Chính sách chia để trị


Chính sách chia để trị hay chia rẽ để chinh phục (Divide and conquer) trong chính trị đề cập đến việc một thực thể giành và duy trì quyền lực chính trị bằng cách sử dụng các biện pháp gây chia rẽ.[1] Điều này bao gồm việc các đối thủ chính trị khai thác những rạn nứt hiện có trong một nhóm chính trị, và cả việc cố ý tạo ra hoặc khoét sâu thêm những rạn nứt đó.[2][3] Chính sách chia để trị chủ yếu đề cập đến hành vi tạo ra sự chia rẽ giữa các đối thủ để ngăn chặn họ đoàn kết chống lại một kẻ thù chung, cho phép kẻ thực hiện sự chia rẽ giành được hoặc duy trì quyền kiểm soát chính trị.[2][4][5][6] Là một câu châm ngôn, nó thường được khuyến nghị cho các nhà cai trị chính trị.[7] Một số nhà phân tích khẳng định rằng Hoa Kỳ đang thực hành chiến lược này ở Trung Đông thế kỷ XXI thông qua việc được cho là họ đang leo thang cuộc xung đột Sunni-Shia. Nhà báo người Anh Nafeez Ahmed đã trích dẫn một nghiên cứu năm 2008 của Tập đoàn RAND dành cho Lực lượng Vũ trang Hoa Kỳ, trong đó khuyến nghị chiến lược "chia để trị" như một chiến lược khả thi nhằm chống lại thế giới Hồi giáo trong cái gọi là "Chiến tranh chống khủng bố".[8] Một cách sử dụng thứ cấp của ý tưởng này đề cập đến biện pháp "chia nhỏ lực lượng hoặc nhân sự của một người để giải quyết các nhiệm vụ khác nhau cùng một lúc".[4] Trong kinh tế học, khái niệm này cũng được đề cập đến như một chiến lược phân khúc thị trường nhằm tận dụng tối đa những người chơi trong một thị trường cạnh tranh.[9] Theo Richard Morrock, có bốn chiến thuật chia để trị được thực hiện bằng âm mưu thâm độc của những kẻ thực dân phương Tây:[10] Việc ngụy tạo ra những sự khác biệt bên trong cộng đồng dân cư mà họ đã nhắm mục tiêu; khuếch đại, thổi phồng những sự khác biệt hiện có; sử dụng những sự khác biệt này vì lợi ích của đế quốc thực dân; và chuyển giao những sự khác biệt này sang thời kỳ hậu thuộc địa.
Điển hình Chính sách chia để trị
Một chính sách chia để trị điển hình được biết đến trong lịch sử bên cạnh những chính sách chia để trị của các triều đại phong kiến Trung Hoa đối với các dân tộc xung quanh mình, bao gồm cả người An Nam, những chính sách chia để trị của thực dân Pháp tại xứ Đông Dương để duy trì sự cai trị của mình trong hơn một thế kỷ, chính sách chia rẽ của các thế lực chủ nghĩa đế quốc trong thời đại ngày nay.
La Mã
Trong cuốn lịch sử về Chiến tranh xứ Gaul (Commentarii de Bello Gallico), Julius Caesar thuật lại tình tiết sau: Bản thân ông (tức Caesar) đã đưa ra lời kêu gọi mạnh mẽ và mang tính cá nhân đối với Diviciacus người Aedui, chỉ ra cho ông ta thấy rằng một lợi thế quan trọng đối với nhà nước La Mã, và đối với phúc lợi của cả hai bên, là việc chia rẽ các đội quân của kẻ thù, để tránh sự cần thiết phải chiến đấu cùng một lúc chống lại một đạo quân quá đông đảo (Ipse Diviciacum Haeduum magnopere cohortatus docet necesse esse manus hostium distineri, ne cum tanta multitudine uno tempore confligendum sit)[11][12] Người Gaul là một dân tộc có chung ngôn ngữ và văn hóa nhưng lại độc lập về mặt chính trị với nhau, bị chia cắt thành nhiều bộ lạc. Vì lợi ích của họ thường xuyên mâu thuẫn, và việc các cộng đồng dân cư hiện tại bị gián đoạn từ các cuộc di cư quy mô lớn của các dân tộc khác là điều bình thường, giao tranh giữa các bộ lạc là chuyện như cơm bữa; chủ yếu âm ỉ ở mức độ thấp dưới hình thức các cuộc đột kích triền miên, nhưng đôi khi bùng phát thành những cơn bạo lực tột độ dẫn đến việc toàn bộ các thành phố bị tàn phá và người dân của họ bị phân tán hoặc bắt làm nô lệ. Vì lý do này, các bộ lạc thường có mối hận thù sâu sắc đối với các bộ lạc khác.[13][14][15]
Những điểm yếu này gồm cả sự thiếu hụt quyền lực chính trị tập trung và sự thù địch hệ quả giữa các bộ lạc đã bị Caesar nhìn ra và lợi dụng một cách tàn nhẫn và có hệ thống trong cuộc chinh phạt xứ Gaul của ông ta.[16] Caesar đã sử dụng một hệ thống khen thưởng và trừng phạt để liên minh với một số bộ lạc và đe dọa những bộ lạc khác, để chắc mẫm rằng ông chỉ phải chiến đấu với một đối thủ tại một thời điểm.[17] Ông cẩn thận thể hiện mình là người bảo vệ lợi ích của người Gaul, và các hành động quân sự của ông chỉ nhằm vào các bộ lạc thù địch đang đe dọa đến hòa bình và sự ổn định của xứ Gaul.[18] Các bộ lạc láng giềng thường đồng tình với đánh giá của ông, coi những kẻ mà ông tấn công là những kẻ thù truyền kiếp thường xuyên quấy nhiễu họ, chứ không phải là những đồng minh tiềm năng hung dữ trong các cuộc chiến sắp tới. Nhiều bộ lạc thậm chí còn chu cấp ngũ cốc hoặc phái quân tiếp viện cho lực lượng La Mã, hoặc thậm chí đề nghị cho sử dụng thị trấn của họ làm doanh trại cho các toán lính lê dương.[19][20] Tuy nhiên, cuối cùng, không thể nhầm lẫn động cơ thực sự của Caesar đó không phải là sự bình định, mà là sự chinh phạt.[21] Mãi sau này thì người Gaul cũng nhận ra rằng họ đang trên bờ vực trở thành một dân tộc bị chinh phục mà chưa từng tham gia vào một cuộc chiến nào để bảo vệ mình.[22]
Anh quốc
Một số nhà sử học Ấn Độ chính trị gia Shashi Tharoor đã khẳng định rằng Ấn Độ thuộc Anh (Chính quyền cai trị của Anh) thường xuyên sử dụng chiến thuật chia rẽ người dân Ấn Độ để củng cố sự cai trị của nước Anh và ngăn chặn sự trỗi dậy của phong trào độc lập Ấn Độ, ông trích dẫn lời Lãnh chúa Elphinstone đã nói rằng "Divide et impera là châm ngôn cũ của người La Mã, và nó nên là của chúng ta".[23] Một bài đánh giá trên tờ Times Literary Supplement (Phụ trương Văn học của tờ Thời báo) của nhà sử học người Anh Jon Wilson cho thấy rằng mặc dù nhìn chung đây là trường hợp xảy ra, một cách tiếp cận đa sắc thái hơn có thể sẽ gần với sự thật hơn.[24] Mặt khác, những người ủng hộ Hindutva, hệ tư tưởng của các chính phủ Ấn Độ hiện tại và gần đây trong nhiều năm qua, nhấn mạnh mạnh mẽ vào cuộc xung đột Ấn Độ giáo với Hồi giáo đã diễn ra từ nhiều thế kỷ trước khi người Anh xuất hiện.
Cho đến tận năm năm 1857 (là năm xảy ra cuộc khởi nghĩa Ấn Độ 1857), không hề có các vấn đề bạo lực giáo phái ở Ấn Độ và tất cả các cuộc bạo loạn và thù hận giáo phái đều bắt đầu sau năm 1857. Chắc chắn ngay cả trước năm 1857, vẫn có những khác biệt giữa người theo đạo Hindu và người theo đạo Hồi, người theo đạo Hindu đến đền thờ và người theo đạo Hồi đến nhà thờ Hồi giáo, nhưng không hề có sự thù hận. Trên thực tế, những người theo đạo Hindu và người theo đạo Hồi thường giúp đỡ lẫn nhau, người theo đạo Hindu thường tham gia vào các lễ kỷ niệm Eid al-Fitr, và người theo đạo Hồi tham gia vào các lễ Holi và Diwali. Các nhà cai trị Hồi giáo như Đế quốc Mogul, Nawab xứ Awadh và Murshidabad, Tipu Sultan hoàn toàn là những người thế tục, họ đã tổ chức Ramlila, tham gia vào lễ Holi, Diwali. Những bức thư chan chứa tình cảm của Ghalib gửi cho những người bạn theo đạo Hindu của ông như Munshi Shiv Naraln Aram, Har Gopal Tofta chứng minh cho tình cảm giữa người theo đạo Hindu và đạo Hồi vào thời điểm đó. Vào năm 1857, Cuộc Nổi dậy Lớn đã nổ ra, trong đó người theo đạo Hindu và đạo Hồi đã cùng nhau chiến đấu chống lại người Anh. Điều này khiến chính quyền Anh bị sốc nặng đến mức sau khi dập tắt cuộc Đại Nổi dậy, họ quyết định bắt đầu chính sách chia để trị.
Tất cả các cuộc bạo loạn giáo phái bắt đầu sau năm 1857, do các nhà chức trách Anh tạo ra một cách nhân tạo thông qua việc âm thầm kích động hận thù giữa hai tôn giáo. Viên chức thu thuế người Anh sẽ bí mật gọi vị Pandit (học giả Hindu) đến, phát tiền cho ông ta, và bảo ông ta phát ngôn nhắm vào người Hồi giáo, và tương tự, ông ta cũng sẽ bí mật gọi vị Maulvi (học giả Hồi giáo) đến, dúi tiền cho ông ta, và bảo ông ta phát ngôn chống lại người theo đạo Hindu. Liều thuốc độc giáo phái này đã được tiêm vào cơ thể chính trị của người Ấn năm này qua năm khác và thập kỷ này qua thập kỷ khác.[25][25] Nhà sử học John Keay lại có một quan điểm trái ngược liên quan đến chính sách của Anh, viết rằng những lời cáo buộc sáo rỗng về một mưu đồ xảo quyệt (Machiavellian) nhằm chia để trị và kích động sự thù địch giữa người theo đạo Hindu và Hồi giáo giả định rằng có một điềm báo trước về một sự chia cắt sau này. Chúng chẳng có mấy ý nghĩa trong bối cảnh đương thời. Chia để trị như một chính sách cai trị giả định sự tồn tại trước của một thực thể thống nhất. Ở một Ấn Độ vốn chỉ được thống nhất về mặt chính trị bởi sự cai trị của người Anh và thậm chí vẫn chưa được thống nhất bởi sự phản đối mà nó tạo ra, một thứ như vậy không hề tồn tại. Sự chia rẽ là một thực tế của cuộc sống. Như Maulana Muhammad Ali sau này đã nói rằng "chúng tôi chia rẽ và các ngài cai trị". Nếu không có việc nhận ra, khám phá và thích ứng với sự chia rẽ đó, sự thống trị của Anh ở Ấn Độ sẽ không thể được thiết lập, chứ đừng nói đến việc duy trì. Mặt khác, việc kích động xung đột bè phái hiếm khi mang lại lợi ích cho người Anh.[26]
Israel
Giáo sư Avner Cohen, một cựu quan chức phụ trách các vấn đề tôn giáo của Israel đã công khai thừa nhận rằng Hamas là "sự nhào nặn của Israel".[27] Những tuyên bố tương tự cũng đã được đưa ra bởi Yasser Arafat.[28] Những khẳng định về sự hỗ trợ của Israel đối với Hamas bắt nguồn từ cuối những năm 1970 và đầu những năm 1980, một thời kỳ được đánh dấu bằng những biến động chính trị đáng kể ở Trung Đông. Các cựu quan chức Israel đã công khai thừa nhận vai trò của Israel trong việc cung cấp nguồn tài trợ và sự hỗ trợ cho Hamas như một phương tiện làm suy yếu các phe phái Palestine thế tục như Tổ chức Giải phóng Palestine (PLO) do Chủ tịch Yasser Arafat lãnh đạo. Chuẩn tướng Yitzhak Segev, người từng là thống đốc quân sự Israel ở Gaza trong suốt đầu những năm 1980, đã thừa nhận việc cung cấp hỗ trợ tài chính cho Tổ chức Anh em Hồi giáo, tiền thân của Hamas, theo chỉ thị của chính quyền Israel. Mục đích của sự hỗ trợ này là để làm suy yếu các tổ chức cánh tả và thế tục của Palestine.[29] Israel đã góp phần vào việc xây dựng các bộ phận trong mạng lưới nhà thờ Hồi giáo, câu lạc bộ và trường học của chính trị gia Hồi giáo Ahmed Yassin ở Gaza, cũng như sự mở rộng của các cơ sở này.[29] Shlomo Brom, vị tướng đã nghỉ hưu và là cựu phó cố vấn an ninh quốc gia của Israel, tin rằng một Hamas được trao quyền sẽ giúp Thủ tướng Israel Netanyahu tránh được các cuộc đàm phán về một nhà nước Palestine, ngụ ý rằng không có đối tác khả thi nào cho các cuộc đàm phán hòa bình.[30] Bezalel Smotrich, một nhà lập pháp cực hữu và là bộ trưởng tài chính dưới thời Chính phủ Netanyahu, đã gọi Chính quyền Palestine là một "gánh nặng" và Hamas là một "tài sản".[31]
Xem thêm Chính sách chia để trị
- Quyền lực mềm
- Quyền lực cứng
- Quan hệ quốc tế
- Chủ nghĩa hiện thực chính trị
- Cờ giả
- Sự gây bất ổn
- Chính trị bản sắc
- Tuyên truyền đen
- Chân lý thuộc về kẻ mạnh
Chú thích Chính sách chia để trị
- ↑ "Definition of DIVIDE AND CONQUER".
- 1 2 "Dictionary.com | Meanings & Definitions of English Words". Dictionary.com.
- ↑ Posner, Eric A.; Spier, Kathryn E.; Vermeule, Adrian (2010). "Divide and Conquer". Journal of Legal Analysis. Quyển 2 số 2. tr. 417–471. doi:10.1093/jla/2.2.417.
- 1 2 "The American Heritage Dictionary entry: Divide".
- ↑ "Definition of DIVIDE AND CONQUER".
- ↑ "Divide and rule". A Dictionary of African Politics. Oxford University Press. ngày 24 tháng 1 năm 2019. ISBN 978-0-19-182883-6.
- ↑ "DIVIDE and rule". Oxford Dictionary of Proverbs. Oxford University Press. ngày 17 tháng 9 năm 2015. ISBN 978-0-19-873490-1.
- ↑ "The Pentagon plan to 'divide and rule' the Muslim world". Middle East Eye (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2018.
- ↑ Webber, Harry (ngày 19 tháng 6 năm 1998). Divide and Conquer: Target Your Customers Through Market Segmentation (bằng tiếng Anh). John Wiley & Sons. ISBN 978-0-471-17633-6.
- ↑ Morrock, Richard (1973). "Heritage of Strife: The Effects of Colonialist "Divide and Rule" Strategy upon the Colonized Peoples". Science & Society. 37 (2): 129–151. ISSN 0036-8237. JSTOR 40401707.
- ↑ Caesar, De Bello Gallico 1.31.6
- ↑ trans. H. J. Edwards, Loeb Classical Library (1917)
- ↑ Goldsworthy (2006), pp. 212–214
- ↑ Woolf, Becoming Roman (1998), pp. 23–25
- ↑ Drinkwater, Roman Gaul (1983), p. 19
- ↑ Goudineau, Le Dossier Vercingétorix (2001), pp. 180–185
- ↑ Goldsworthy (2006), pp. 280–285
- ↑ Caesar, BG 1.33–35 (on the Aedui as "brothers of the Roman people")
- ↑ Woolf (2012), p. 119
- ↑ Example: the Remi in BG 2.3–5
- ↑ Goudineau (2001), p. 201: "Ce que César voulait, c’était la domination permanente."
- ↑ Roymans, Ethnic Constructs in Antiquity (2009), p. 224
- ↑ Tharoor, Shashi (2017). Inglorious Empire: What the British Did to India (bằng tiếng Anh). Hurst. tr. 101. ISBN 978-1-84904-808-8.
- ↑ Wilson, Jon, 2016, India Conquered: Britain's Raj and the chaos of empire, cited in a review of Tharoor's work by Elizabeth Buettner in "Debt of Honour: why the European impact on India must be fully acknowledged", Times Literary Supplement, 11 August 2017, pages 13-14.
- 1 2 Markandey Katju (ngày 2 tháng 3 năm 2013). "The truth about Pakistan" (bằng tiếng Anh). The Nation. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2019.
- ↑ History of India, John Keay, pp. 464, 2010
- ↑ Higgins, Andrew (ngày 24 tháng 1 năm 2009). "How Israel Helped to Spawn Hamas - WSJ". WSJ. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2024.
- ↑ "How Israel went from helping 'create' Hamas to bombing it". The Business Standard (bằng tiếng Anh). ngày 14 tháng 10 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 5 năm 2024. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2024.
- 1 2 Sayedahmed, Dina (ngày 19 tháng 2 năm 2018). "Blowback: How Israel Went From Helping Create Hamas to Bombing It". The Intercept. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2024.
- ↑ Mazzetti, Mark; Bergman, Ronen (ngày 10 tháng 12 năm 2023). "'Buying Quiet': Inside the Israeli Plan That Propped Up Hamas". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 5 năm 2024. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2024.
- ↑ "Israeli far-right Minister Bezalel Smotrich described Hamas as 'asset' in unearthed tweet". The National (bằng tiếng Anh). ngày 23 tháng 1 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 5 năm 2024. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2024.