Chiêu Tĩnh Quý phi
| Chiêu Tĩnh Quý phi Thẩm thị 昭静贵妃沈氏 | |
|---|---|
| Tống Chân Tông Quý phi | |
| Thông tin chung | |
| Sinh | 994 |
| Mất | 1076 |
| Phối ngẫu | Tống Chân Tông Triệu Đức Xương |
| Thân phụ | Thẩm Kế Tông (沈继宗) |
Chiêu Tĩnh Quý phi Thẩm thị (chữ Hán: 昭静贵妃沈氏, 994 – 1076) là một phi tần của Tống Chân Tông.
Tiểu sử
Chiêu Tĩnh Quý phi, nguyên quán Thái Khang, phủ Khai Phong, sinh năm Thuần Hòa thứ 5 (994) dưới thời Tống Thái Tông, là cháu gái của tướng Thẩm Luân (沈倫). Thẩm Luân là phụ tá phụ trách tài chính từ đời Tống Thái Tổ, một đời thanh liêm khiêm tốn nên rất được tín nhiệm, thăng chức đến Tể tướng, đưa gia tộc vào hàng ngũ thế gia. Thẩm Luân qua đời năm 79 tuổi, thụy Cung Huệ (恭惠), có một con trai duy nhất là Thẩm Kế Tông (沈继宗) chính là sinh phụ của Quý phi, thụ Quang lộc thiếu khanh.
Những năm Đại Trung Tường Phù, với tư cách là "con gái nhà tướng quân"[1], Thẩm thị được chọn nhập cung, vào năm thứ 2 (1009), tháng 4 sơ phong Tài nhân (才人). Thẩm tài nhân dù xuất thân cao nhưng bẩm sinh hiền hậu khoan dung, không thích xa hoa nên được Chân Tông ưu ái, đối xử khác biệt với các phi tần khác. Theo Tống sử, sau khi Chương Mục hoàng hậu Quách thị băng, Chân Tông từng có ý lập bà làm Hoàng hậu nhưng bị quan lại ngăn cản nên đành thôi[2]. Năm Đại Trung Tường Phủ thứ 6 (1013), tháng giêng phong Mỹ nhân (美人), đến năm Thiên Hi thứ 2 (1018) lại thăng Tiệp dư (婕妤).
Can Hưng nguyên niên (1022), Tống Nhân Tông đăng cơ, tấn tôn Chiêu dung (昭容), Chiêu nghi (昭仪), Uyển dung (婉容), Hiền phi (贤妃) rồi Đức phi (德妃). Sau khi Lưu Thái hậu qua đời năm 1033 và Chương Huệ hoàng hậu Dương thị qua đời năm 1036, Thẩm thị trở thành trưởng bối trong hậu cung. Gia Hựu thứ 7 (1062), tấn Quý phi (貴妃).
Năm Hi Ninh thứ 9 (1076), Thẩm Quý phi qua đời, thọ 83 tuổi, tôn hiệu Chiêu Tĩnh Quý phi (昭静贵妃). Thẩm thị trải qua bốn đời Hoàng đế: Tống Chân Tông, Tống Nhân Tông, Tống Anh Tông, Tống Thần Tông, rất được quý trọng nên sau khi Quý phi qua đời Thần Tông nghỉ triều ba ngày, đặc cách đưa quan tài về phủ đệ nhà cha bà để tổ chức tang sự, đồng thời đích thân làm lễ để tỏ lòng kính trọng, một vinh dự hiếm có của một phi tần nhà Tống[2].