Công trình hạ tầng xã hội

Bản mẫu:Public InfrastructureCơ sở hạ tầng (hay hạ tầng cơ sở) là tập hợp các cơ sở và hệ thống phục vụ một quốc gia, thành phố hoặc khu vực khác,[1] bao gồm các dịch vụ và cơ sở vật chất cần thiết để nền kinh tế, hộ gia đình và doanh nghiệp hoạt động.[2] Cơ sở hạ tầng bao gồm các cấu trúc vật chất công cộng và tư nhân như đường bộ, đường sắt, cầu, phi trường, hệ thống vận tải công cộng, đường hầm, cấp nước, cống rãnh, lưới điện và viễn thông (bao gồm truy cập Internet và băng thông rộng). Nhìn chung, cơ sở hạ tầng được định nghĩa là "các thành phần vật chất của những hệ thống có mối liên hệ với nhau nhằm cung cấp hàng hóa và dịch vụ thiết yếu để hỗ trợ, duy trì hoặc cải thiện chất lượng cuộc sống của xã hội" và duy trì môi trường xung quanh.[3]
Đặc biệt trong bối cảnh cần những biến đổi xã hội to lớn để giảm nhẹ và thích ứng với biến đổi khí hậu, các cuộc thảo luận về cơ sở hạ tầng đương đại thường tập trung vào phát triển bền vững và hạ tầng xanh. Nhận thức được tầm quan trọng này, cộng đồng quốc tế đã xây dựng chính sách tập trung vào cơ sở hạ tầng bền vững thông qua các Mục tiêu Phát triển Bền vững, đặc biệt là Mục tiêu Phát triển Bền vững 8 "Công nghiệp, Sáng tạo và Phát triển hạ tầng".
Một cách để mô tả các loại cơ sở hạ tầng khác nhau là phân loại chúng thành hai loại riêng biệt: hạ tầng cứng và hạ tầng mềm.[4] Hạ tầng cứng là các mạng lưới vật chất cần thiết cho hoạt động của một xã hội công nghiệp hiện đại hoặc ngành công nghiệp.[5] Bao gồm đường xá, cầu cống và đường sắt. Hạ tầng mềm là tất cả các tổ chức duy trì các tiêu chuẩn về kinh tế, y tế, xã hội, môi trường và văn hóa của một quốc gia.[5] Điều này bao gồm các chương trình giáo dục, thống kê chính thức, công viên và các cơ sở giải trí, các cơ quan thực thi pháp luật và dịch vụ khẩn cấp.
Phân loại
Một hội đồng của Hội đồng Nghiên cứu Quốc gia Hoa Kỳ năm 1987 đã áp dụng thuật ngữ "cơ sở hạ tầng công trình công cộng", đề cập đến:
"... cả các phương thức chức năng cụ thể – xa lộ, đường phố, đường bộ và cầu; vận tải khối lượng lớn; sân bay và đường hàng không; cấp nước và nguồn nước; quản lý nước thải; xử lý và tiêu hủy chất thải rắn; phát điện và truyền tải điện; viễn thông; và quản lý chất thải nguy hại – cũng như hệ thống kết hợp mà các yếu tố phương thức này tạo thành. Sự hiểu biết về cơ sở hạ tầng không chỉ bao gồm các cơ sở công trình công cộng này, mà còn cả các quy trình vận hành, phương pháp quản lý và chính sách phát triển tương tác cùng với nhu cầu xã hội và thế giới vật chất để tạo điều kiện thuận lợi cho việc vận chuyển người và hàng hóa, cung cấp nước uống và nhiều mục đích sử dụng khác, tiêu hủy an toàn các sản phẩm chất thải của xã hội, cung cấp năng lượng ở nơi cần thiết và truyền đạt thông tin trong và giữa các cộng đồng."[6]
Hiệp hội Kỹ sư Dân dụng Hoa Kỳ (ASCE) công bố "Báo cáo Cơ sở hạ tầng" (Infrastructure Report Card), thể hiện quan điểm của tổ chức về tình trạng của các loại cơ sở hạ tầng khác nhau cứ sau 2–4 năm.[7] Tính đến năm 2017[cập nhật], họ xếp hạng 16 danh mục, cụ thể là hàng không, cầu, đập, nước uống, năng lượng, chất thải nguy hại, đường thủy nội địa, đê, công viên và giải trí, cảng, đường sắt, đường bộ, trường học, chất thải rắn, vận tải công cộng và nước thải.[7]:4 Hoa Kỳ đã nhận được xếp hạng "D+" cho cơ sở hạ tầng của mình.[8] Cơ sở hạ tầng xuống cấp này là kết quả của sự lơ là của chính phủ và thiếu hụt kinh phí.[8] Khi Hoa Kỳ dự kiến tìm cách nâng cấp cơ sở hạ tầng hiện có, các biện pháp bền vững có thể là một yếu tố được xem xét trong các kế hoạch thiết kế, xây dựng và vận hành.
Công cộng
Cơ sở hạ tầng công cộng là những cơ sở thuộc sở hữu hoặc có sẵn để sử dụng bởi công chúng (đại diện bởi chính phủ).[9] Nó bao gồm:[9]
- Hạ tầng giao thông – phương tiện, đường bộ, đường sắt, cáp và tài chính giao thông
- Hạ tầng hàng không – công nghệ kiểm soát không lưu trong hàng không
- Vận tải đường sắt – đường ray, tín hiệu, điện khí hóa đường ray
- Vận tải đường bộ – đường xá, cầu, hầm
- Hạ tầng trọng yếu – các tài sản cần thiết để duy trì sự sống của con người
- Hạ tầng năng lượng – truyền tải và lưu trữ nhiên liệu hóa thạch và các nguồn tái tạo
- Hạ tầng thông tin và truyền thông – các hệ thống lưu trữ và phân phối thông tin
- Vốn công – các tài sản thuộc sở hữu chính phủ
- Công trình công cộng – cơ sở hạ tầng đô thị, các chức năng và cơ quan bảo trì
- Chất thải rắn đô thị – tạo ra, thu gom, quản lý rác thải
- Hạ tầng đô thị bền vững – công nghệ, kiến trúc, chính sách cho lối sống bền vững
- Mạng lưới cấp nước – phân phối và bảo trì nguồn cấp nước
- Hạ tầng nước thải – tiêu hủy và xử lý nước thải
- Phát triển dựa trên cơ sở hạ tầng
Cá nhân
Một cách để cụ thể hóa cơ sở hạ tầng cá nhân là nghĩ về nó theo thuật ngữ vốn nhân lực.[10] Vốn nhân lực được Encyclopædia Britannica định nghĩa là "các nguồn lực tập thể vô hình do các cá nhân và nhóm trong một cộng đồng dân cư nhất định sở hữu".[11] Mục tiêu của cơ sở hạ tầng cá nhân là xác định chất lượng các giá trị của các tác nhân kinh tế. Điều này dẫn đến ba nhiệm vụ chính: nhiệm vụ của các đại diện kinh tế trong quy trình kinh tế (giáo viên, lao động phổ thông và lành nghề, v.v.); tầm quan trọng của cơ sở hạ tầng cá nhân đối với một cá nhân (tiêu dùng giáo dục ngắn hạn và dài hạn); và sự phù hợp xã hội của cơ sở hạ tầng cá nhân.[10] Về cơ bản, cơ sở hạ tầng cá nhân ánh xạ tác động của con người lên cơ sở hạ tầng khi nó liên quan đến kinh tế, sự phát triển cá nhân và tác động xã hội.
Thể chế
Cơ sở hạ tầng thể chế nhánh ra từ thuật ngữ "hiến pháp kinh tế". Theo Gianpiero Torrisi, cơ sở hạ tầng thể chế là đối tượng của chính sách kinh tế và pháp lý. Nó bao hàm sự tăng trưởng và thiết lập các chuẩn mực.[10] Nó đề cập đến mức độ đối xử công bằng đối với các dữ liệu kinh tế bình đẳng và xác định khuôn khổ mà trong đó các tác nhân kinh tế có thể lập kế hoạch kinh tế của riêng họ và thực hiện chúng trong sự hợp tác với những người khác.
Bền vững
Cơ sở hạ tầng bền vững đề cập đến các quy trình thiết kế và xây dựng có tính đến tác động môi trường, kinh tế và xã hội của chúng.[8] Phần này bao gồm một số yếu tố của các kế hoạch bền vững, bao gồm vật liệu, nước, năng lượng, giao thông và cơ sở hạ tầng quản lý chất thải.[8] Mặc dù còn vô số yếu tố khác cần xem xét, nhưng chúng sẽ không được đề cập trong phần này.
Vật chất
Cơ sở hạ tầng vật chất được định nghĩa là "những hàng hóa vốn bất động, không lưu thông đóng góp cơ bản vào việc sản xuất các hàng hóa và dịch vụ hạ tầng cần thiết để đáp ứng các yêu cầu vật chất và xã hội cơ bản của các tác nhân kinh tế".[10] Có hai đặc điểm riêng biệt của hạ tầng vật chất: 1) đáp ứng nhu cầu xã hội và 2) sản xuất hàng loạt. Đặc điểm thứ nhất liên quan đến các nhu cầu cơ bản của đời sống con người. Đặc điểm thứ hai là tính không sẵn có của hàng hóa và dịch vụ hạ tầng.[10] Ngày nay, có nhiều vật liệu khác nhau có thể được sử dụng để xây dựng cơ sở hạ tầng. Phổ biến nhất là nhựa đường, bê tông, thép, gạch đá, gỗ, polymer và vật liệu composite.[12]
Kinh tế
Theo từ điển kinh doanh, cơ sở hạ tầng kinh tế có thể được định nghĩa là "các cơ sở nội bộ của một quốc gia giúp hoạt động kinh doanh có thể thực hiện được, chẳng hạn như mạng lưới thông tin liên lạc, vận tải và mạng lưới phân phối, các định chế tài chính và các thị trường quốc tế liên quan, và các hệ thống cung cấp năng lượng".[13] Cơ sở hạ tầng kinh tế hỗ trợ các hoạt động và sự kiện sản xuất. Điều này bao gồm đường xá, xa lộ, cầu, sân bay, hạ tầng xe đạp, mạng lưới cấp nước, hệ thống cống rãnh và các nhà máy thủy lợi.[10]
Xã hội

Cơ sở hạ tầng xã hội có thể được định nghĩa rộng rãi là việc xây dựng và bảo trì các cơ sở hỗ trợ dịch vụ xã hội.[14] Hạ tầng xã hội được tạo ra để tăng sự thoải mái cho xã hội và thúc đẩy hoạt động kinh tế. Chúng bao gồm trường học, công viên và sân chơi, các cấu trúc phục vụ an ninh công cộng, nhà máy xử lý chất thải, bệnh viện và các khu vực thể thao.[10]
Cốt lõi

Các tài sản cốt lõi cung cấp các dịch vụ thiết yếu và có đặc điểm độc quyền.[15] Các nhà đầu tư tìm kiếm cơ sở hạ tầng cốt lõi chú trọng vào năm đặc điểm khác nhau: thu nhập, biến động lợi nhuận thấp, đa dạng hóa, bảo vệ chống lạm phát và khớp nối nghĩa vụ dài hạn.[15] Cơ sở hạ tầng cốt lõi kết hợp tất cả các loại hạ tầng chính, chẳng hạn như đường xá, xa lộ, đường sắt, giao thông công cộng, nước và cung cấp khí đốt.
Cơ bản
Cơ sở hạ tầng cơ bản đề cập đến các tuyến đường sắt chính, đường bộ, kênh đào, bến cảng và cầu tàu, điện báo điện từ, thoát nước, đê điều và cải tạo đất.[10] Nó bao gồm các đặc điểm phổ biến và được biết đến nhiều hơn của cơ sở hạ tầng mà chúng ta gặp trong cuộc sống hàng ngày (tòa nhà, đường xá, bến cảng).
Bổ trợ
Cơ sở hạ tầng bổ trợ đề cập đến những thứ như đường sắt nhẹ, xe điện và cung cấp điện/nước/ga.[10] Bổ trợ cho một thứ gì đó có nghĩa là đưa nó đến sự hoàn thiện. Cơ sở hạ tầng bổ trợ liên quan đến những phần nhỏ của thế giới kỹ thuật giúp cuộc sống thuận tiện và hiệu quả hơn. Chúng cần thiết để đảm bảo việc sử dụng và tiếp thị thành công một sản phẩm đã hoàn thiện, như trong trường hợp của cầu đường bộ.[16] Các ví dụ khác là đèn trên vỉa hè, cảnh quan xung quanh tòa nhà và ghế băng nơi người đi bộ có thể nghỉ ngơi.
Ứng dụng
Kỹ thuật và xây dựng
Các kỹ sư thường giới hạn thuật ngữ "cơ sở hạ tầng" để mô tả các tài sản cố định dưới dạng một mạng lưới lớn; nói cách khác là hạ tầng cứng.[cần dẫn nguồn] Các nỗ lực nhằm đưa ra các định nghĩa tổng quát hơn về cơ sở hạ tầng thường đề cập đến các khía cạnh mạng lưới của hầu hết các cấu trúc, và đến giá trị tích lũy của các khoản đầu tư vào mạng lưới như những tài sản.[cần dẫn nguồn] Một định nghĩa như vậy từ năm 1998 đã định nghĩa cơ sở hạ tầng là mạng lưới các tài sản "nơi hệ thống nói chung được dự định duy trì vô thời hạn ở một tiêu chuẩn dịch vụ cụ thể bằng cách liên tục thay thế và cải tạo các thành phần của nó".[17]
Phòng thủ dân sự và phát triển kinh tế
Các nhà lập hoạch phòng thủ dân sự và các nhà kinh tế học phát triển thường đề cập đến cả hạ tầng cứng và mềm, bao gồm các dịch vụ công như trường học và bệnh viện, các dịch vụ khẩn cấp như cảnh sát và cứu hỏa, và các dịch vụ cơ bản trong lĩnh vực kinh tế. Khái niệm phát triển dựa trên cơ sở hạ tầng kết hợp các khoản đầu tư hạ tầng dài hạn của các cơ quan chính phủ ở cấp trung ương và khu vực với các hình thức đối tác công tư đã chứng tỏ sự phổ biến đối với các nhà kinh tế ở châu Á (đặc biệt là Singapore và Trung Quốc), lục địa châu Âu và Mỹ Latinh.
Quân sự
Cơ sở hạ tầng quân sự là các tòa nhà và công trình lắp đặt kiên cố cần thiết để hỗ trợ các lực lượng quân sự, cho dù họ đang đồn trú tại các căn cứ, đang được triển khai hay đang tham gia các hoạt động. Các ví dụ bao gồm doanh trại, trụ sở, sân bay, cơ sở thông tin liên lạc, kho thiết bị quân sự, cơ sở cảng và các trạm bảo trì.[18]
Truyền thông
Cơ sở hạ tầng truyền thông là các kênh truyền thông không chính thức và chính thức, các mạng lưới chính trị và mạng xã hội, hoặc các niềm tin của các thành viên trong các nhóm cụ thể, cũng như công nghệ thông tin, các công cụ phát triển phần mềm. Nằm dưới những cách sử dụng mang tính khái niệm này vẫn là ý tưởng rằng cơ sở hạ tầng cung cấp cấu trúc tổ chức và hỗ trợ cho hệ thống hoặc tổ chức mà nó phục vụ, cho dù đó là một thành phố, một quốc gia, một tập đoàn hay một tập hợp những người có cùng sở thích. Các ví dụ bao gồm hạ tầng IT, hạ tầng nghiên cứu, hạ tầng khủng bố, hạ tầng việc làm và hạ tầng du lịch.[cần dẫn nguồn]
Các khái niệm liên quan
Thuật ngữ "cơ sở hạ tầng" có thể bị nhầm lẫn với các khái niệm chồng chéo hoặc liên quan sau đây.
Cải tạo đất và phát triển đất là các thuật ngữ chung mà trong một số bối cảnh có thể bao gồm cả cơ sở hạ tầng, nhưng trong bối cảnh thảo luận về cơ sở hạ tầng, chúng sẽ chỉ đề cập đến các hệ thống hoặc công trình quy mô nhỏ hơn không được bao gồm trong cơ sở hạ tầng, vì chúng thường giới hạn trong một thửa đất duy nhất, và thuộc sở hữu cũng như vận hành bởi chủ sở hữu đất. Ví dụ, một kênh thủy lợi phục vụ một vùng hoặc một huyện sẽ được tính là cơ sở hạ tầng, nhưng các hệ thống thủy lợi tư nhân trên các thửa đất riêng lẻ sẽ được coi là cải tạo đất, không phải cơ sở hạ tầng. Các điểm kết nối dịch vụ với mạng lưới dịch vụ đô thị và tiện ích công cộng cũng được coi là cải tạo đất, không phải cơ sở hạ tầng.[19][20]
Thuật ngữ "công trình công cộng" bao gồm cơ sở hạ tầng do chính phủ sở hữu và vận hành cũng như các tòa nhà công cộng, chẳng hạn như trường học và tòa án. Công trình công cộng thường đề cập đến các tài sản vật chất cần thiết để cung cấp dịch vụ công. Dịch vụ công bao gồm cả cơ sở hạ tầng và các dịch vụ thường do chính phủ cung cấp.
Sở hữu và tài chính
Cơ sở hạ tầng có thể được sở hữu và quản lý bởi các chính phủ hoặc bởi các công ty tư nhân, chẳng hạn như các công ty tiện ích công cộng độc quyền hoặc các công ty đường sắt. Nhìn chung, hầu hết các con đường, các sân bay lớn và các cảng khác, hệ thống phân phối nước và mạng lưới nước thải là sở hữu công cộng, trong khi hầu hết các mạng lưới năng lượng và mạng viễn thông là sở hữu tư nhân.[cần dẫn nguồn] Cơ sở hạ tầng sở hữu công cộng có thể được chi trả từ thuế, phí cầu đường hoặc phí sử dụng theo định mức, trong khi cơ sở hạ tầng tư nhân thường được chi trả bởi phí sử dụng định mức.[21][22] Các dự án đầu tư lớn thường được tài trợ bằng việc phát hành trái phiếu dài hạn.[cần dẫn nguồn]
Cơ sở hạ tầng do chính phủ sở hữu và vận hành có thể được phát triển và vận hành trong khu vực tư nhân hoặc thông qua các hình thức đối tác công tư, bên cạnh việc thực hiện trong khu vực công. Tính đến năm 2008 tại Hoa Kỳ, chi tiêu công cho cơ sở hạ tầng đã biến động trong khoảng từ 2,3% đến 3,6% GDP kể từ năm 1950.[23] Nhiều định chế tài chính đầu tư vào cơ sở hạ tầng.
Ở các nước đang phát triển

Theo các nhà nghiên cứu tại Viện Phát triển Hải ngoại (ODI), sự thiếu hụt cơ sở hạ tầng ở nhiều quốc gia đang phát triển là một trong những hạn chế đáng kể nhất đối với tăng trưởng kinh tế và đạt được các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDGs). Đầu tư và bảo trì cơ sở hạ tầng có thể rất tốn kém, đặc biệt là ở các khu vực như các quốc gia không giáp biển, vùng nông thôn và thưa thớt dân cư ở châu Phi. Có ý kiến cho rằng các khoản đầu tư cơ sở hạ tầng đã đóng góp hơn một nửa hiệu quả tăng trưởng được cải thiện của châu Phi trong giai đoạn 1990-2005, và việc tăng cường đầu tư là cần thiết để duy trì tăng trưởng và giải quyết nghèo đói. Lợi nhuận từ đầu tư vào cơ sở hạ tầng là rất đáng kể, với mức lợi nhuận trung bình từ 30 đến 40 phần trăm cho các khoản đầu tư viễn thông (ICT), hơn 40 phần trăm cho phát điện và 80 phần trăm cho đường bộ.[24]
Khác biệt khu vực
Nhu cầu về cơ sở hạ tầng của cả người tiêu dùng và doanh nghiệp cao hơn nhiều so với số tiền được đầu tư.[24] Có những hạn chế nghiêm trọng ở phía cung trong việc cung cấp cơ sở hạ tầng ở châu Á.[25] Khoảng cách tài trợ hạ tầng giữa số tiền được đầu tư ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (khoảng 48 tỷ USD) và số tiền cần thiết (228 tỷ USD) là khoảng 180 tỷ USD mỗi năm.[24]
Tại Mỹ Latinh, cần phải đầu tư 3% GDP (khoảng 71 tỷ USD) vào cơ sở hạ tầng để thỏa mãn nhu cầu, tuy nhiên ví dụ vào năm 2005, chỉ có khoảng 2% được đầu tư, để lại một khoảng cách tài trợ xấp xỉ 24 tỷ USD.[24]
Tại châu Phi, để đạt được mức tăng trưởng hàng năm 7% được tính toán là cần thiết để đáp ứng các MDGs vào năm 2015 sẽ đòi hỏi các khoản đầu tư hạ tầng khoảng 15% GDP, tương đương khoảng 93 tỷ USD một năm. Ở các quốc gia mong manh, con số này sẽ chiếm hơn 37% GDP.[24]
Nguồn vốn cho cơ sở hạ tầng
Nguồn tài chính cho cơ sở hạ tầng thay đổi đáng kể giữa các lĩnh vực. Một số lĩnh vực bị chi phối bởi chi tiêu chính phủ, một số khác bởi hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), và những lĩnh vực khác bởi các nhà đầu tư tư nhân.[24] Ở California, các khu tài trợ cơ sở hạ tầng được thành lập bởi các chính quyền địa phương để chi trả cho các cơ sở vật chất và dịch vụ trong một khu vực cụ thể bằng cách sử dụng các khoản tăng thuế bất động sản.[26] Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc đầu tư của khu vực tư nhân vào thị trường cơ sở hạ tầng của các nước đang phát triển, cần phải thiết kế các cơ chế phân bổ rủi ro một cách cẩn thận hơn, xét đến các rủi ro cao hơn của thị trường của họ.[27]
Số tiền chi tiêu đến từ chính phủ thấp hơn trước đây. Từ những năm 1930 đến 2019, Hoa Kỳ đã giảm từ mức chi 4,2% GDP xuống còn 2,5% GDP cho cơ sở hạ tầng.[28] Những khoản đầu tư thiếu hụt này đã tích tụ, trên thực tế theo Báo cáo Cơ sở hạ tầng ASCE 2017, từ năm 2016 đến 2025, cơ sở hạ tầng sẽ bị thiếu hụt đầu tư 2 nghìn tỷ USD.[28] So với tỷ lệ phần trăm GDP toàn cầu, Hoa Kỳ đứng đồng hạng thứ hai từ dưới lên, với tỷ lệ trung bình là 2,4%. Điều này có nghĩa là chính phủ chi ít tiền hơn cho việc sửa chữa cơ sở hạ tầng cũ hoặc cho cơ sở hạ tầng nói chung.[29]
Ở Châu Phi hạ Sahara, các chính phủ chi khoảng 9,4 tỷ USD trên tổng số 24,9 tỷ USD. Trong lĩnh vực thủy lợi, các chính phủ chiếm hầu như toàn bộ chi tiêu. Trong lĩnh vực vận tải và năng lượng, phần lớn đầu tư là chi tiêu chính phủ. Trong lĩnh vực ICT và cấp nước và vệ sinh, khu vực tư nhân chiếm phần lớn chi tiêu vốn. Nhìn chung, sự kết hợp giữa viện trợ, khu vực tư nhân và các nhà tài trợ ngoài OECD vượt quá chi tiêu chính phủ. Chi tiêu của riêng khu vực tư nhân bằng với chi tiêu vốn của nhà nước, mặc dù phần lớn tập trung vào đầu tư hạ tầng ICT. Tài trợ bên ngoài tăng lên trong những năm 2000 và chỉ riêng ở châu Phi, đầu tư hạ tầng bên ngoài đã tăng từ 7 tỷ USD năm 2002 lên 27 tỷ USD năm 2009. Trung Quốc, đặc biệt, đã nổi lên như một nhà đầu tư quan trọng.[24]
Tác động của Coronavirus
Đại dịch COVID-19 năm 2020 đã làm trầm trọng thêm tình trạng thiếu hụt tài chính cho cơ sở hạ tầng toàn cầu vốn đã tích tụ trong nhiều thập kỷ. Đại dịch đã làm tăng tỷ lệ thất nghiệp và gây gián đoạn rộng rãi nền kinh tế. Điều này có những tác động nghiêm trọng đến các hộ gia đình, doanh nghiệp, và các cấp chính quyền liên bang, tiểu bang và địa phương. Điều này đặc biệt bất lợi cho cơ sở hạ tầng vì nó phụ thuộc rất nhiều vào nguồn vốn từ các cơ quan chính phủ – với các chính quyền tiểu bang và địa phương chiếm khoảng 75% chi tiêu cho cơ sở hạ tầng công cộng tại Hoa Kỳ.[30]
Các chính phủ đang đối mặt với sự sụt giảm doanh thu khổng lồ, suy thoái kinh tế, hệ thống y tế quá tải và lực lượng lao động e ngại, dẫn đến thâm hụt ngân sách lớn trên diện rộng. Tuy nhiên, họ cũng phải mở rộng đầu tư công để đảm bảo mở cửa trở lại thành công, thúc đẩy tăng trưởng và việc làm, và xanh hóa nền kinh tế của họ.[31] Quy mô lớn bất thường của các gói cứu trợ cần thiết cho COVID-19 đi kèm với các lời kêu gọi rộng rãi về việc "xanh hóa" chúng để đáp ứng mục tiêu kép là phục hồi kinh tế và bền vững môi trường.[32] Tuy nhiên, tính đến tháng 3 năm 2021, chỉ một phần nhỏ trong các biện pháp tài khóa liên quan đến COVID-19 của G20 được tìm thấy là thân thiện với khí hậu.[32]
Cơ sở hạ tầng bền vững
Mặc dù rõ ràng là cần nỗ lực nhiều để khắc phục thiệt hại kinh tế do đại dịch Coronavirus gây ra, nhưng việc quay lại ngay lập tức với các hoạt động kinh doanh như bình thường có thể gây hại cho môi trường, như đã thấy từ cuộc khủng hoảng tài chính 2007-08 tại Hoa Kỳ. Trong khi sự suy giảm kinh tế sau đó đã làm giảm lượng phát thải khí nhà kính toàn cầu vào năm 2009, lượng phát thải đã đạt mức cao kỷ lục vào năm 2010, một phần do các biện pháp kích cầu kinh tế được các chính phủ thực hiện mà ít cân nhắc đến hậu quả môi trường.[33] Mối quan ngại là liệu mô hình này có lặp lại hay không. Giai đoạn hậu COVID-19 có thể quyết định liệu thế giới đạt được hay bỏ lỡ các mục tiêu phát thải của Thỏa thuận Paris 2015 và giới hạn sự nóng lên toàn cầu ở mức 1,5 độ C đến 2 độ C.[34]
Do đại dịch COVID-19, một loạt các yếu tố có thể gây nguy hiểm cho kế hoạch phục hồi ít carbon: điều này bao gồm sự giảm bớt sự chú ý trên vũ đài chính trị toàn cầu (Hội nghị Thượng đỉnh Khí hậu LHQ 2020 đã bị hoãn sang năm 2021), việc nới lỏng các quy định môi trường để theo đuổi tăng trưởng kinh tế, giá dầu giảm ngăn cản các công nghệ ít carbon trở nên cạnh tranh, và cuối cùng, các chương trình kích cầu lấy đi nguồn vốn đáng lẽ có thể được sử dụng để thúc đẩy quá trình phi carbon hóa.[33] Nghiên cứu cho thấy rằng một kế hoạch phục hồi dựa trên lượng phát thải carbon thấp hơn không chỉ có thể tạo ra những cắt giảm phát thải đáng kể cần thiết để chống lại biến đổi khí hậu, mà còn tạo ra nhiều tăng trưởng kinh tế và việc làm hơn so với một kế hoạch phục hồi phát thải cao.[33] Một nghiên cứu được công bố trên Oxford Review of Economic Policy, hơn 200 nhà kinh tế và quan chức kinh tế đã báo cáo rằng các sáng kiến phục hồi kinh tế "xanh" hoạt động ít nhất là tốt bằng các sáng kiến ít "xanh" hơn.[35] Cũng có những lời kêu gọi về một cơ quan độc lập có thể cung cấp đánh giá so sánh về chính sách tài khóa của các quốc gia, thúc đẩy tính minh bạch và trách nhiệm giải trình ở cấp độ quốc tế.[32]
Ngoài ra, trong một nghiên cứu kinh tế lượng được công bố trên tạp chí Economic Modelling, một phân tích về chi tiêu công nghệ năng lượng của chính phủ cho thấy chi tiêu vào lĩnh vực năng lượng tái tạo tạo ra thêm năm việc làm trên mỗi triệu đô la đầu tư so với chi tiêu vào nhiên liệu hóa thạch.[36] Vì cơ sở hạ tầng bền vững có lợi hơn trong cả bối cảnh kinh tế và môi trường, nó đại diện cho tương lai của cơ sở hạ tầng. Đặc biệt với áp lực ngày càng tăng từ biến đổi khí hậu và tài nguyên thiên nhiên đang cạn kiệt, cơ sở hạ tầng không chỉ cần duy trì phát triển kinh tế và việc làm, và chất lượng cuộc sống cao cho cư dân, mà còn phải bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên của nó.[31]
Năng lượng bền vững
Hạ tầng năng lượng bền vững bao gồm các loại nhà máy điện năng lượng tái tạo cũng như các phương tiện trao đổi từ nhà máy đến các hộ gia đình và doanh nghiệp sử dụng năng lượng đó. Năng lượng tái tạo bao gồm các phương pháp đã được nghiên cứu kỹ lưỡng và triển khai rộng rãi như năng lượng gió, mặt trời và thủy điện, cũng như các loại tạo năng lượng mới hơn và ít được sử dụng phổ biến hơn như năng lượng nhiệt hạch. Hạ tầng năng lượng bền vững phải duy trì nguồn cung mạnh mẽ so với nhu cầu, và cũng phải duy trì mức giá đủ thấp cho người tiêu dùng để không làm giảm nhu cầu.[8] Bất kỳ loại hạ tầng năng lượng tái tạo nào không đáp ứng được các yêu cầu về tiêu thụ và giá cả này cuối cùng sẽ bị ép khỏi thị trường bởi các nguồn năng lượng không tái tạo đang chiếm ưu thế.
Nước bền vững
Hạ tầng nước bền vững tập trung vào khả năng tiếp cận đầy đủ của cộng đồng với nước uống sạch, an toàn.[8] Nước là một hàng hóa công cộng cùng với điện, có nghĩa là các hệ thống thu gom và phân phối nước bền vững phải duy trì giá cả phải chăng cho tất cả các thành viên trong cộng đồng dân cư.[8] "Nước bền vững" có thể đề cập đến khả năng tự bền vững của một quốc gia hoặc cộng đồng, với đủ nước để đáp ứng nhiều nhu cầu bao gồm nông nghiệp, công nghiệp, vệ sinh và nước uống. Nó cũng có thể đề cập đến việc quản lý tổng hợp và hiệu quả các nguồn tài nguyên nước.[37] Ngày càng nhiều nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý đang kết hợp các Giải pháp dựa vào tự nhiên (NBS hoặc NbS) vào các nỗ lực nhằm đạt được hạ tầng nước bền vững.
Quản lý chất thải bền vững
Các hệ thống quản lý chất thải bền vững nhằm mục đích giảm thiểu lượng sản phẩm chất thải được tạo ra bởi cá nhân và tập đoàn.[38] Các kế hoạch quản lý chất thải thương mại đã chuyển đổi từ các kế hoạch loại bỏ chất thải đơn giản sang các kế hoạch toàn diện tập trung vào việc giảm tổng lượng chất thải được tạo ra trước khi loại bỏ.[38] Quản lý chất thải bền vững có lợi về mặt môi trường, và cũng có thể cắt giảm chi phí cho các doanh nghiệp khi giảm lượng hàng hóa bị thải bỏ.[38]
Giao thông bền vững
Giao thông bền vững bao gồm sự chuyển đổi khỏi ô tô cá nhân phát thải khí nhà kính để ưu tiên áp dụng các phương thức vận tải trung hòa carbon hoặc giảm phát thải carbon như xe đạp hoặc hệ thống xe buýt điện.[39] Ngoài ra, các thành phố phải đầu tư vào môi trường xây dựng phù hợp cho các phương thức vận tải ưa thích về mặt sinh thái này.[39] Các thành phố sẽ cần đầu tư vào mạng lưới giao thông công cộng, cũng như mạng lưới đường dành cho xe đạp cùng với các giải pháp bền vững khác nhằm khuyến khích người dân sử dụng các phương chọn vận tải thay thế này. Giảm sự phụ thuộc vào ô tô ở đô thị là mục tiêu cơ bản của việc phát triển giao thông bền vững, và điều này không thể hoàn thành nếu không có sự tập trung phối hợp vào cả việc tạo ra chính các phương thức vận tải đó và cung cấp cho chúng các mạng lưới hiệu quả ngang bằng hoặc hơn các mạng lưới ô tô hiện có như các hệ thống xa lộ đang xuống cấp.[39]
Vật liệu bền vững
Một giải pháp khác để chuyển đổi sang một cơ sở hạ tầng bền vững hơn là sử dụng các vật liệu bền vững hơn. Một vật liệu được coi là bền vững nếu lượng cần thiết có thể được sản xuất mà không làm cạn kiệt các nguồn tài nguyên không tái tạo.[40] Nó cũng nên có tác động môi trường thấp bằng cách không làm xáo trộn trạng thái cân bằng ổn định đã được thiết lập của nó.[40] Các vật liệu cũng nên có khả năng đàn hồi, có thể tái tạo, tái sử dụng và tái chế.[41]
Ngày nay, bê tông là một trong những vật liệu phổ biến nhất được sử dụng trong cơ sở hạ tầng. Lượng bê tông được sử dụng trong xây dựng gấp đôi tổng tất cả các vật liệu xây dựng khác cộng lại.[42] Nó là xương sống của công nghiệp hóa, vì nó được sử dụng trong các cây cầu, bến tàu, đường ống, mặt đường và tòa nhà.[43] Tuy nhiên, trong khi chúng đóng vai trò là sự kết nối giữa các thành phố, vận chuyển cho con người và hàng hóa, và bảo vệ đất chống lụt lội và xói mòn, chúng chỉ tồn tại được từ 50 đến 100 năm.[44] Nhiều công trình được xây dựng trong vòng 50 năm qua, điều này có nghĩa là nhiều cơ sở hạ tầng cần bảo trì đáng kể để tiếp tục hoạt động.
Tuy nhiên, bê tông không bền vững. Việc sản xuất bê tông đóng góp tới 8% lượng phát thải khí nhà kính của thế giới.[45] Một phần mười lượng nước sử dụng trong công nghiệp của thế giới là từ sản xuất bê tông.[45] Ngay cả việc vận chuyển nguyên liệu thô đến các địa điểm sản xuất bê tông cũng làm tăng ô nhiễm không khí.[45] Hơn nữa, các địa điểm sản xuất và chính các cơ sở hạ tầng đó đều lấy đi đất nông nghiệp vốn có thể là đất màu mỡ hoặc môi trường sống quan trọng cho hệ sinh thái.
Hạ tầng xanh
Hạ tầng xanh là một loại cơ sở hạ tầng bền vững. Hạ tầng xanh sử dụng các hệ thống thực vật hoặc đất để phục hồi một số quy trình tự nhiên cần thiết để quản lý nước, giảm tác động của các thảm họa như lũ lụt,[46] và tạo ra các môi trường đô thị lành mạnh hơn.[47] Theo nghĩa thực tiễn hơn, nó đề cập đến một mạng lưới phi tập trung các phương pháp quản lý nước mưa, bao gồm mái nhà xanh, cây xanh, bể lọc sinh học và thẩm thấu, và mặt đường thấm nước.[48] Hạ tầng xanh đã trở thành một chiến lược ngày càng phổ biến trong những năm gần đây nhờ hiệu quả của nó trong việc cung cấp các lợi ích sinh thái, kinh tế và xã hội – bao gồm tác động tích cực đến tiêu thụ năng lượng, chất lượng không khí, và giảm cũng như cô lập carbon.[48]
Mái nhà xanh
Mái nhà xanh là một mái nhà được bao phủ một phần hoặc hoàn toàn bằng thảm thực vật được trồng trên một lớp màng chống thấm. Nó cũng bao gồm các lớp bổ sung, bao gồm lớp chắn rễ và hệ thống thoát nước và tưới tiêu.[49] Có nhiều loại mái nhà xanh, bao gồm loại quảng canh (có độ sâu giá thể trồng từ hai đến sáu inch) và loại thâm canh (có giá thể trồng với độ sâu lớn hơn sáu inch).[49] Một lợi ích của mái nhà xanh là chúng làm giảm nước chảy tràn nhờ khả năng lưu trữ nước trong giá thể trồng, giảm lượng nước chảy vào hệ thống cống rãnh và đường thủy, điều này cũng làm giảm nguy cơ tràn cống kết hợp.[49] Chúng giúp giảm sử dụng năng lượng vì giá thể trồng cung cấp thêm lớp cách nhiệt, giảm lượng bức xạ mặt trời lên bề mặt mái nhà, và cung cấp khả năng làm mát bằng bay hơi từ nước trong cây, giúp giảm nhiệt độ bề mặt mái nhà và dòng nhiệt xâm nhập.[49] Mái nhà xanh cũng làm giảm lượng carbon dioxide trong khí quyển vì thảm thực vật cô lập carbon và, vì chúng giảm sử dụng năng lượng và hiệu ứng đảo nhiệt đô thị bằng cách giảm nhiệt độ mái nhà, chúng cũng làm giảm lượng phát thải carbon dioxide từ việc phát điện.[50]
Trồng cây
Trồng cây cung cấp hàng loạt lợi ích sinh thái, xã hội và kinh tế. Cây xanh có thể ngăn chặn nước mưa, hỗ trợ sự thẩm thấu và lưu trữ nước trong đất, giảm thiểu tác động của những hạt mưa trên các bề mặt khô cằn, giảm độ ẩm của đất thông qua quá trình thoát hơi nước, và chúng giúp giảm nước chảy tràn.[47] Ngoài ra, cây xanh góp phần bổ cập các tầng ngậm nước địa phương và cải thiện sức khỏe của các hệ thống lưu vực sông. Cây xanh cũng giảm sử dụng năng lượng bằng cách cung cấp bóng mát và giải phóng nước vào khí quyển giúp làm mát không khí và giảm lượng nhiệt hấp thụ bởi các tòa nhà.[48] Cuối cùng, cây xanh cải thiện chất lượng không khí bằng cách hấp thụ các chất ô nhiễm không khí có hại, làm giảm lượng khí nhà kính.
Các phương pháp lọc sinh học và thẩm thấu
Có nhiều loại phương pháp lọc sinh học và thẩm thấu khác nhau, bao gồm vườn mưa và rãnh lọc sinh học.[48] Vườn mưa được trồng ở một vùng trũng nhỏ hoặc dốc tự nhiên và bao gồm các loại cây bụi và hoa bản địa. chúng tạm thời giữ và hấp thụ nước mưa và có hiệu quả trong việc loại bỏ tới 90% các chất dinh dưỡng và hóa chất và tới 80% các trầm tích từ dòng chảy.[51] Kết quả là, chúng ngấm nước nhiều hơn 30% so với các khu vườn thông thường.[51] Rãnh lọc sinh học được trồng ở các khu vực lát đá như bãi đậu xe hoặc vỉa hè và được tạo ra để cho phép tràn vào hệ thống cống rãnh bằng cách giữ lại phù sa và các chất ô nhiễm khác, vốn thường còn sót lại từ các bề mặt không thấm nước.[48] Cả vườn mưa và rãnh lọc sinh học đều làm giảm tác động của lũ lụt và ngăn chặn nước mưa làm ô nhiễm các đường thủy địa phương; tăng nguồn cung cấp nước có thể sử dụng bằng cách giảm lượng nước cần thiết cho tưới tiêu ngoài trời; cải thiện chất lượng không khí bằng cách giảm thiểu lượng nước đi vào các cơ sở xử lý, điều này cũng làm giảm mức sử dụng năng lượng và kết quả là giảm ô nhiễm không khí do ít khí nhà kính được phát thải hơn.[48]
Thành phố thông minh
Các thành phố thông minh sử dụng các phương pháp thiết kế và triển khai sáng tạo trong các lĩnh vực cơ sở hạ tầng và quy hoạch khác nhau để tạo ra các cộng đồng hoạt động ở mức độ bền vững tương đối cao hơn so với các đối tác truyền thống của chúng.[8] Trong một thành phố bền vững, khả năng chống chịu của đô thị cũng như độ tin cậy của cơ sở hạ tầng đều phải hiện diện.[8] Khả năng chống chịu của đô thị được định nghĩa bởi khả năng của một thành phố trong việc thích ứng nhanh chóng hoặc phục hồi sau các khiếm khuyết của cơ sở hạ tầng, và độ tin cậy của cơ sở hạ tầng có nghĩa là các hệ thống phải hoạt động hiệu quả trong khi vẫn tiếp tục tối đa hóa đầu ra của chúng.[8] Khi khả năng chống chịu của đô thị và độ tin cậy của cơ sở hạ tầng tương tác, các thành phố có thể tạo ra cùng một mức độ đầu ra với các chi phí hợp lý tương tự so với các cộng đồng không bền vững khác, trong khi vẫn duy trì sự dễ dàng vận hành và sử dụng.
Thành phố Masdar
Thành phố Masdar là một thành phố thông minh không phát thải được đề xuất sẽ được xây dựng tại Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất.[52] Một số cá nhân đã gọi khu định cư theo kế hoạch này là "kiểu utopia" (không tưởng), do thực tế là nó sẽ có nhiều yếu tố cơ sở hạ tầng bền vững, bao gồm năng lượng, nước, quản lý chất thải và giao thông. Thành phố Masdar sẽ có một hạ tầng năng lượng chứa các phương pháp năng lượng tái tạo bao gồm năng lượng mặt trời.[52]
Thành phố Masdar nằm trong một vùng sa mạc, nghĩa là việc thu gom và phân phối nước bền vững phụ thuộc vào khả năng của thành phố trong việc sử dụng nước ở các giai đoạn đổi mới của chu trình nước.[53] Thành phố sẽ sử dụng nước ngầm, nước xám, nước biển, nước đen và các nguồn tài nguyên nước khác để có được cả nước uống và nước tưới cảnh quan.[53]
Ban đầu, Thành phố Masdar sẽ không có chất thải.[52] Việc tái chế và các phương pháp quản lý chất thải cũng như giảm thiểu chất thải khác sẽ được khuyến khích.[52] Ngoài ra, thành phố sẽ triển khai một hệ thống để chuyển đổi chất thải thành phân bón, điều này sẽ làm giảm lượng không gian cần thiết để tích tụ chất thải cũng như cung cấp một giải pháp thay thế thân thiện với môi trường cho các phương pháp sản xuất phân bón truyền thống.
Không có ô tô nào được phép vào Thành phố Masdar, góp phần làm giảm phát thải carbon trong ranh giới thành phố.[52] Thay vào đó, các lựa chọn vận tải thay thế sẽ được ưu tiên trong quá trình phát triển cơ sở hạ tầng. Điều này có nghĩa là một mạng lưới đường dành cho xe đạp sẽ có thể tiếp cận được và toàn diện, và các lựa chọn khác cũng sẽ có sẵn.[52]
Xem thêm
- Hạ tầng linh hoạt
- Hạ tầng sân bay
- Kế hoạch quản lý tài sản
- Hạ tầng xanh
- Cơ sở hạ tầng như một dịch vụ
- Quản lý tài sản cơ sở hạ tầng
- Xây dựng cơ sở hạ tầng
- An ninh cơ sở hạ tầng
- Logistics
- Siêu dự án
- Tài chính dự án
- Giả đô thị hóa
- Vốn công
- Kiến trúc bền vững
- Kỹ thuật bền vững
Tham khảo
- ↑ Infrastructure | Define Infrastructure at Dictionary.com Lưu trữ ngày 5 tháng 3 năm 2016 tại Wayback Machine
- ↑ O'Sullivan, Arthur; Sheffrin, Steven M. (2003). Economics: Principles in Action. Upper Saddle River, NJ: Pearson Prentice Hall. tr. 474. ISBN 978-0-13-063085-8.
- ↑ Fulmer, Jeffrey (2009). "What in the world is infrastructure?". PEI Infrastructure Investor (July/August): 30–32.
- ↑ Dyer, Mark; Dyer, Rachel; Weng, Min-Hsien; Wu, Shaoqun; Grey, Thomas; Gleeson, Richard; Ferrari, Tomás García (tháng 12 năm 2019). "Framework for soft and hard city infrastructures". Proceedings of the Institution of Civil Engineers - Urban Design and Planning. 172 (6): 219–227. doi:10.1680/jurdp.19.00021. hdl:10279/15706. S2CID 209059612.
- 1 2 Hamutak, Luta. "Civil Society Comments on Infrastructure Strategic Sector" (PDF).
- ↑ Infrastructure for the 21st Century. Washington, D.C.: National Academies Press. 1987. tr. 21. doi:10.17226/798. ISBN 978-0-309-07814-6.
- 1 2 2017 Infrastructure Report, 112pp, American Society of Civil Engineers, 2017
- 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Cervero, Robert (tháng 12 năm 2014). "Transport Infrastructure and the Environment in the Global South: Sustainable Mobility and Urbanism". Jurnal Perencanaan Wilayah Dan Kota. 25 (3): 174–191. doi:10.5614/jpwk.2015.25.3.1.
- 1 2 "Public Infrastructure". Corporate Finance Institute (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2024.
- 1 2 3 4 5 6 7 8 9 Torrisi, Gianpiero (tháng 1 năm 2009). "Public infrastructure: definition, classification and measurement issues" (PDF).
- ↑ "Human capital | economics". Encyclopedia Britannica (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2018.
- ↑ "Infrastructure Materials Engineering – Department of Civil, Architectural and Environmental Engineering". caee.utexas.edu. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2020.
- ↑ "What is economic infrastructure? definition and meaning". BusinessDictionary.com (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2018.
- ↑ Cohen, Gershon (ngày 20 tháng 7 năm 2017). "What is social infrastructure?". Aberdeen Standard Investments (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
- 1 2 Pease, Bob (ngày 28 tháng 10 năm 2014). "Infrastructure Investment Opportunities for Public Safety Plans" (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 20 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2018.
- ↑ "What does complementary assets mean?". definitions.net.
- ↑ Association of Local Government Engineers New Zealand: "Infrastructure Asset Management Manual", June 1998. Edition 1.1
- ↑ D.O.D. Dictionary of Military and Associated Terms, 2001 (rev. 2005)
- ↑ Land improvement, Online BusinessDictionary.com, http://www.businessdictionary.com/definition/land-development.html Lưu trữ ngày 26 tháng 5 năm 2010 tại Wayback Machine (accessed January 31, 2009)
- ↑ Land development, Online BusinessDictionary.com, http://www.businessdictionary.com/definition/land-development.html Lưu trữ ngày 26 tháng 5 năm 2010 tại Wayback Machine (accessed January 31, 2009)
- ↑ "Business models for transport infrastructure assets? Some experiences in Europe. In The decision-making process for infrastructural investment choices". FrancoAngeli. 2020.
- ↑ Chivatá Cárdenas, Ibsen; Voordijk, Hans; Dewulf, Geert (2018). "Beyond project governance. Enhancing funding and enabling financing for infrastructure in transport. Findings from the importance analysis approach". European Journal of Transport and Infrastructure Research. 18 (4). doi:10.18757/ejtir.2018.18.4.3261.
- ↑ Leonhardt, David (ngày 19 tháng 11 năm 2008). "Piling Up Monuments Of Waste". The New York Times. tr. B1. ProQuest 897784170.
- 1 2 3 4 5 6 7 Christian K.M. Kingombe 2011. Mapping the new infrastructure financing landscape Lưu trữ ngày 11 tháng 4 năm 2019 tại Wayback Machine. London: Overseas Development Institute
- ↑ Peter McCawley (2010), 'Infrastructure Policy in Developing countries' Lưu trữ ngày 17 tháng 10 năm 2015 tại Wayback Machine, Asian-Pacific Economic Literature, 24(1), May. See also Asian-Pacific Economic Literature Policy Brief No 19, May 2010, on 'Infrastructure policy in developing countries in Asia'.
- ↑ Barclay, Cecily; Gray, Matthew (2016). California Land Use and Planning Law (ấn bản thứ 35). California: Solano Press. tr. 585. ISBN 978-1-938166-11-2.
- ↑ Koh, Jae-myong (2018). Green Infrastructure Financing: Institutional Investors, PPPs and Bankable Projects. Cham, Switzerland. ISBN 978-3-319-71770-8. OCLC 1023427026.
{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: địa điểm thiếu nhà xuất bản (liên kết) - 1 2 "COVID-19 Status Report". ASCE's 2017 Infrastructure Report Card (bằng tiếng Anh). ngày 23 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2020.
- ↑ "Large economic gains can come from mundane improvements in policy". The Economist (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2018.
- ↑ "It's Time for States to Invest in Infrastructure". Center on Budget and Policy Priorities (bằng tiếng Anh). ngày 22 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2020.
- 1 2 Allen, Mr Richard I.; Allen, Richard; Tandberg, Eivind (2021). How to Manage Public Investment During a Postcrisis Recovery. International Monetary Fund. ISBN 978-1-5135-8441-6.[cần số trang]
- 1 2 3 Funke, Katja; Huang, Guohua; Eltokhy, Khaled; Kim, Yujin; Zinabou, Genet (2021). Monitoring the Climate Impact of Fiscal Policy - Lessons from Tracking the Covid-19 Response (Preprint). SSRN 4026488.
- 1 2 3 "How a post-pandemic stimulus can both create jobs and help the climate". McKinsey. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2020.
- ↑ "The Paris Agreement – UNFCCC". unfccc.int. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2022.
- ↑ Hepburn, Cameron; O'Callaghan, Brian; Stern, Nicholas; Stiglitz, Joseph; Zenghelis, Dimitri (ngày 28 tháng 9 năm 2020). "Will COVID-19 fiscal recovery packages accelerate or retard progress on climate change?". Oxford Review of Economic Policy. 36 (Supplement_1): S359 – S381. doi:10.1093/oxrep/graa015. PMC 7239121. PMID 40504141. S2CID 218942009.
- ↑ Garrett-Peltier, Heidi (tháng 2 năm 2017). "Green versus brown: Comparing the employment impacts of energy efficiency, renewable energy, and fossil fuels using an input-output model". Economic Modelling. 61: 439–447. doi:10.1016/j.econmod.2016.11.012.
- ↑ "Sustainable water: our essential guide to sustainable water resource management solutions & strategies". aquatechtrade.com.
- 1 2 3 Fisher, S.; Reiner, M. B.; Sperling, J. (2017). "Unreliable Sustainable Infrastructure: Three Transformations to Guide Cities towards Becoming Healthy 'Smart Cities'". International Conference on Sustainable Infrastructure 2017. tr. 388–397. doi:10.1061/9780784481202.037. ISBN 978-0-7844-8120-2.
- 1 2 3 Hartman, Meghan; Knell, Mark Bone; Witherspoon, Jay (2010). "Masdar City's Integrated Approach to Sustainability". Proceedings of the Water Environment Federation. 2010 (2): 104–117. doi:10.2175/193864710798285516.
- 1 2 "What Are Sustainable Materials?". Center for Sustainable Materials. Rutgers. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 6 năm 2012.
- ↑ "11 Characteristics of Sustainable Materials". Simplicable. ngày 17 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2020.
- ↑ Gagg, Colin R. (tháng 5 năm 2014). "Cement and concrete as an engineering material: An historic appraisal and case study analysis". Engineering Failure Analysis. 40: 114–140. doi:10.1016/j.engfailanal.2014.02.004.
- ↑ Schulte, Justine; Jiang, Zhangfan; Sevim, Ozer; Ozbulut, Osman E. (2022). "Graphene-reinforced cement composites for smart infrastructure systems". The Rise of Smart Cities. tr. 79–114. doi:10.1016/B978-0-12-817784-6.00008-4. ISBN 978-0-12-817784-6.
- ↑ Schlangen, Erik (2018). "Foreword". Eco-Efficient Repair and Rehabilitation of Concrete Infrastructures. Elsevier. tr. xvii. doi:10.1016/B978-0-08-102181-1.00030-7. ISBN 978-0-08-102181-1.
- 1 2 3 "Why Building With Concrete is not Sustainable". IWBC (bằng tiếng Anh). ngày 28 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2020.
- ↑ Kurki-Fox, J. Jack; Doll, Barbara A.; Line, Daniel E.; Baldwin, Madalyn E.; Klondike, Travis M.; Fox, Andrew A. (ngày 1 tháng 8 năm 2022). "The flood reduction and water quality impacts of watershed-scale natural infrastructure implementation in North Carolina, USA". Ecological Engineering. 181 106696. Bibcode:2022EcEng.18106696K. doi:10.1016/j.ecoleng.2022.106696. ISSN 0925-8574.
- 1 2 Basdeki, Aikaterini; Katsifarakis, Lysandros; Katsifarakis, Konstantinos L. (2016). "Rain Gardens as Integral Parts of Urban Sewage Systems-a Case Study in Thessaloniki, Greece". Procedia Engineering. 162: 426–432. doi:10.1016/j.proeng.2016.11.084.
- 1 2 3 4 5 6 "The Value of Green Infrastructure: A Guide to Recognizing Its Economic, Environmental and Social Benefits" (PDF). Center for Neighborhood Technology (bằng tiếng Anh). ngày 21 tháng 1 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2020.
- 1 2 3 4 Li, W.C.; Yeung, K.K.A. (tháng 6 năm 2014). "A comprehensive study of green roof performance from environmental perspective". International Journal of Sustainable Built Environment. 3 (1): 127–134. doi:10.1016/j.ijsbe.2014.05.001.
- ↑ "Using Green Roofs to Reduce Heat Islands". United States Environmental Protection Agency (bằng tiếng Anh). ngày 17 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2020.
- 1 2 "Soak Up the Rain: Permeable Pavement". EPA. ngày 21 tháng 8 năm 2015.
- 1 2 3 4 5 6 Nader, Sam (tháng 2 năm 2009). "Paths to a low-carbon economy—The Masdar example". Energy Procedia. 1 (1): 3951–3958. Bibcode:2009EnPro...1.3951N. doi:10.1016/j.egypro.2009.02.199.
- 1 2 "Wastewater Management Fact Sheet" (PDF). EPA: Office of Water. tháng 7 năm 2006.
Thư mục
- Koh, Jae Myong (2018) Green Infrastructure Financing: Institutional Investors, PPPs and Bankable Projects, London: Palgrave Macmillan. ISBN 978-3-319-71769-2.
- Nurre, Sarah G.; Cavdaroglu, Burak; Mitchell, John E.; Sharkey, Thomas C.; Wallace, William A. (tháng 12 năm 2012). "Restoring infrastructure systems: An integrated network design and scheduling (INDS) problem". European Journal of Operational Research. 223 (3): 794–806. doi:10.1016/j.ejor.2012.07.010.
- Ascher, Kate (2007). The works: anatomy of a city. Researched by Wendy Marech . New York: Penguin Press. ISBN 978-0-14-311270-9.
- Larry W. Beeferman, "Pension Fund Investment in Infrastructure: A Resource Paper", Capital Matter (Occasional Paper Series), No. 3 December 2008
- A. Eberhard, "Infrastructure Regulation in Developing Countries", PPIAF Working Paper No. 4 (2007) World Bank
- M. Nicolas J. Firzli and Vincent Bazi, "Infrastructure Investments in an Age of Austerity: The Pension and Sovereign Funds Perspective", published jointly in Revue Analyse Financière, Q4 2011 issue, pp. 34–37 and USAK/JTW July 30, 2011 (online edition)
- Hayes, Brian (2005). Infrastructure: the book of everything for the industrial landscape (ấn bản thứ 1). New York: Norton. ISBN 978-0-393-32959-9.
- Huler, Scott (2010). On the grid: a plot of land, an average neighborhood, and the systems that make our world work. Emmaus, PA: Rodale. ISBN 978-1-60529-647-0.
- Georg Inderst, "Pension Fund Investment in Infrastructure", OECD Working Papers on Insurance and Private Pensions, No. 32 (2009)
- Dalakoglou, Dimitris (2017). The Road: An Ethnography of (Im)mobility, space and cross-border infrastructures. Manchester: Manchester University Press/ Oxford university Press.
Liên kết ngoài
- Body of Knowledge on Infrastructure Regulation
- Next Generation Infrastructures international research programme
- Report Card on America's Infrastructure
- sustainable sports infrastructure
- Dirk van Laak: Infrastructures, version: 1.0, in: Docupedia Zeitgeschichte, 20th may 2021
Bản mẫu:InfrastructureBản mẫu:Public infrastructure topicsBản mẫu:Rail tracks
- Cơ sở hạ tầng
- Bài viết về khái niệm rộng