Cá mú rạn
| Cá mú rạn | |
|---|---|
| Tình trạng bảo tồn | |
| Phân loại khoa học | |
| Giới (regnum) | Animalia |
| Ngành (phylum) | Chordata |
| Lớp (class) | Actinopterygii |
| Bộ (ordo) | Perciformes |
| Họ (familia) | Serranidae |
| Chi (genus) | Cephalopholis |
| Loài (species) | C. urodeta |
| Danh pháp hai phần | |
| Cephalopholis urodeta (Forster, 1801) | |
| Danh pháp đồng nghĩa[2] | |
Danh sách
| |
Cá mú rạn,[3] danh pháp là Cephalopholis urodeta, là một loài cá biển thuộc chi Cephalopholis trong họ Cá mú. Loài này được mô tả lần đầu tiên vào năm 1801.
Từ nguyên
Từ định danh của cá mú rạn không được tác giả ghi chú lại ý nghĩa. Theo giải thích của nhà ngư học hiện đại, Christopher Scharpf, urodeta có lẽ được ghép bởi hai âm tiết trong tiếng Hy Lạp cổ đại: ourá (ουρά; "đuôi") và deta, không rõ từ nguyên, có thể là tính từ của dêlos (δῆλος; "rõ ràng"); nếu đúng là vậy thì hàm ý đề cập đến hai dải xiên trắng nổi bật trên vây đuôi loài cá này.[4]
Phạm vi phân bố và môi trường sống
Từ đảo Giáng Sinh ở Đông Ấn Độ Dương, cá mú rạn được phân bố trải dài về phía đông đến đảo Wake, quần đảo Line và quần đảo Pitcairn, ngược lên phía bắc đến quần đảo Ogasawara và quần đảo Ryukyu (Nhật Bản), giới hạn phía nam đến Úc, Tonga và đảo Rapa Iti.[1][5]
Ở Việt Nam, cá mú rạn được ghi nhận tại Quảng Nam;[6] đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi);[7] vịnh Nha Trang (Khánh Hòa);[8] Ninh Thuận;[9] Bình Thuận;[10] quần đảo An Thới (Kiên Giang);[11] quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa.[12]
Hơn 1800 cá thể cá mú rạn đã được đưa từ quần đảo Marquises đến đảo Oahu (quần đảo Hawaii) vào năm 1958, tuy nhiên, chúng lại không thành lập một quần thể ở đây.[13][14]
Cá mú rạn ưa sống ở khu vực mặt trước rạn, đôi khi cũng được tìm thấy trong vùng đầm phá, độ sâu đến ít nhất là 60 m.[1]
Mô tả
Chiều dài cơ thể lớn nhất được ghi nhận ở cá mú rạn là 28 cm.[15] Thân có màu nâu đỏ (sẫm hơn ở thân sau), thường có các vạch sọc mờ dược tách đôi ở nửa thân dưới. Đầu có nhiều chấm màu đỏ cam nằm sát nhau, đôi khi xuất hiện thêm các vệt mờ màu đỏ nhạt. Một cặp đốm ở trước môi dưới, thẳng hàng với cặp răng nanh trước. Vây lưng mềm và vây hậu môn lấm chấm đỏ cam. Vây bụng màu đỏ cam, thường có rìa màu xanh lam. Vây đuôi có 2 dải màu trắng xiên hội tụ về phía cuối vây; góc vây màu đỏ. Vây ngực màu nâu đỏ ở gốc, chuyển vàng trở ra rìa.[16]
Số gai ở vây lưng: 9; Số tia vây ở vây lưng: 14–16; Số gai ở vây hậu môn: 3; Số tia vây ở vây hậu môn: 8–9; Số tia vây ở vây ngực: 17–19; Số vảy đường bên: 54–68.[17]
Sinh học
Thức ăn của cá mú rạn gồm những loài cá nhỏ hơn và động vật giáp xác.[16]
Thương mại
Do kích thước nhỏ mà cá mú rạn chủ yếu được đánh bắt trong nghề cá thủ công, tuy nhiên chúng lại xuất hiện phổ biến trong ngành thương mại cá cảnh.[16]
Tham khảo
- 1 2 3 Cabanban, A. S. (2018). "Cephalopholis urodeta". Sách đỏ IUCN về các loài bị đe dọa. 2018: e.T132783A100458618. doi:10.2305/IUCN.UK.2018-2.RLTS.T132783A100458618.en. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2022.
- ↑ Parenti, Paolo; Randall, John E. (2020). "An annotated checklist of the fishes of the family Serranidae of the world with description of two new related families of fishes". FishTaxa. Quyển 15. tr. 57. ISSN 2458-942X. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2022.
- ↑ Nguyễn Nhật Thi (2008). Cá biển Việt Nam (PDF). Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 5 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2022.
- ↑ Christopher Scharpf (2022). "Order Perciformes: Suborder Serranoidei (part 2)". The ETYFish Project Fish Name Etymology Database. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2022.
- ↑ R. Fricke; W. N. Eschmeyer; R. van der Laan, biên tập (2025). "Perca urodeta". Catalog of Fishes. Viện Hàn lâm Khoa học California. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2022.
- ↑ "Đa dạng thành phần loài và hiện trạng khai thác họ cá Mú (Serranidae) vùng biển ven bờ Đà Nẵng và Quảng Nam" (PDF). Tạp chí Khoa học và Công nghệ Biển. Quyển 16 số 4. 2016. tr. 405–417. doi:10.15625/1859-3097/16/4/7506. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 31 tháng 5 năm 2024. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2022.
{{Chú thích tạp chí}}: Đã bỏ qua tham số không rõ|authors=(trợ giúp) - ↑ Nguyễn Văn Long (2016). "Hiện trạng và biến động quần xã cá rạn san hô ở khu bảo tồn biển Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi" (PDF). Tuyển tập Nghiên Cứu Biển. Quyển 22. tr. 111–125. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 6 tháng 2 năm 2024. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2022.
- ↑ "Đa dạng thành phần loài và kích thước khai thác của một số loài thuộc họ Cá mú (Serranidae) vùng biển ven bờ Khánh Hòa" (PDF). Tạp chí Sinh học. Quyển 37 số 1. 2015. tr. 10–19. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 3 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2022.
{{Chú thích tạp chí}}: Đã bỏ qua tham số không rõ|authors=(trợ giúp) - ↑ Mai Xuân Đạt; Nguyễn Văn Long; Phan Thị Kim Hồng (2020). "Cá rạn san hô ở vùng biển ven bờ tỉnh Ninh Thuận" (PDF). Tạp chí Khoa học và Công nghệ biển. Quyển 20 số 4A. tr. 125–139. doi:10.15625/1859-3097/15656. ISSN 1859-3097.
- ↑ Võ Văn Quang (2018). "Đa dạng loài họ cá Mú (Serranidae) vùng biển từ Đà Nẵng đến Bình Thuận" (PDF). Tạp chí Khoa học và Công nghệ Biển. Quyển 18 số 4A. tr. 101–113.
- ↑ "Một số kết quả nghiên cứu cá rạn san hô ở An Thới (Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang)" (PDF). Tuyển tập nghiên cứu biển. Quyển 7. 1996. tr. 84–93. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 5 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2022.
{{Chú thích tạp chí}}: Đã bỏ qua tham số không rõ|authors=(trợ giúp) - ↑ Nguyễn Hữu Phụng (2004). "Thành phần cá rạn san hô biển Việt Nam" (PDF). Tuyển tập Báo cáo Khoa học Hội nghị Khoa học "Biển Đông-2002". tr. 275–308. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 26 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2022.
- ↑ Mundy, Bruce C. (2005). Checklist of the fishes of the Hawaiian Archipelago (PDF). Bishop Museum Press. tr. 345.
- ↑ Fuller, P. (2022). "Cephalopholis urodeta (Forster in Bloch and Schneider, 1801)". Nonindigenous Aquatic Species Database. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2022.
- ↑ Ranier Froese và Daniel Pauly (chủ biên). Thông tin Cephalopholis urodeta trên FishBase. Phiên bản tháng 11 năm 2025.
- 1 2 3 Kent E. Carpenter; Volker H. Niem, biên tập (1999). "Serranidae" (PDF). The living marine resources of the Western Central Pacific. Roma: FAO. tr. 2483. ISBN 92-5-104051-6.
{{Chú thích sách}}: Đã bỏ qua tham số không rõ|authors=(trợ giúp)Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách biên tập viên (liên kết) - ↑ Randall, Roger C.; Allen, Gerald R.; Steene (1997). Fishes of the Great Barrier Reef and Coral Sea. Nhà xuất bản Đại học Hawaii. tr. 104. ISBN 0-8248-1895-4.
- Loài ít quan tâm theo Sách đỏ IUCN
- Cephalopholis
- Cá Ấn Độ Dương
- Cá Thái Bình Dương
- Cá Nhật Bản
- Cá Việt Nam
- Cá Brunei
- Cá Philippines
- Cá Papua New Guinea
- Cá Úc
- Cá Nouvelle-Calédonie
- Cá Tonga
- Động vật đảo Giáng Sinh
- Động vật quần đảo Marshall
- Động vật quần đảo Bắc Mariana
- Động vật Guam
- Động vật Polynésie thuộc Pháp
- Động vật quần đảo Pitcairn
- Cá được mô tả năm 1801
- Cá châu Đại Dương
- Cá Palau