Bệnh viện Ung bướu Thành phố Hồ Chí Minh
| Bệnh viện Ung Bướu Thành phố Hồ Chí Minh | |
|---|---|
| Vị trí | |
| Vị trí | Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam |
| Tổ chức | |
| Ngân quỹ | Bệnh viện công lập |
| Loại bệnh viện | Chuyên khoa |
| Dịch vụ | |
| Khoa cấp cứu | Có |
| Lịch sử | |
| Khai trương | 1985 |
| Liên kết | |
| Website | https://benhvienungbuou.vn |
Bệnh viện Ung Bướu Thành phố Hồ Chí Minh là bệnh viện công lập chuyên khoa ung bướu trực thuộc Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh tại Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam.[1] Bệnh viện vận hành hai cơ sở, trong đó cơ sở 2 được khánh thành ngày 12 tháng 10 năm 2020 với quy mô thiết kế 1.000 giường bệnh.[2] Năm 2020, bệnh viện được Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xếp hạng I.[1]
Lịch sử và phát triển
Theo thông tin của Bộ Y tế, bệnh viện được thành lập năm 1985 trên cơ sở kết hợp ba đơn vị gồm Bệnh viện Ung thư Thành phố Hồ Chí Minh, Viện Ung thư Việt Nam và khoa Ung Bướu của Bệnh viện Bình Dân.[3] Dự án đầu tư xây dựng cơ sở 2 được khởi công tháng 6 năm 2016.[3] Năm 2017, Thành phố Hồ Chí Minh chấp thuận chủ trương mở rộng thêm 2,7 ha để bổ sung các hạng mục phục vụ điều trị, khu đào tạo và nhà ở chuyên gia trong khuôn viên dự án cơ sở 2.[4]
Tổ chức và quản lý
Bệnh viện là đơn vị y tế công lập thuộc Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh.[1]
Cơ sở và quy mô
Bệnh viện có hai cơ sở chính:
- Cơ sở 1: khu vực Quận Bình Thạnh (Thành phố Hồ Chí Minh).[5]
- Cơ sở 2: Đường 400, phường Tân Phú, khu vực quận 9 (nay thuộc Thành phố Thủ Đức).[4][2]
Cơ sở 2 có quy mô thiết kế 1.000 giường bệnh, được thiết kế 10 tầng và hai tầng hầm.[4] Theo thông tin công bố tại lễ khánh thành, dự án được triển khai trên khu đất 55.594 m² với tổng diện tích sàn xây dựng 112.582 m², tổng mức đầu tư hơn 5.800 tỷ đồng.[3] Đầu năm 2023, báo Thanh Niên đưa tin cơ sở 2 vận hành toàn bộ theo công suất thiết kế 1.000 giường.[5]
Hoạt động chuyên môn
Theo thông tin tại lễ khánh thành cơ sở 2, bệnh viện triển khai các hoạt động tầm soát ung thư, cấp cứu, chẩn đoán hình ảnh, xét nghiệm, siêu âm, cùng các hoạt động điều trị như hóa trị, xạ trị và y học hạt nhân, và điều trị nội trú.[3]
Bệnh viện tiếp nhận lượng lớn người bệnh từ nhiều địa phương; VnExpress nêu số lượt khám ngoại trú khoảng 4.700–4.800 lượt/ngày, đồng thời ghi nhận khoảng 1.000–1.100 người điều trị hóa trị hoặc xạ trị trong ngày và 800–900 bệnh nhân nội trú.[6] Bài báo cũng ghi nhận thời gian chờ xạ trị có thể ở mức 4–6 tuần vào một số thời điểm.[6]
Nghiên cứu và hợp tác
Một hướng hợp tác chuyên môn được ghi nhận là ứng dụng giải phẫu bệnh từ xa (tiếng Anh: telepathology) trong chẩn đoán huyết học bệnh lý. Bài báo trên tạp chí Giải phẫu bệnh hiện đại (tiếng Anh: Modern Pathology) (2025) mô tả hợp tác giữa bệnh viện và Trường Y McGovern, Đại học Texas (tiếng Anh: University of Texas Health-McGovern Medical School), báo cáo tỷ lệ đồng thuận cao trong chẩn đoán và rút ngắn thời gian trả kết quả ở một số tình huống.[7]
Trong lĩnh vực chăm sóc giảm nhẹ, một nghiên cứu hồi cứu đăng trên tạp chí Đau và Quản lý triệu chứng (tiếng Anh: Journal of Pain and Symptom Management) (2023) mô tả chăm sóc giảm nhẹ tích hợp tại bệnh viện và tại nhà cho người bệnh ung thư ở Việt Nam; nghiên cứu báo cáo cải thiện có ý nghĩa thống kê về đau và một số lĩnh vực khác theo thang đo Kết cục chăm sóc giảm nhẹ châu Phi (tiếng Anh: African Palliative Outcomes Scale).[8] Một khảo sát cắt ngang về khoa chăm sóc giảm nhẹ tại một bệnh viện ung bướu ở Việt Nam cũng ghi nhận đặc điểm triệu chứng của người bệnh và các yếu tố liên quan đến điểm số theo thang đo kết cục chăm sóc giảm nhẹ.[9]
Một nghiên cứu trên tạp chí Ung thư học toàn cầu JCO (tiếng Anh: JCO Global Oncology) (2025) khảo sát hạ tầng xạ trị và y học hạt nhân tại 50 bệnh viện ở Việt Nam, nêu bối cảnh phân bố thiết bị còn hạn chế so với một số khuyến nghị quốc tế; đây là một yếu tố được đề cập trong bức tranh tiếp cận dịch vụ điều trị ung thư.[10]
Tham khảo
- 1 2 3 Lê, Tùng (ngày 13 tháng 3 năm 2020). "Xếp hạng Bệnh viện Ung Bướu trực thuộc Sở Y tế". Công báo Thành phố Hồ Chí Minh. Văn phòng Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2026.
- 1 2 Thùy Dương (ngày 12 tháng 10 năm 2020). "Khánh thành Bệnh viện Ung Bướu cơ sở 2 với 1.000 giường bệnh". Tuổi Trẻ Online. Báo Tuổi Trẻ. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2026.
- 1 2 3 4 "Khánh thành Bệnh viện Ung Bướu TP. Hồ Chí Minh cơ sở 2". Cổng thông tin Bộ Y tế. Bộ Y tế. ngày 13 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2026.
- 1 2 3 Ngọc, Tấn (ngày 9 tháng 6 năm 2017). "Tăng diện tích xây dựng Bệnh viện Ung Bướu cơ sở 2". Báo Điện tử Chính phủ. Báo Điện tử Chính phủ. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2026.
- 1 2 Duy, Tính; Phan, Thu Hoài (ngày 3 tháng 2 năm 2023). "Bệnh viện Ung bướu 1.000 giường hoạt động toàn bộ". Thanh Niên. Báo Thanh Niên. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2026.
- 1 2 Lê, Phương (ngày 8 tháng 4 năm 2024). "Người các tỉnh đến Bệnh viện Ung Bướu TP HCM tăng". VnExpress. VnExpress. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2026.
- ↑ Ly, Uyen; Nguyen, Quang; Nguyen, Dang; Thai, Tu; Le, Binh; Gion, Duong; Banerjee, Alexander; Mai, Brenda; Wahed, Amer; Nguyen, Andy (ngày 14 tháng 8 năm 2025). "Telepathology in Hematopathology Diagnostics: A Collaboration Between the Ho Chi Minh City Oncology Hospital and the University of Texas Health-McGovern Medical School". Modern Pathology (bằng tiếng Anh). Quyển 38 số 8. National Library of Medicine. tr. 100779. doi:10.1016/j.modpat.2025.100779. PMID 40246080. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2026.
{{Chú thích tạp chí}}: Đã định rõ hơn một tham số trong|website=và|journal=(trợ giúp) - ↑ Nguyen, Viet; Quach, Thanh Khanh; Hocaoglu, Mevhibe; Hoang, Thi Mong Huyen; Dang, Huy Quoc Thinh; Krakauer, Eric L (tháng 9 năm 2023). "Integrated Hospital- and Home-Based Palliative Care for Cancer Patients in Vietnam: People-Centered Outcomes". Journal of Pain and Symptom Management (bằng tiếng Anh). Quyển 66 số 3. National Library of Medicine. tr. 175-182.e3. doi:10.1016/j.jpainsymman.2023.04.016. PMID 37119878. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2026.
{{Chú thích tạp chí}}: Đã định rõ hơn một tham số trong|website=và|journal=(trợ giúp) - ↑ Mai, Thuy Thi Thanh; Trinh, Oanh TH; Do, Dung Van; Lin, Cheng-Pei; Harding, Richard (ngày 30 tháng 6 năm 2024). "Characteristics and health problems of cancer patients admitted to palliative care service at the Oncology Hospital in Ho Chi Minh City, Vietnam: a cross-sectional study". MedPharmRes (bằng tiếng Anh). Quyển 8 số 2. tr. 90–103. doi:10.32895/UMP.MPR.8.2.10. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2026.
- ↑ Nguyen, Dang Van; Pham, Manh Duy; Hoang, Thai Huu; Nguyen, Binh Thanh (tháng 2 năm 2025). "Radiotherapy and Nuclear Medicine Equipment Shortages in Vietnam: A Critical Gap in Cancer Care". JCO Global Oncology (bằng tiếng Anh). Quyển 11. National Library of Medicine. tr. e2400530. doi:10.1200/GO-24-00530. PMID 40014841. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2026.
{{Chú thích tạp chí}}: Đã định rõ hơn một tham số trong|website=và|journal=(trợ giúp)