Bước tới nội dung

Chùa Hoằng Ân

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Tập tin:Chùa hoằng ân.jpg
Tiền Đường chùa Hoằng Ân, Quảng Bá

Chùa Hoằng Ân hay Chùa Quảng Bá còn có tên gọi khác là chùa Báo Ân (phường Quảng An, quận Tây Hồ, Hà Nội) là một trong số rất ít những ngôi chùa cổ nhất ở Hà Nội có tuổi đời gần 1000 năm.[1]

Lịch sử

chùa được xây dựng vào thời Lý, do Thiền sư Ngô An/Ngô Ân (1019 - 1088) người làng khởi lập. Ðến thời hậu Lê, năm Vĩnh Tộ thứ 10 (1628), chùa được xây dựng lại.

Sách Tây Hồ chí chép:

Công chúa Nguyễn Thị Ngọc Tú, con gái Ðoan Quốc Công Thái Tổ Gia dụ Hoàng Ðế Nguyễn Hoàng, vợ của Thanh Ðô Vương Trịnh Tráng (1623 - 1657) cho xây dựng lại quy mô lớn.

Năm Minh Mạng thứ hai, chùa đổi tên là Sùng Ân Tự. Ðời Vua Thiệu Trị, Vua ngự giá thăm chùa.

Năm 1842, Bộ Lễ xét thấy tên Sùng Ân Tự  trùng với tên lăng của Vua nên xin cho đổi là Hoằng Ân Tự, ngày nay, chùa được gọi theo tên làng - chùa Quảng Bá hoặc chùa Hoằng Ân.

Văn bia của chùa ghi:

"Phía trước là Tây Hồ mênh mông, phía sau là Tam Ðảo xanh ngắt, nhà cửa san sát, xóm bao bọc xung quanh, muôn phần tươi đẹp".[2]

Danh nhân, Cao Tăng trú ngụ tại chùa các thời kỳ

  • Thiền Sư Thích Ngộ Ấn (1019-1088): sư tổ khai sơn chùa.
Tập tin:Chùa hoằng ân 5.jpg
Tượng chúa Nguyễn

Đạo sĩ Trần Tuệ Long, đời Lý, tu hành đắc đạo, lưu xá lợi ở đây.

Dòng Thiền Tào Động:

  1. Khoan Nhân Thiền Sư, Duệ Trí Sa Môn, Phương Trượng Hòa Thượng, Bảo Nghiêm Tháp, sư họ Bùi quê huyện Thụy An, thế hệ thứ 5 Tào Động tổ đình Hòe Nhai, sư trùng tu chùa Quảng bá năm 1715.
  2. Giác Hồng Thiền Sư, người đúc chuông lớn năm 1743.
  3. Võ Tướng Thiền Sư, húy Đạo Huân, Thanh Ninh Tâm Giới Địa, Tuệ Quang Tháp, sư họ Nguyễn quê huyện Từ Liêm.
  4. Nhu Thuận Thiền Sư, húy Sinh Thông, tháp hiệu Viên Tịnh.
  5. Thích Đường Đường Thiền Sư, Hồng Phúc Sa Môn, pháp húy Quang Lư, tháp hiệu Chân Quỳnh.
  6. Hùng Lực Thiền Sư, pháp húy Chính Nhượng, tháp hiệu Long Ân.
  7. Tính Trương, pháp húy Tâm Nhân, thụy Trung Nghĩa, hiệu Mỹ An, tháp hiệu Viên Thông.
  8. Huyền Cơ Thiền Sư, Hòa Thượng Thích Mật ứng, Tháp hiệu Quảng Tuệ (1889-1957) - Thiền Gia Pháp Chủ của Giáo Hội Tăng Bắc Việt, thuộc phái Tào Động, trụ trì chùa gia đoạn 1939-1957. Ngài lưu bảo tháp ở vườn chùa.
  9. Hòa Thượng Thích Đức Nhuận, pháp húy Thanh Thiệu (1897-1993), Pháp chủ đời thứ Nhất của giáo hội Phật Giáo Việt Nam từ năm 1981, trụ trì chùa từ năm 1969. Bảo tháp của Ngài xây ở vườn chùa. Pháp môn tu hành của sư là pháp tu theo Quán Thế Âm trong Kinh Lăng Nghiêm có tên " Nhĩ Căn Viên Thông " "Phản Văn Tự Tính ". Ngài là đệ tử của sư tổ Thích Mật Nghĩa, Ngài Mật Nghĩa vốn tu học và thọ giới ở chùa Quảng Bá, huynh đệ với tổ Mật Ứng,
  10. Thượng Tọa Thích Tuệ Côn (1927 - 2005), quê xã Song Phương - Hoài Đức - Hà Nội.
  11. Thượng Tọa Thích Minh Đạo.

Các Cao Tăng Khác:

  • Hòa Thượng Thích Tâm An (1892-1982), Phó hội trưởng hội Phật Giáo thống nhất Việt Nam kiêm trụ trì chùa Quán Sứ, với cương vị hiệu phó trường tu học Phật Pháp trung ương, ngài lưu trú và giảng dạy môn Luật tạng ở chùa Quảng Bá. Ngài viên tịch, tháp xây ở vườn chùa.
  • Pháp sư Thích Trí Độ (1894- 1979). Hòa Thượng là Hội Trưởng hội Phật giáo thống nhất Việt Nam (tiền thân giáo hội ngày nay), Hiệu trưởng trường tu học Phật Pháp ở chùa Quảng Bá. Ngài cũng tham gia các chức vụ thế tục như: Ủy Viên Thường Vụ quốc hội, Ủy viên đoàn chủ tịch Mặt trận tổ quốc. Ngài viên tịch năm 1979, tháp xây ở vườn chùa có tên "Đại Nhạn Bảo Tháp ", tên tháp giống với tháp sư Huyền Trang đời Đường ở Tây An trung quốc, Pháp sư Trí Độ là bậc đại sư về môn Duy Thức Tông, tông phái này do Pháp sư Huyền Trang phát dương.
  • Hòa thượng Bình Lương: người Thái Lan, ân nhân của chủ tịch nước Hồ Chí Minh, sau sư viên tịch tháp được xây ở chùa này.

Các di vật quý

  • Quả chuông đề "Long Ân tự" đúc năm Cảnh Hưng thứ 3 (1743).cao 1,5m đường kính 0.8m
  • Tượng chúa Nguyễn Kim
  • Tượng Chúa Nguyễn Hoàng
  • Tượng Quận chúa Nguyễn Thị Ngọc Tú Vương phi của chúa Trịnh (con gái Nguyễn Hoàng).

Tham khảo

  1. "Chùa Hoằng Ân".
  2. "Chùa Hoằng Ân-Lịch sử".