Bước tới nội dung

Chiến thuật chính trị

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Chiến thuật chính trị[1][2][3] hay mưu kế chính trị[4] hay thủ đoạn chính trị[a][6][7] hay chiêu bài chính trị, là cách thức cụ thể để đạt được mục tiêu chính trị[5][6][1][8] của một nhà chính trị, phong trào chính trị, tổ chức, hoặc một chính phủ.

Thuật ngữ và đặc điểm

Chiến thuật chính trị và chiến lược chính trị là hai thuật ngữ khác nhau. Tương ứng trong Anh ngữPolitical TacticsPolitical Strategy.[b] Trong cách sử dụng của tiếng Trung tương ứng là 政治策略 và 政治战略. Trong đó, 政治策略 nghĩa là sách lược chính trị/mưu kế chính trị, 政治战略 nghĩa là chiến lược chính trị.[c][d]

Chiến thuật chính trị đã xuất hiện trong tài liệu tiếng Nga năm 1859, tựa đề Современник, tập 76, cụm từ "политическая Тактики" đã được sử dụng.[10] Nó cũng từng được sử dụng trong tạp chí Русское слово – Tập 6, Số phát hành 1 vào năm 1864;[11] sử dụng trong quyển Отечественныя записки,: журнал литературный, политический и ученый (Những ghi chép trong nước: tạp chí văn học, chính trị và khoa học) của A. Krajevskij năm 1875.[12]

Nội san Quốc hội của chính phủ Việt Nam Cộng hòa năm 1959 có sử dụng thuật ngữ "chiến thuật chính trị" trong tài liệu của họ.[13]

Theo Nhân sinh tri thức đại từ điển (人生知识大辞典) xuất bản năm 1992: "Sách lược chính trị (chiến thuật chính trị) là một phần của chiến lược chính trị và phục vụ cho chiến lược chính trị. Sách lược chính trị có đúng đắn hay không sẽ ảnh hưởng và quyết định đến được, mất, thậm chí là thành bại của chiến lược chính trị. Sách lược chính trị và chiến lược chính trị là sự thống nhất của các mặt đối lập, nhưng sự khác biệt giữa hai điều này không phải là tuyệt đối."[14]

Định nghĩa

Theo Feliks Cross trong quyển European Ideologies xuất bản năm 1948 (tr. 5-15): "Chiến thuật chính trị chỉ ra việc sử dụng các lực lượng chính trị trong một tình huống hiện tại, thực tế, lịch sử và cụ thể để hợp tác với hoặc đấu tranh chống lại các lực lượng chính trị khác".[15] Theo Pfeffer trong quyển Power in Organizations xuất bản năm 1981,[16] chiến thuật chính trị là "các hoạt động diễn ra trong các tổ chức để thu nhận, phát triển và sử dụng quyền lực cũng như các nguồn lực khác nhằm đạt được kết quả mong muốn trong một tình huống có sự không chắc chắn hoặc bất đồng".[17]

Trong quyển sách 组织行为学 (Tổ chức hành vi học) năm 2003 của Lý Tú Quyên (李秀娟), chiến thuật chính trị có thể xem là nghệ thuật điều hòa xung đột lợi ích, là việc sử dụng quyền lực để đạt được sự cân bằng giữa lợi ích cá nhân và tập thể. Việc áp dụng chiến thuật và kỹ năng chính trị tốt sẽ khiến quá trình sử dụng quyền lực trở nên suôn sẻ, đồng thời ảnh hưởng cá nhân cũng được tăng cường.[18]

Định nghĩa trích từ Joseph E. Champoux năm 2010: "Chiến thuật chính trị là những hành vi ảnh hưởng chính trị cụ thể được sử dụng để đạt được một mục tiêu".[19] Năm 2014, học giả Triệu Đinh Dương (赵汀阳) viết rằng chiến thuật chính trị là chiến thuật trò chơi tìm cách nhận được nhiều sự ủng hộ từ đông đảo người dân và củng cố quyền lực.[20] Trích dẫn từ Sebastian Garbe năm 2022: "Các chiến thuật chính trị là những nỗ lực hoặc tập hợp hành động nhằm thay đổi một vấn đề cấp bách hoặc trường hợp bất công nào đó. Do đó, chúng được sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định cho đến khi mối nguy hiểm hoặc bất công không còn là mối đe dọa".[21] Một cách giải thích khác từ quyển Organisational behaviour: concept to realisation xuất bản năm 2023: "Chiến thuật chính trị là một phần của hành vi chính trị được sử dụng bởi một cá nhân hoặc nhóm để ảnh hưởng đến cá nhân hoặc nhóm khác nhằm bảo vệ lợi ích cá nhân và duy trì quyền kiểm soát cá nhân trong nơi làm việc".[22]

Một cách định nghĩa khác của những người cộng sản: "Chiến thuật chính trị là hình thức cực đoan và hình thức tổ chức được xác định bởi các lực lượng chính trị cách mạng theo sự thay đổi của tình hình chính trị để hoàn thành nhiệm vụ chiến lược. Đây là một phương pháp cụ thể để thực hiện công việc chiến lược của cuộc cách mạng chính trị".[23] Tài liệu của Đảng Cộng sản Liên Xô viết bởi Joseph Stalin vào 1926 giải thích "chiến thuật chính trị": "...không gì khác ngoài sự pha trộn giữa chiến thuật quân sự thông thường và chiến thuật cách mạng của những người Bolshevik".[24]

Vai trò, chức năng

Quyền lực là khả năng gây ảnh hưởng đến người khác, còn chính trị là quá trình thực thi quyền lực, những cá nhân chính trị hoặc nhóm chính trị đã tạo ra các 'sách lược chính trị' (hay chiến thuật chính trị) là một loại sách lược để theo đuổi và đạt được quyền lực, và gây ảnh hưởng điều đó lên xã hội.

Các bên tranh chấp chính trị sẽ sử dụng chiến thuật chính trị để ảnh hưởng đến kết quả quyết định theo hướng có lợi cho họ.[25] Chiến thuật chính trị sử dụng để thuyết phục. Chúng tập trung vào kỳ vọng của quần chúng, như việc hứa hẹn phúc lợi. Chúng cũng sử dụng định kiến và sự kỳ thị của quần chúng để nhằm đạt được mục đích.[26] Nhiều chiến thuật chính trị được xem là phi đạo đức.[27] Các chiến thuật vận dụng không chỉ nhằm thuyết phục quần chúng về phía mình, mà ngược lại là phá hoại đối thủ chính trị như bôi nhọ, vu khống cá nhân chính trị hoặc đảng chính trị; thậm chí đổ lỗi cho người khác về sai lầm của mình;[28] làm xói mòn lòng trung thành chính trị[29] vào đảng cầm quyền hay chế độ chính trị. Các biện pháp hạ bệ hay đàn áp đối thủ phổ biến là khép tội tham nhũng[e][31] hoặc trốn thuế. Chiến thuật chính trị được sử dụng bởi một cá nhân chính trị là vì lợi ích của cá nhân chính trị đó,[32][33] được xem là không lành mạnh, không công bằng vì gây ra mất mát cho người khác.[32]

Nguyên tắc của chiến thuật chính trị là kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, hướng đến môi trường chính trị khách quan và điều kiện thực tế. Và chúng theo đuổi một mục tiêu chiến lược.[34] Đối với những người cộng sản Liên Xô, chiến thuật chính trị của chủ nghĩa Lenin có quy tắc cơ bản là lấy quần chúng nhân dân làm trung tâm, năng lực chính trị đòi hỏi khả năng dẫn dắt quần chúng đến các vị trí của cách mạng.[35] Đối với họ, đối tượng chính trị hàng đầu của họ là công nhân, các chiến thuật chính trị đều tập trung làm thế nào để tạo ra mặt trận công nhân, thống nhất công đoàn, lập liên minh giữa công nhân với các tầng lớp khác và ở các địa phương khác, chuẩn bị các hành động cách mạng.[36]

Chiến thuật chính trị thu hút tất cả các bên chính trị ủng hộ một chính sách cụ thể, các chính trị gia thực hiện điều này sẽ chọn lựa cách phù hợp để điều hòa xung đột, hình thành đồng thuận, giúp chính sách được thông qua và thực hiện.[37] Chiến lược chính trị là các ứng dụng thực tế vào các giai đoạn chính trị,[38] giải quyết các xung đột và các hiện tượng chính trị theo cách hiệu quả nhất, tốt nhất.[39] Một yêu cầu lớn được đặt ra cho một chiến lược chính trị là làm thế nào nó có thể cân bằng giữa lợi ích quốc gia và sự ổn định toàn cầu.[40] Nguồn gốc và sự phát triển của chiến lược chính trị tập trung vào hiện thực và phương pháp thực dụng, chúng không cân nhắc đạo đức hay ý thức hệ. Chúng giúp hiểu được chính trị thực dụng hình thành quan hệ quốc tế như thế nào, và giúp hiểu được cách mà nó ảnh hưởng lên việc quản trị một đất nước.[41]

Một chiến lược chính trị được lựa chọn dựa vào chiến lược trong quá khứ và yêu cầu thay đổi trong hiện tại, khi khủng hoảng nghiêm trọng và khi nền thống trị bị đe dọa, chính phủ sẽ thay chiến lược chính trị.[42] Năm 2007, học giả Thạch Phụng Trân (石凤珍) viết trong Văn nghệ dân tộc hình thức luận tranh nghiên cứu (文艺"民族形式"论争研究) rằng: "So với chiến lược chính trị, chiến thuật chính trị linh hoạt hơn. Khi chiến lược chính trị không thay đổi trong một giai đoạn lịch sử nhất định, chiến thuật chính trị có thể thay đổi theo sự phát triển của tình hình và những thay đổi trong điều kiện thực tế. Khi mục tiêu chiến lược chính trị không thay đổi trong phạm vi rộng, các khu vực khác nhau có thể áp dụng nhiều chiến thuật chính trị khác nhau để đạt được mục tiêu chiến lược chính trị này."[43]

Phân loại căn bản

Chiến thuật chính trị rất đa dạng, chúng được tạo ra để thực thi và bảo vệ quyền lực.[44] Tuy nhiên, chúng không phải là bất biến,[45] chúng được vận dụng tùy theo hoàn cảnh và tùy theo yêu cầu khác nhau.[46] Chúng sử dụng các tài nguyên như thời gian, tiền bạc, sự bảo trợ, các kỹ năng.[47]

Theo Lyle Sussman từ Đại học Louisville có 7 chiến thuật chính trị căn bản:[48]

  1. Tấn công hoặc đổ lỗi cho người khác.
  2. Sử dụng thông tin như một công cụ chính trị.
  3. Tạo ra và duy trì hình ảnh thuận lợi.
  4. Phát triển cơ sở hỗ trợ.
  5. Lấy lòng.
  6. Phát triển đồng minh và hình thành liên minh quyền lực.
  7. Tạo ra nghĩa vụ và sự có đi có lại.

Giáo sư Trung Quốc Chu Chí Hoành (朱志宏) phân chia chiến thuật chính trị làm 4 loại căn bản:[49]

  1. Tìm điểm chung trong sự khác biệt
  2. Thỏa hiệp
  3. Kiểm soát tình huống ra quyết định chính trị
  4. Hùng biện

Ba chiến thuật chính trị phi đạo đức căn bản bao gồm:[50]

  1. Đâm sau lưng: giả vờ là người bạn tử tế nhưng chuẩn bị để hại bạn mình.
  2. Thiết lập thất bại: giao nhiệm vụ cho người khác nhưng hi vọng về sự thất bại và họ sẽ bị mất uy tín.
  3. Chơi trò chơi chiến tranh lãnh thổ: liên quan bảo vệ và gom tém các nguồn lực quyền lực, như quyền ra quyết định và mối quan hệ với những người quan trọng trong một phạm vi.

Chiến thuật chính trị có thể sử dụng đơn lẻ hoặc có thể kết hợp nhiều chiến thuật với nhau.[51] Chiến thuật chính trị hiệu quả nhất là những chiến thuật sử dụng sự gián đoạn và kích động để ép buộc những người nắm quyền lực phải giữ đúng lời nói của chính họ.[52] Các đối thủ chính trị cũng có thể chọn lựa từ đối đầu chuyển sang thỏa hiệp.[53] Trong chính trị, đôi khi "im lặng" cũng có thể xem là một chiến thuật chính trị.[54] Chiến thuật chính trị thường được triển khai trước, trước khi buộc phải sử dụng biện pháp quân sự.[55]

Danh sách

Đây là danh sách các chiến thuật chính trị (chưa đầy đủ). Sự sắp xếp theo hệ thống chỉ có tính tương đối. Danh sách này chỉ có tính liệt kê, không diễn giải sự liên quan, kết nối hay chồng lấn của các khái niệm. Mỗi một đề mục nhỏ của danh sách nên được hiểu một cách độc lập với nhau.

Nội dung khác

  • Triều cống
  • Danh nghĩa phò vua
  • Chiến thuật "Vùng xám"[57]

Xem thêm

Ghi chú

  1. Tham khảo: "...cố gắng chủ yếu vào các thủ đoạn chính trị , như chuẩn bị chiến tranh thế giới , gây chiến tranh cục bộ , tiến hành chiến tranh « đặc biệt » , tổ chức những hoạt động lật đổ , mở những cuộc đàn áp , v.v ... hòng đạt những mục tiêu chính trị..."[5]
  2. Tham khảo: Laure Paquette (2002). Political Strategy and Tactics: A Practical Guide (bằng tiếng Anh). Nova Publishers
  3. Tham khảo: 石凤珍 (Thạch Phụng Trân). 2007 và Từ điển Hán Nôm
  4. Tham khảo: "...sách lược chính trị đã được chia thành hai phần chính: "chiến lược chính trị" và "sách lược chính trị" (chiến thuật)..."[9]
  5. Tham khảo, dẫn gián tiếp: "treats accusaions of corruption as a species of political tactics" ("xem các cáo buộc tham nhũng như một hình thức chiến thuật chính trị") tại Encyclopedia of Ethics,[30] trích từ Dexter L. A. (1990) "Scandal and Scandalization in American Political History" trong quyển Encyclopedia of American Politi- cal History.

Chú thích

  1. 1 2 Lưu Văn Lợi, Nguyễn Anh Vũ 2002, tr. 129.
  2. Cao Thế Dung 1985, tr. 445.
  3. Viện đại học Huế 1961, tr. 52.
  4. Nguyễn Văn Trung 1964, tr. 123.
  5. 1 2 Lê Duẩn 1975, tr. 103.
  6. 1 2 Dương Thành Lợi 1997, tr. 33.
  7. 梁远 (Lương Viễn) 2007, tr. 12.
  8. William C. Frederick, James E. Post, Denis Collins 1994, tr. 21.
  9. Trường cán bộ chính trị Phú Hưng Cương (政工幹部學校, 復興崗) 1983, tr. 117.
  10. Nhiều tác giả 1859, tr. 357.
  11. Русское слово 1864, tr. 14.
  12. A. Krajevskij 1875, tr. 220.
  13. Quốc hội (VNCH) 1959, tr. 82.
  14. 周汉民, 邢贲思 (Chu Hán Dân, Hình Bí Tư) 1992, tr. 326.
  15. Rudolf Heberle 1951, tr. 359.
  16. Douglas H. Ruben 1990, tr. 144.
  17. Douglas H. Ruben 1990, tr. 133.
  18. 李秀娟 (Lý Tú Quyên) 2003, tr. 167.
  19. Joseph E. Champoux 2010, tr. 379.
  20. 赵汀阳 (Triệu Đinh Dương) 2014, tr. 166.
  21. Sebastian Garbe 2022, tr. xem.
  22. Samanta, Sasmita Rani, Mahajan, J.P., Gollamudi, Hema 2023, tr. 399.
  23. Puqu Wang 2022, tr. 416.
  24. Joseph Stalin 1926, tr. 188.
  25. Mary C. Lacity, Rudy A. Hirschheim 1993, tr. 78.
  26. James Russell Lowell 1890, tr. 194.
  27. Paulist Fathers 1980, tr. 252.
  28. Robert Kreitner, Angelo Kinicki 1992, tr. 371.
  29. C.W. Daniel 1912, tr. 314.
  30. Lawrence C. Becker, Charlotte B. Becker 2013, tr. 345.
  31. "The politicisation process". u4.no. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2025.
  32. 1 2 Jo Bryson 2006, tr. 121.
  33. Robert Albanese, David D. Van Fleet 1983, tr. 214.
  34. 彭克宏 (Bàng Khắc Hoành) 1989, tr. 421.
  35. Кун, Бела (Béla Kun) 1967, tr. 44.
  36. Latvijas Komunistiskā Partija. Centrālā Komiteja (Đảng Cộng sản Latvia. Ủy ban Trung ương) 1983, tr. 103.
  37. 譚士林, 高點出版 (Đàm Sĩ Lâm, Cao Điểm Xuất Bản) 2012, tr. 2-2.
  38. Fouad Sabry 2024, tr. xem.
  39. 林玲吟 (Lâm Linh Ngâm) 2018, tr. 79.
  40. Fouad Sabry 2024, tr. xem (II).
  41. Fouad Sabry 2024, tr. 12.
  42. 郁建兴 (Uất Kiến Hưng) 2007, tr. 17.
  43. 石凤珍 (Thạch Phụng Trân) 2007, tr. 17.
  44. Kenneth N. Wexley, Gary A. Yukl 1984, tr. 233.
  45. Morris Hillquit 1909, tr. 175.
  46. Laure Paquette 2002, tr. 5.
  47. Barry Riddell, John Lynch 1973, tr. 84.
  48. Lyle Sussman và cộng sự (2002), Organizational Politics: Tactics, Channels, and Hierarchical Roles, Journal of Business Ethics, Researchgate
  49. 汪正洋 (Uông Chánh Dương) 2022, tr. 156.
  50. Dubrin 2002, tr. 189.
  51. Fathali M. Moghaddam 2017, tr. xem.
  52. Benjamin Ginsberg 2007, tr. 200.
  53. Robert J. Duffy 2003, tr. 49.
  54. Trần Văn Giàu 1961, tr. 335.
  55. Phan Vỹ 1968, tr. 60.
  56. Frank Zelko 2014, tr. 39.
  57. "Nhận diện chiến thuật 'vùng xám'". báo Tuổi Trẻ. ngày 8 tháng 11 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2020.

Sách và tạp chí tiếng Việt

Sách và tạp chí tiếng Anh

Sách tiếng Trung

Sách và tạp chí tiếng Nga

Sách tiếng Đức