Bước tới nội dung

Christian II của Đan Mạch

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(Đổi hướng từ Christian II của Thụy Điển)
Christian II
Tranh vẽ bởi Lucas Cranach the Elder, k. 1523
Vua Đan MạchNa Uy
Tại vị22 tháng 7 năm 1513 – 20 tháng 1 năm 1523
Đăng quang11 tháng 6 năm 1514, Copenhagen
20 tháng 7 năm 1514, Oslo
Tiền nhiệmJohn
Kế nhiệmFrederik I
Phó vương Na Uy
Tại vị1506 - 20 tháng 1 năm 1513
Tiền nhiệmJohn
Kế nhiệmChristian II (tước Vua)
Vua Thụy Điển
Tại vị1 tháng 11 năm 1520 – 23 tháng 8 năm 1521
Đăng quang4 tháng 11 năm 1520
Storkyrkan, Stockholm
Tiền nhiệmJohn II
Kế nhiệmGustav I
Thông tin chung
Sinh1 tháng 7 năm 1481
Lâu đài Nyborg
Mất25 tháng 1 năm 1559(1559-01-25) (77 tuổi)
Lâu đài Kalundborg (tù nhân)
Phối ngẫu
Isabel của Castilla
(cưới 1514  mất 1526)
[1][2]
Hậu duệJohn
Dorothea
Christina
Hoàng tộcOldenburg
Thân phụJohn, Quốc vương Đan Mạch
Thân mẫuChristina xứ Sachsen
Chữ kýChữ ký của Christian II

Christian II (1 tháng 7 năm 1481 – 25 tháng 1 năm 1559) là một vị quân chủ Scandinavia thuộc Liên minh Kalmar, ông cai trị với tư cách là Vua Đan Mạch và Na Uy từ 1513 đến 1523, vua của Thụy Điển từ 1520 đến 1521. Từ năm 1513 đến năm 1523, ông đồng thời là Công tước Schleswig và Holstein cùng cai trị với chú Frederik.

Với tư cách là vua, Christian đã cố gắng duy trì Liên minh Kalmar giữa các quốc gia Scandinavia, điều này dẫn ông đến cuộc chiến với Thụy Điển kéo dài từ năm 1518 đến 1523. Mặc dù ông chiếm được đất nước này vào năm 1520, nhưng vụ thảm sát sau đó nhằm vào giới quý tộc, giáo sĩ và những người khác của Thụy Điển, được biết đến với tên gọi Cuộc tắm máu Stockholm, đã khiến người Thụy Điển nổi dậy chống lại sự cai trị của ông. Ông bị phế truất trong một cuộc nổi dậy do quý tộc và sau này là vua Thụy Điển Gustav Vasa lãnh đạo. Ông từng cố gắng thực hiện một cuộc cải cách triệt để nhà nước Đan Mạch vào các năm 1521–1522, vốn sẽ củng cố quyền lợi của thường dân và làm suy yếu quyền lực của giới quý tộc và giáo sĩ. Giới quý tộc đã nổi dậy chống lại ông vào năm 1523, song ông bị lưu đày sang Hà Lan, nhường lại ngai vàng Đan Mạch cho chú mình là Frederick. Sau khi cố gắng giành lại ngai vàng vào năm 1531, ông bị bắt và bị giam cầm trong quãng đời còn lại, đầu tiên tại Lâu đài Sønderborg và sau đó tại Lâu đài Kalundborg. Những người ủng hộ đã cố phục hồi quyền lực cho ông cả trong thời gian ông lưu đày và khi bị giam giữ, nhưng họ đã bị đánh bại hoàn toàn trong Cuộc chiến Bá tước năm 1536. Christian qua đời tại Kalundborg vào năm 1559.

Năm 1515, Christian kết hôn với Isabel của Áo, cháu gái của Maximilian I, Hoàng đế La Mã Thần thánh. Isabel qua đời năm 1526, sau đó gia đình bà đã đưa ba người con của Christian đi khỏi ông. Mối quan hệ của ông với tình nhân Dyveke Sigbritsdatter có trước hôn nhân và kéo dài cho đến khi bà qua đời năm 1517. Việc Christian truy tố kẻ được cho là là kẻ sát hại Dyveke đã góp phần vào sự cô lập chính trị và sự sụp đổ của ông. Mẹ của Dyveke, Sigbrit Willoms, trở thành một cố vấn có ảnh hưởng và đã theo Christian trong thời gian ông lưu đày.

Cuộc sống ban đầu Christian II của Đan Mạch

Christian sinh ngày 1 tháng 7 năm 1481 tại Lâu đài Nyborg, là con trai của John, Vua của Đan Mạch và vợ ông, Christina xứ Sachsen. Christian có dòng dõi từ Valdemar I của Thụy Điển thuộc Nhà Eric, và từ Catherine, con gái của Inge I của Thụy Điển, cũng như từ Ingrid Ylva, cháu gái của Sverker I của Thụy Điển. Đối thủ của ông, Gustav I của Thụy Điển, chỉ có dòng dõi từ Sverker II của Thụy Điển thuộc Nhà Sverker.

Christian tham gia cuộc chinh phục Thụy Điển của cha mình vào năm 1497 và chiến tranh Đan Mạch – Thụy Điển (1501–1512). Năm 1506, ông được bổ nhiệm làm phó vương Na Uy và đã thành công trong việc duy trì quyền kiểm soát đối với đất nước này. Trong thời gian cai trị tại Na Uy, ông tìm cách tước bỏ quyền lực truyền thống của giới quý tộc Na Uy, vốn được thực thi thông qua hội đồng cơ mật Rigsrådet (Hội đồng Nhà nước Na Uy), dẫn đến sự đối đầu giữa ông và hội đồng này.

Năm 1513, Christian kế vị cha trở thành vua của Đan Mạch và Na Uy.[1] Việc ông kế vị hai ngai vàng này được xác nhận tại Herredag, một đại hội của các nhân vật danh tiếng từ ba vương quốc Bắc Âu, họp tại Copenhagen. Các đại biểu Thụy Điển tuyên bố: "Chúng ta có sự lựa chọn giữa hòa bình trong nước và xung đột ở đây, hoặc hòa bình ở đây và nội chiến trong nước, và chúng ta chọn điều đầu tiên." Vì vậy, quyết định về việc kế vị ở Thụy Điển đã được hoãn lại.[1][3] Lễ đăng quang của Christian làm vua Đan Mạch tại Copenhagen và vua Na Uy diễn ra tại Oslo vào mùa hè năm 1514.

Đời sống cá nhân

Isabella của Áo, vợ của Christian.

Trong chuyến thăm Bergen vào năm 1507 hoặc 1509, Christian đem lòng yêu một cô gái Na Uy gốc Hà Lan tên Dyveke Sigbritsdatter. Cô trở thành tình nhân của ông và ở bên ông cho đến khi qua đời. Mối quan hệ này không bị gián đoạn ngay cả khi Christian kết hôn với Isabel của Áo, cháu gái của Maximilian I, Hoàng đế La Mã Thần thánh. Cuộc hôn nhân được tiến hành ủy quyền qua đại diện vào ngày 11 tháng 6 năm 1514 tại Brussels.[4][5] Một năm sau, Isabel được đưa tới Copenhagen, hôn lễ mớicính thức được cử hành vào ngày 12 tháng 8 năm 1515 tại Lâu đài Copenhagen, do Tổng Giám mục Lund, Birger Gunnersen chủ trì.[4]

Dyveke qua đời năm 1517, Christian tin rằng một quý tộc tên là Torben Oxe đã đầu độc bà. Theo luật, Oxe đáng lẽ phải được xét xử bởi Hội đồng Nhà nước, nhưng thay vào đó, ông bị đưa ra xét xử trước một bồi thẩm đoàn thường dân tại Solbjerg, ngoại ô Copenhagen. Ông bị kết tội và xử tử vào tháng 11 năm 1517. Quyết định này đã làm sâu sắc thêm sự chia rẽ giữa nhà vua và giới quý tộc, cuối cùng góp phần dẫn đến việc Christian bị phế truất.[6]

Người cố vấn thân cận nhất của Christian là Sigbrit Willoms, mẹ của Dyveke. Christian bổ nhiệm bà làm người quản lý thuế Sound Dues tại Øresund và tham khảo ý kiến bà trong mọi vấn đề tài chính. Bản thân xuất thân từ tầng lớp thị dân, Sigbrit tìm cách gia tăng ảnh hưởng của tầng lớp trung lưu và thành lập một hội đồng nội bộ, cạnh tranh quyền lực với Rigsrådet.[3] Ảnh hưởng của bà khiến giới quý tộc bất mãn, họ cho rằng chính bà đã khiến nhà vua thiên vị tầng lớp lao động.

Tái chiếm Thụy Điển

Trong khi đó, Christian chuẩn bị cho cuộc chiến không thể tránh khỏi với Thụy Điển. Phe chống Đan Mạch, đứng đầu là nhiếp chính Sten Sture Trẻ, đối đầu với phe thân Đan Mạch do Tổng giám mục Gustav Trolle lãnh đạo. Năm 1517, Christian gửi tàu và binh lính đến giải cứu pháo đài Stäket của tổng giám mục, nhưng bị Sture và đội quân nông dân của ông đánh bại tại Vedila. Nỗ lực thứ hai vào năm sau cũng thất bại sau chiến thắng của Sture tại trận Brännkyrka.[3][6]

Lần thứ ba, vào năm 1520, Christian huy động một đội quân lớn gồm lính đánh thuê Pháp, Đức và Scotland, và lần này chiến dịch đã thành công. Sture bị trọng thương trong trận Bogesund ngày 19 tháng 1, các lực lượng nổi dậy còn lại bị đàn áp vào tháng 4 trong trận Uppsala đẫm máu. Quân đội và hải quân của Christian sau đó tiến đến Stockholm và bao vây thành phố. Lúc này, Thụy Điển được lãnh đạo bởi vợ của Sture, Christina Gyllenstierna. Stockholm cầm cự đến tháng 9 năm 1520, khi Christina buộc phải đầu hàng. Christian được Trolle làm lễ đăng quang vua Thụy Điển vào tháng 11, với sự đồng thuận của Hội đồng Cơ mật Thụy Điển. Tuy nhiên, hội đồng đã buộc ông chấp thuận một khoản bồi thường cho những xung đột trước đây, đồng thời cam kết rằng Thụy Điển sẽ được cai trị theo luật pháp và phong tục của chính nước này.[3][7]

Thảm sát Stockholm

Cuộc thảm sát ở Stockholm, bởi Dionysius Padtbrugge, năm 1676.

Ba ngày sau lễ đăng quang, Tổng giám mục Gustav Trolle buộc tội những người ủng hộ Sture là dị giáo vì đã tham gia cuộc nổi dậy chống lại ông. Christian lợi dụng cơ hội này để loại bỏ đối thủ và củng cố quyền lực. Một tòa án giáo hội được triệu tập và ngày 8–9 tháng 11 năm 1520, 82 quý tộc Thụy Điển bị xử tử tại Stockholm, trong đó có hai giám mục. Thi thể Sture và con ông bị khai quật và thiêu hủy; Gyllenstierna và nhiều phụ nữ quý tộc bị đưa sang Đan Mạch.

Thay vì củng cố địa vị của Christian,, cuộc thảm sát lại được đẩy nhanh việc Thụy Điển ly khai khỏi Liên minh Kalmar. Didrik Slagheck, người được Christian bổ nhiệm làm nhiếp chính tỏ ra tàn bạo và bất tài. Giới quý tộc Thụy Điển còn lại, kinh hoàng trước vụ thảm sát, nổi dậy chống lại Christian. Họ bầu Gustav Vasa làm nhiếp chính rồi sau đó là vua

Do cuộc thảm sát, Christian bị người Thụy Điển nhớ đến với tên gọi Christian Bạo Chúa (Kristian Tyrann).

Các cải cách pháp lý và sụp đổ

Tháng 6 năm 1521, Christian đến thăm Karl V tại Hà Lan và ở lại nhiều tháng. Ông làm quen với các họa sĩ với người mà ông thảo luận về cuộc Cải cách Kháng Cách. Ngay khi trở về Đan Mạch vào năm 1521, Christian ban hành hai bộ luật mới: Luật Thị trấn và Luật Đất đai: củng cố quyền của thương nhân và nông dân, cho phép giáo sĩ kết hôn, đồng thời giảm quyền lực quý tộc và giám mụcc cải cách cấp tiến này khiến giới quý tộc xem ông là mối đe dọa. Những bộ luật này mang tính cải tiến mạnh mẽ, và bị giới quý tộc cùng giám mục xem là mối đe dọa trực tiếp đến sự tồn tại của họ.[3][8]

Đến năm 1522, Christian dần cạn kiệt đồng minh. Trong nỗ lực thành lập một công ty thương mại lấy Đan Mạch làm trung tâm để cạnh tranh với Liên minh Hanse, ông tăng thuế hải quan qua eo biển Øresund, gây tổn hại đến thương mại giữa Thụy Điển và các thành phố Hanse. Kết quả, Lübeck và Danzig liên minh với Thụy Điển chống lại Đan Mạch. Trong nước, nổi dậy chống Christian cũng nổ ra tại Jutland. Ngày 20 tháng 1 năm 1523, Herredag ở Viborg trao vương quyền Đan Mạch cho chú ông, Công tước Frederik xứ Holstein. Quân của Frederik giành quyền kiểm soát hầu hết Đan Mạch trong mùa xuân năm đó, và tháng 4 năm 1523 Christian rời Đan Mạch đi tìm viện trợ nước ngoài. Ngày 1 tháng 5, ông đến Veere ở Zeeland.[9][10]

Lưu đày và bị giam cầm

Christian II tại Lâu đài Sønderborg, bởi Carl Bloch, 1871.

Trong thời gian lưu đày, Christian sống giản dị tại thành phố Lier ở Hà Lan (nay thuộc Bỉ), chờ đợi sự hỗ trợ quân sự từ anh rể mình là Karl V. Ông trao đổi thư từ với Martin Luther, thậm chí theo đạo Luther một thời gian; ông còn cho dịch Tân Ước sang tiếng Đan Mạch. Isabel qua đời tháng 1 năm 1526, con cái của Christian bị gia đình bà đưa đi để tránh việc chúng được nuôi dưỡng trong đức tin mà họ coi là dị giáo.[11]

Đến năm 1531, Christian quay lại Công giáo và hòa giải với Hoàng đế. Ông dẫn một hạm đội đến Na Uy, đổ bộ xuống Oslo với sự chào đón của dân chúng vào tháng 11 năm 1531. Tuy nhiên, ông thất bại trong việc chiếm pháo đài Akershus, năm 1532 ông chấp nhận lời hứa bảo toàn tính mạng từ Frederik I.[12]

Nhưng Frederik không giữ lời; Christian bị bắt và giam cầm 27 năm, ban đầu tại lâu đài Sønderborg đến năm 1549, sau đó chuyển đến lâu đài Kalundborg. Những câu chuyện về việc ông bị nhốt trong phòng tối chật hẹp là không chính xác: Christian được đối xử như một quý tộc, đặc biệt khi về già; ông được phép tổ chức tiệc, đi săn và đi lại tự do trong thị trấn Kalundborg miễn là không rời khỏi ranh giới thị trấn.

Frederik I qua đời tháng 4 năm 1533, Hội đồng Nhà nước Đan Mạch lúc đầu không thể chọn người kế vị. Jürgen Wullenwever, thị trưởng Lübeck, lợi dụng thời kỳ trống ngôi này để âm mưu đưa Christian II trở lại ngai vàng. Ông liên minh với hai quý tộc Ambrosius Bogbinder và Jørgen Kock, thị trưởng Malmö, cùng Christopher, Bá tước Oldenburg chỉ huy quân đội chiếm được Scania và Zeeland nhân danh Christian II sự kiện này được gọi là Cuộc chiến Bá tước.[13]

Tuy nhiên, con trai cả của Frederik, cũng tên Christian, tập hợp một đội quân ở Holstein lần lượt chiếm Holstein, Jutland và Zeeland qua một loạt chiến dịch quân sự xuất sắc. Ông liên minh với Gustav Vasa, chiếm lại Scania, rồi lên ngôi Christian III của Đan Mạch. Christian II tiếp tục bị giam tại Kalundborg và ông qua đời vào tháng 1 năm 1559, chỉ vài ngày sau khi Christian III chết. Tân vương Frederik II ra lệnh tổ chức tang lễ cho ông. Ông được chôn cất tại Odense, bên cạnh vợ, cha mẹ và con trai ông là John,[a] người mất vào mùa hè năm 1532.

Ghi chú

  1. Hans trong tiếng Đan Mạch

Hậu duệ Christian II của Đan Mạch

Christian II có sáu người con với vợ ông, Isabel của Áo (1501–1526), nhưng chỉ ba người sống sót qua thời thơ ấu và hai người trưởng thành. Họ là:

TênSinhMấtGhi chú
John21 tháng 2 năm 151811 tháng 8 năm 1532Người thừa kế ngai vàng của Đan Mạch, Na Uy và Thụy Điển.[14]
Philip Ferdinand4 tháng 7 năm 15191519sinh đôi, mất khi còn nhỏ.
Maximilian4 tháng 7 năm 15191519sinh đôi, mất khi còn nhỏ.
Dorothea10 tháng 11 năm 152031 tháng 5 năm 1580kết hôn năm 1535 với Frederick II, Tuyển hầu tước xứ Pflaz và không có con.[15]
ChristinaTháng 11 năm 152110 tháng 12 năm 1590kết hôn năm 1533 với Francesco II Sforza và không có con, kết hôn lần thứ hai năm 1541 với François I, Công tước xứ Lorraine và có con.[16]
Con trai không có tênTháng 1 năm 1523Tháng 1 năm 1523thai chết lưu.

Tham khảo

  1. 1 2 3 Skipper, Jon Bloch. (2002). Danmarkshistoriens årstal [The History of Denmark's dates] . Copenhagen: Aschehoug. tr. 143. ISBN 8711115971. OCLC 55219013. Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; tên ":0" được định nghĩa nhiều lần với nội dung khác nhau
  2. Lockhart 2007, tr. 13.
  3. 1 2 3 4 5 Bain 1911, tr. 275.
  4. 1 2 Skipper, Jon Bloch. (2002). Danmarkshistoriens årstal [The History of Denmark's dates] (2. revid. udg ed.). Copenhagen: Aschehoug. tr. 143. ISBN 8711115971. OCLC 55219013.
  5. Lockhart 2007, tr.3.
  6. 1 2 Lockhart 2007, tr. 14.
  7. Lockhart 2007, tr. 15.
  8. Lockhart 2007, tr. 17, 18.
  9. Lockhart 2007, tr. 14, 18.
  10. Bain 1911, tr. 276.
  11. Lockhart 2007 , tr. , 21, 61.
  12. Lockhart 2007, tr. 22.
  13. Lockhart 2007, tr. 25, 28.
  14. Bricka 1887, tr. 566–567.
  15. Bricka 1887, tr. 306–307.
  16. Bricka 1887, tr. 573–574.

Thư mục

  •  Bài viết này bao gồm văn bản từ một ấn phẩm hiện thời trong phạm vi công cộng: Bain, Robert Nisbet (1911). "Christian II.". Trong Chisholm, Hugh (biên tập). Encyclopædia Britannica. Quyển 6 (ấn bản thứ 11). Cambridge University Press. tr. 274–276.
  • Bisgaard, Lars (2019). Christian 2. : en biografi [Christian II : a biography] (bằng tiếng Đan Mạch). Copenhagen: Gads Forlag. ISBN 978-8712056973.
  • Bricka, Carl Frederik (1887). Dansk biografisk Lexikon. Copenhagen: Gyldendal. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2020.
  • Lockhart, Paul Douglas (2007). Denmark, 1513–1660 : the rise and decline of a Renaissance monarchy. Oxford University Press. ISBN 978-0199271214.
  • Reiter, Paul Johann (1943). Kristian Tyrann. Personlighet, själsliv och livsdrama (bằng tiếng Thụy Điển). Witting, Gustaf (tr). Natur och kultur.
  • Scocozza, Benito (1997). "Christian 2.". Politikens bog om danske monarker [Politiken's book about Danish monarchs] (bằng tiếng Đan Mạch). Copenhagen: Politikens Forlag. tr. 102–110. ISBN 8756757727.

Liên kết ngoài