Chính sách khoa học

Chính sách khoa học (Science policy) là các chính sách liên quan đến việc phân bổ nguồn lực cho việc nghiên cứu, thực nghiệm khoa học hướng tới mục tiêu phục vụ tốt nhất cho lợi ích công cộng. Các chủ đề về nghiên cứu khoa học bao gồm việc tài trợ khoa học, sự nghiệp của các nhà khoa học và việc chuyển đổi các khám phá khoa học thành đổi mới công nghệ để thúc đẩy phát triển sản phẩm thương mại, nâng cao năng lực cạnh tranh, tạo đà tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế. Chính sách khoa học tập trung vào việc sản xuất tri thức và vai trò của các mạng lưới tri thức, sự hợp tác và sự phân bổ phức tạp của các yếu tố chuyên môn, máy móc, thiết bị và bí quyết, công nghệ. Hiểu được các quy trình và bối cảnh tổ chức của việc tạo ra các ý tưởng khoa học và kỹ thuật mới lạ và sáng tạo là mối quan tâm cốt lõi của chính sách khoa học. Các chủ đề chính sách khoa học bao gồm phát triển vũ khí, chăm sóc sức khỏe và quan trắc môi trường. Do đó, chính sách khoa học giải quyết toàn bộ lĩnh vực các vấn đề liên quan đến khoa học. Một mạng lưới rộng lớn và phức tạp các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của khoa học và kỹ thuật bao gồm các nhà hoạch định chính sách khoa học của chính phủ, các công ty tư nhân (bao gồm cả các công ty quốc gia và công ty đa quốc gia), các phong trào xã hội, phương tiện truyền thông, các tổ chức phi chính phủ (NGO), các trường đại học và các viện nghiên cứu khác. Ngoài ra, chính sách khoa học ngày càng mang tính quốc tế khi được xác định từ các hoạt động toàn cầu của các công ty và viện nghiên cứu cũng như từ các mạng lưới hợp tác của các tổ chức phi chính phủ và bản chất của chính quá trình tìm hiểu khoa học.
Lịch sử

Chính sách nhà nước đã ảnh hưởng đến việc tài trợ cho các công trình công cộng và khoa học trong hàng ngàn năm, ít nhất là từ thời Mặc gia, những người đã truyền cảm hứng cho việc nghiên cứu luận lý pháp (phép logic) trong thời kỳ Bách gia chư tử, và việc nghiên cứu các công sự phòng thủ trong thời Chiến Quốc ở Trung Quốc. Các khoản thuế về lao động (thuế đinh) và ngũ cốc đã được thu để tài trợ cho các công trình công cộng lớn ở Trung Quốc, bao gồm việc tích lũy ngũ cốc để phân phối trong thời kỳ nạn đói,[1] xây dựng đê điều để kiểm soát lũ lụt bởi các con sông lớn của Trung Quốc, xây dựng các kênh rạch và âu tàu để kết nối các con sông của Trung Quốc, một số trong đó chảy theo hướng ngược nhau,[2] và xây dựng các cây cầu bắc qua các con sông này. Những dự án này đòi hỏi một bộ máy công vụ, các sĩ phu, học giả, một số người trong số họ đã thể hiện sự tinh thông về thủy lực học.
Tại Ý, Galileo lưu ý rằng việc đánh thuế cá nhân với số tiền nhỏ có thể tài trợ một khoản tiền lớn cho Nhà nước, sau đó Nhà nước có thể tài trợ cho nghiên cứu của ông về quỹ đạo của đạn pháo, lưu ý rằng "mỗi người lính riêng lẻ đang được trả lương từ tiền xu thu được bằng một loại thuế chung gồm những đồng xu nhỏ và hào lẻ, trong khi ngay cả một triệu vàng cũng không đủ để trả cho toàn bộ quân đội".[3] Tại Vương quốc Anh, Đại Chưởng ấn Ngài Francis Bacon đã có ảnh hưởng hình thành đối với chính sách khoa học với việc xác định "các thí nghiệm của... ánh sáng, thâm nhập vào tự nhiên sâu hơn [so với những gì người khác biết]",[4] mà ngày nay chúng ta gọi là thí nghiệm quyết định. Sự chấp thuận của chính phủ đối với Hội Hoàng gia đã công nhận một cộng đồng khoa học tồn tại cho đến ngày nay. Các giải thưởng của Anh cho nghiên cứu đã thúc đẩy sự phát triển của một chiếc đồng hồ bấm giờ chính xác, di động, trực tiếp cho phép điều hướng và đi biển tin cậy trên biển khơi, và cũng đã tài trợ cho máy tính của Charles Babbage.
Sự chuyên nghiệp hóa của khoa học, bắt đầu vào thế kỷ XIX, một phần được kích hoạt từ việc tạo ra các tổ chức khoa học như Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ, Viện Kaiser Wilhelm, và sự tài trợ của Nhà nước cho các trường đại học của các quốc gia tương ứng. Tại Hoa Kỳ, một thành viên của Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia có thể bảo trợ một Bài nộp Trực tiếp để xuất bản trong Proceedings of the National Academy of Sciences (PNAS).[5] PNAS đóng vai trò là một kênh để công nhận nghiên cứu quan trọng đối với ít nhất một thành viên của Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia. Chính sách công có thể ảnh hưởng trực tiếp đến việc tài trợ cho thiết bị vốn, cơ sở hạ tầng trí tuệ cho nghiên cứu công nghiệp, bằng cách cung cấp khuyến khích thuế cho các tổ chức tài trợ nghiên cứu. Vannevar Bush, giám đốc văn phòng nghiên cứu và phát triển khoa học của chính phủ Hoa Kỳ vào tháng 7 năm 1945, đã viết "Khoa học là mối quan tâm thích đáng của chính phủ"[6]. Vannevar Bush đã chỉ đạo tiền thân của Quỹ Khoa học Quốc gia, và các bài viết của ông đã trực tiếp truyền cảm hứng cho các nhà nghiên cứu phát minh ra siêu liên kết và chuột máy tính. Sáng kiến DARPA hỗ trợ máy tính là động lực cho ngăn xếp Giao thức Internet. Tương tự như cách các tập đoàn khoa học như CERN về vật lý năng lượng cao có cam kết với tri thức công cộng, việc tiếp cận tri thức công cộng này trong vật lý đã dẫn trực tiếp đến việc CERN bảo trợ phát triển World Wide Web và truy cập Internet tiêu chuẩn cho tất cả mọi người.
Chính sách


Các chương trình được tài trợ thường được chia thành bốn loại cơ bản gồm nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, phát triển, cùng cơ sở vật chất và thiết bị.[7] Nghiên cứu chuyển giao (Translational research) là một khái niệm mới hơn nhằm tìm cách thu hẹp khoảng cách giữa khoa học cơ bản và các ứng dụng thực tế. Khoa học cơ bản cố gắng kích thích các đột phá. Các đột phá thường dẫn đến sự bùng nổ của các công nghệ và phương pháp tiếp cận mới. Khi kết quả cơ bản được phát triển, nó được công bố rộng rãi, tuy nhiên, việc chuyển đổi thành một sản phẩm thực tế được để lại cho thị trường tự do. Tuy nhiên, nhiều chính phủ đã phát triển các tổ chức nghiên cứu và phát triển chấp nhận rủi ro để đưa nghiên cứu lý thuyết cơ bản vượt qua giới hạn vào kỹ thuật thực tế. Tại Hoa Kỳ, chức năng này được thực hiện bởi DARPA.[8] Ngược lại, phát triển công nghệ là một chính sách trong đó kỹ thuật, việc áp dụng khoa học, được hỗ trợ thay vì khoa học cơ bản.[9]
Một câu chuyện thành công đáng chú ý khác là các nghiên cứu "phương tiện X" đã mang lại cho Hoa Kỳ vị thế dẫn đầu lâu dài trong các công nghệ hàng không vũ trụ.[10] Dự án Manhattan rất lớn và chi tiêu thoải mái cho các phương pháp thay thế rủi ro nhất. Các thành viên dự án tin rằng thất bại sẽ dẫn đến việc họ bị nô dịch hoặc tiêu diệt bởi Đức Quốc xã. Mỗi dự án X chế tạo một máy bay với mục đích duy nhất là phát triển một công nghệ cụ thể. Kế hoạch là chế tạo một vài máy bay giá rẻ của mỗi loại, bay một loạt thử nghiệm, thường dẫn đến việc phá hủy một máy bay, và không bao giờ thiết kế một máy bay cho một nhiệm vụ thực tế. Nhiệm vụ duy nhất là phát triển công nghệ.[11] Mặc dù các dự án này có thể không phải lúc nào cũng có kết quả thực tế rõ ràng, chúng cung cấp giáo dục cho các nhà khoa học tương lai và sự tiến bộ của kiến thức khoa học có giá trị lâu dài về các khối xây dựng cơ bản của khoa học.[12] Một ví dụ về một chương trình khoa học hoành tráng tạo ra kết quả thực tế bất ngờ là laser. Sự chậm trễ giữa lý thuyết về ánh sáng kết hợp và việc sản xuất laser một phần là do giả định rằng nó sẽ không có công dụng thực tế nào.[13]
Các nước
Hầu hết các quốc gia phát triển thường có một cơ quan quốc gia cụ thể giám sát chính sách khoa học quốc gia (bao gồm công nghệ và đổi mới). Nhiều quốc gia đang phát triển cũng theo xu hướng tương tự. Nhiều chính phủ của các nước phát triển cung cấp các khoản tiền đáng kể (chủ yếu cho các trường đại học) cho nghiên cứu khoa học (trong các lĩnh vực như vật lý và địa chất học) cũng như nghiên cứu khoa học xã hội (trong các lĩnh vực như kinh tế học và lịch sử). Phần lớn điều này không nhằm mục đích cung cấp các kết quả cụ thể có thể thương mại hóa, mặc dù nghiên cứu trong các lĩnh vực khoa học có thể dẫn đến các kết quả có tiềm năng như vậy. Hầu hết các nghiên cứu đại học đều nhằm mục đích được xuất bản trên các tạp chí học thuật được bình duyệt.[14] Một cơ quan tài trợ là một tổ chức cung cấp tài trợ nghiên cứu dưới hình thức các khoản trợ cấp nghiên cứu hoặc học bổng. Các hội đồng nghiên cứu là các cơ quan tài trợ do chính phủ cấp vốn tham gia vào việc hỗ trợ nghiên cứu trong các ngành khác nhau và tài trợ sau đại học. Tài trợ từ các hội đồng nghiên cứu thường mang tính cạnh tranh. Theo quy tắc chung, có nhiều tài trợ hơn trong các ngành khoa học và kỹ thuật so với nghệ thuật và khoa học xã hội.[15]

Chính sách khoa học của Liên minh Châu Âu được thực hiện thông qua Khu vực Nghiên cứu Châu Âu, một hệ thống tích hợp các nguồn lực khoa học của các quốc gia thành viên và hoạt động như một "thị trường chung" cho nghiên cứu và đổi mới. Cơ quan điều hành của Liên minh Châu Âu, Ủy ban Châu Âu, có một Tổng cục Nghiên cứu, chịu trách nhiệm về chính sách khoa học của Liên minh. Ngoài ra, Trung tâm Nghiên cứu Chung (Joint Research Centre) cung cấp tư vấn khoa học và kỹ thuật độc lập cho Ủy ban Châu Âu và các Quốc gia Thành viên của Liên minh Châu Âu (EU) để hỗ trợ các chính sách của EU.[16] Ngoài ra còn có Hội đồng Nghiên cứu Châu Âu mới được thành lập gần đây, là cơ quan tài trợ đầu tiên của Liên minh Châu Âu được thiết lập để hỗ trợ nghiên cứu do nhà điều tra định hướng. Chính sách nghiên cứu và đổi mới môi trường châu Âu giải quyết các thách thức toàn cầu có tầm quan trọng then chốt đối với sự thịnh vượng của công dân châu Âu trong bối cảnh phát triển bền vững và bảo vệ môi trường. Nghiên cứu và đổi mới ở châu Âu được hỗ trợ tài chính bởi chương trình Horizon 2020 (Chân trời 2020), chương trình này cũng mở cửa cho sự tham gia trên toàn thế giới.[17]
Tham khảo
- Science the Endless Frontier.[18]
- Pasteur's Quadrant: Basic Science and Technological Innovation[19]
- Beyond Sputnik: U.S. Science Policy in the 21st Century[20]
- The Honest Broker: Making Sense of Science in Policy and Politics[21]
- How Economics Shapes Science[22]
- Frontiers Of Illusion: Science, Technology, and the Politics of Progress[23]
- Science Policy Up Close[24]
- Dangerous Science: Science Policy and Risk Analysis for Scientists and Engineers[25]
- Issues in Science and Technology[26]
- Science and Public Policy[27]
- Research Policy[28]
- Journal of Science Policy and Governance[29]
Chú thích
- ↑ Francesca Bray (1984), Science and Civilisation in China VI.2 Agriculture
- ↑ Joseph Needham, Science and Civilisation in China
- ↑ Galileo (1638) Two New Sciences, Salviati, ngày đầu tiên của các cuộc đối thoại
- ↑ Sir Francis Bacon (1624). New Atlantis
- ↑ PNAS Submission Guidelines
- ↑ Vannevar Bush (July 1945), "Science, the Endless Frontier"
- ↑ Clemins, Patrick. "R&D in the President's FY 2011 Budget". Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2010.
- ↑ Howell, Elizabeth; April 30, Space com Contributor |; ET, 2015 12:46am (ngày 30 tháng 4 năm 2015). "What Is DARPA?". Space.com. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2019.
{{Chú thích web}}:|first2=có tên chung (trợ giúp)Quản lý CS1: tên số: danh sách tác giả (liên kết) - ↑ Gomory, Ralph (1983). "Technology Development". Science. Quyển 220 số 4597. tr. 576–580. Bibcode:1983Sci...220..576G. doi:10.1126/science.220.4597.576. PMID 17749515. S2CID 40692163.
- ↑ "Ground X-Vehicle Technologies (GXV-T)". www.darpa.mil. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2019.
- ↑ Gallagher, Ryan; Moltke, Henrik (ngày 16 tháng 11 năm 2016). "Titanpointe: The NSA's Spy Hub in New York, Hidden in Plain Sight". The Intercept (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2019.
- ↑ Vuong, Quan-Hoang (ngày 1 tháng 1 năm 2018). "The (ir)rational consideration of the cost of science in transition economies". Nature Human Behaviour. Quyển 2 số 1. tr. 5. doi:10.1038/s41562-017-0281-4. PMID 30980055.
- ↑ Suplee, Curt (1999) Physics In The 20th Century Harry N. Abrams Inc, 58-63.
- ↑ Vuong, Quan-Hoang (2020). "Reform retractions to make them more transparent". Nature. Quyển 582 số 7811. tr. 149. Bibcode:2020Natur.582..149V. doi:10.1038/d41586-020-01694-x. S2CID 219529301.
- ↑ "Public funding bodies". Graduate Prospects. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2007.
- ↑ "EU Science Hub - European Commission". ngày 12 tháng 3 năm 2024.
- ↑ Xem Horizon 2020 – chương trình nghiên cứu và đổi mới mới của EU http://europa.eu/rapid/press-release_MEMO-13-1085_en.htm
- ↑ Bush, Vannevar. (1960). Science, the endless frontier : a report to the President on a Program for Postwar Scientific Research . Washington: National Science Foundation. ISBN 978-1-59740-026-8. OCLC 635336648.
- ↑ Stokes, Donald E. (1997). Pasteur's quadrant : basic science and technological innovation. Brookings Institution. Washington, D.C. ISBN 0-8157-8178-4. OCLC 36656380.
{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: địa điểm thiếu nhà xuất bản (liên kết) - ↑ Neal, Homer A. (2008). Beyond Sputnik : U.S. science policy in the twenty-first century. Smith, Tobin L., 1969-, McCormick, Jennifer B., 1966-. Ann Arbor: University of Michigan Press. ISBN 978-0-472-02745-3. OCLC 671654179.
- ↑ Pielke, Roger A. Jr. (2007). The honest broker : making sense of science in policy and politics. Cambridge: Cambridge University Press. ISBN 978-0-511-27948-5. OCLC 162145073.
- ↑ Stephan, Paula E. (2012). How economics shapes science. Cambridge, Mass.: Harvard University Press. ISBN 978-0-674-04971-0. OCLC 709670355.
- ↑ Sarewitz, Daniel R. (1996). Frontiers of illusion : science, technology, and the politics of progress. Philadelphia: Temple University Press. ISBN 978-1-4399-0372-8. OCLC 646068257.
- ↑ Marburger, John H., III (John Harmen), 1941-2011 (ngày 10 tháng 2 năm 2015). Science policy up close. Crease, Robert P. Cambridge, Massachusetts. ISBN 978-0-674-41709-0. OCLC 875999943.
{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết) Quản lý CS1: tên số: danh sách tác giả (liên kết) Quản lý CS1: địa điểm thiếu nhà xuất bản (liên kết) - ↑ Rozell, Daniel J. (ngày 4 tháng 2 năm 2020). Dangerous Science Science: Policy and Risk Analysis for Scientists and Engineers. Ubiquity Press. doi:10.5334/bci. ISBN 978-1-911529-88-0. S2CID 213952232.
- ↑ "Issues in Science and Technology".
- ↑ "Science and Public Policy | Oxford Academic". OUP Academic (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2020.
- ↑ "Research Policy | Journal". ScienceDirect (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2020.
- ↑ "Journal of Science Policy and Governance".