

Chân dungTên

Sinh – Mất

Tại vịHôn nhânQuan hệ với người tiền nhiệmTước vị khácViệc làm khác
Geoffroy I
Đẹp trai
(Geffrai le Biau)
24 tháng 8 năm 1113 – 7 tháng 9 năm 1151
1144–1150Matilda của Anh
3 người con
(kết hôn năm 1128)
Con rể của Henri IBá tước xứ AnjouChinh phục Normandie từ Étienne I.
Henri II
Curtmantle
(Henri Court-manté)
5 tháng 3 năm 1133 – 6 tháng 7 năm 1189
1150 – 6 tháng 7 năm 1189Aliénor xứ Aquitaine
8 người con
(kết hôn năm 1152)
Con trai của Geoffrey I, em họ của Étienne IVua của Anh
Henry II phong cho con trai là Henry Vua Trẻ làm đồng cai trị. Tuy nhiên, đây là phong tục của người Norman nhằm chỉ định người thừa kế, và Henry Vua Trẻ qua đời trước Henry II cũng như không cai trị theo quyền của riêng mình. Vì vậy Henry Vua Trẻ không được tính là một công tước.
Richard IV
Sư Tử Tâm
(R'chard le Quor de Lion)
8 tháng 9 năm 1157 – 6 tháng 14 năm 1199
3 tháng 9 năm 1189 – 6 tháng 14 năm 1199Berenguela của Navarra
không có con cái
(kết hôn năm 1191)
Con trai của Henri IIVua của Anh
John I
Lackland
(Jean sans Terre)
24 tháng 12 năm 1166 – 19 tháng 10 năm 1216
1199 – 19 tháng 10 năm 1216(1) Isabella, Nữ Bá tước xứ Gloucester
không có con cái
(kết hôn năm 1189; bãi bỏ năm 1199)

(2) Isabelle I xứ Angoulême
5 người con
(kết hôn năm 1200)

Em trai của Richard IV
Con trai của Henry II
Vua của Anh
Lãnh chúa Ireland
Làm mất vùng đất liền của Normandie vào năm 1204
Henry III
(Henri III)
1 tháng 10 năm 1207 – 16 tháng 11 năm 1272
1216 – 4 tháng 12 năm 1259Éléonore xứ Provence
5 người con
(kết hôn năm 1236)
Con trai của John IVua của AnhTừ bỏ vùng đất liền của Normandie và tước hiệu công tước theo Hiệp ước Paris (1259)

Tỉnh của Pháp (1204–1792)

Năm 1204, Vua Pháp tịch thu Công quốc Normandie (chỉ còn Quần đảo Eo Biển nằm dưới quyền kiểm soát của Anh) và sáp nhập vào lãnh thổ của Pháp. Tước hiệu Công tước xứ Normandie sau đó được nắm giữ bởi một số vương tử Pháp.

Năm 1332, Vua Philippe VI trao Công quốc cho con trai Jean, người trở thành Vua Jean II của Pháp vào năm 1350. Vua Jean II sau đó trao Công quốc cho con trai Charles, người trở thành Vua Charles V của Pháp vào năm 1364. Vào năm 1465, do bị ép buộc, Vua Louis XI đã trao Công quốc cho em trai là Charles de Valois, Công tước xứ Berry. Tuy nhiên, Charles không thể nắm giữ Công quốc, và vào năm 1466, Normandie lần nữa bị sáp nhập vào lãnh thổ hoàng gia, trở thành một phần vĩnh viễn của vương quốc. Tước hiệu Công tước xứ Normandie được trao cho một số thành viên cấp dưới của hoàng gia trước khi chế độ quân chủ Pháp bị bãi bỏ vào năm 1792.

  • Jean (con trai Philippe VI, sau này là Vua Jean II của Pháp), 1332–1350.
  • Charles (con trai Jean II của Pháp, sau này là Vua Charles V của Pháp), 1350–1364
  • Charles (em trai Louis XI của Pháp và là Công tước xứ Berry), 1465–1466
  • James, Công tước xứ York, sau này là Vua James II của Anh. Vào ngày 31 tháng 12 năm 1660, vài tháng sau khi Charles II khôi phục ngai vàng Anh và Scotland, Vua Louis XIV đã phong cho James, Công tước xứ York tước hiệu "Công tước xứ Normandie". Đây có thể là hành động thể hiện sự ủng hộ về mặt chính trị.[8]
  • Louis-Charles (con trai của Louis XVI, sau này là Thái tử Pháp và là Vua Louis XVII trên danh nghĩa), 1785–1792.

Tước hiệu hiện nay

Tượng đài

Vào thế kỷ 19, bức tượng của bảy vị công tước đầu tiên được dựng lên tại Falaise, Normandie.[9] Bức tượng miêu tả William Kẻ Chinh phạt đang cưỡi ngựa và được bao quanh bởi các bức tượng của sáu công tước tiền nhiệm.

Tham khảo

  1. 1 2 Marjorie Chibnall, The Normans (Blackwell, 2006), tr. 15–16.
  2. 1 2 3 4 David Crouch, The Image of Aristocracy in Britain, 1000–1300 (Taylor and Francis, 1992), tr. 40–41.
  3. David C. Douglas, "The Earliest Norman Counts", The English Historical Review, 61, 240 (1946): 129–56.
  4. Elizabeth van Houts (ed.), The Normans in Europe (Manchester University Press, 2000), tr. 41, n. 58.
  5. George Beech, "The Participation of Aquitanians in the Conquest of England 1066–1100", in R. Allen Brown, ed., Anglo-Norman Studies IX: Proceedings of the Battle Conference, 1986 (Boydell Press, 1987), tr. 16.
  6. Nick Webber, The Evolution of Norman Identity, 911–1154 (Boydell Press, 2005), tr. 178.
  7. David Crouch, The Normans: The History of a Dynasty (Hambledon Continuum, 2002), tr. 19.
  8. Weir, Alison (1996). 258. Britain's Royal Families: The Complete Genealogy. Revised Edition. Random House, London. ISBN 0-7126-7448-9.
  9. Bản mẫu:Base Mérimée

Đọc thêm

  • Helmerichs, Robert. "Princeps, Comes, Dux Normannorum: Early Rollonid Designators and their Significance". Haskins Society Journal, 9 (2001): 57–77.

Liên kết ngoài