Bước tới nội dung

Aleksandar I của Nam Tư

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Aleksandar I
Vua của Nam Tư
Tại vị6 tháng 1 năm 19299 tháng 10 năm 1934
5 năm, 276 ngày
Kế nhiệmPaul (Thân vương nhiếp chính)
Petar II
Vua của người Serbia, Croatia và Slovenia
Tại vị16 tháng 8 năm 19216 tháng 1 năm 1929
7 năm, 143 ngày
Tiền nhiệmPetar I
Thân vương nhiếp chính của người Serbia, Croatia và Slovenia
Tại vị1 tháng 12 năm 191816 tháng 8 năm 1921
2 năm, 258 ngày
VuaPetar I
Thân vương nhiếp chính của Serbia
Tại vị24 tháng 6 năm 19141 tháng 12 năm 1918
4 năm, 160 ngày
VuaPeter I
Thông tin chung
Sinh16 tháng 12 năm 1888
Cetinje, Thân vương quốc Montenegro
Mất9 tháng 10 năm 1934 (45 tuổi)
Marseille, Pháp
An tángLăng mộ hoàng gia Oplenac
Phối ngẫuMaria của Romania
Hậu duệPetar II của Nam Tư
Vương tử Tomislav
Vương tử Andrew
Hoàng tộcNhà Karađorđević
Thân phụPetar I của Nam Tư
Thân mẫuZorka xứ Montenegro
Tôn giáoChính thống giáo Đông Phương
Chữ kýChữ ký của Aleksandar I

Aleksandar I (Aleksandar I Karađorđević, Kirin Serbia: Александар I Карађорђевић, phát âm [aleksǎːndar př̩ʋiː karad͡ʑǒːrd͡ʑeʋit͡ɕ]),[1] hay Aleksandar Unifier[2] (Aleksandar Ujedinitelj, Kirin Serbia: Александар Ујединитељ [aleksǎːndar ujedǐniteʎ],[1] 16 tháng 12 năm 1888 – 9 tháng 10 năm 1934) là Vua của người Serbia, Croatia và Slovenia từ ngày 16 tháng 8 năm 1921 đến ngày 3 tháng 10 năm 1929 và là Vua của Vương quốc Nam Tư từ ngày 3 tháng 10 năm 1929 cho đến khi bị ám sát vào năm 1934. Triều đại 13 năm của ông là triều đại dài nhất trong ba vị vua của Nam Tư.

Sinh ra tại Cetinje, Thân vương quốc Montenegro, Aleksandar là con trai thứ hai của Petar và Thân vương nữ Zorka xứ Montenegro. Nhà Karađorđević đã bị lật đổ khỏi quyền lực ở Thân vương quốc Serbia 30 năm trước đó, và Alexander đã trải qua những năm tháng đầu đời sống lưu vong cùng cha mình ở Montenegro và sau đó là Thụy Sĩ. Sau đó, ông chuyển đến Đế quốc Nga và gia nhập Quân đoàn Hoàng gia. Sau một cuộc đảo chính và vụ ám sát Vua Alexander I Obrenović vào năm 1903, cha ông được chọn trở thành Vua của Serbia. Năm 1909, anh trai của Aleksandar là George, đã từ bỏ quyền kế vị ngai vàng, khiến Aleksandar trở thành người thừa kế ngai vàng. Aleksandar nổi bật với tư cách là một vị chỉ huy trong Chiến tranh Balkan, dẫn dắt quân đội Serbia giành chiến thắng trước quân Đế quốc Ottoman và quân Vương quốc Bulgaria. Năm 1914, ông trở thành Thân vương nhiếp chính của Serbia. Trong Chiến tranh Thế giới thứ nhất, ông nắm giữ chức vụ chỉ huy trên danh nghĩa của Quân đội Hoàng gia Serbia.

Năm 1918, Aleksandar giám sát việc thống nhất Serbia và các nhà nước, đơn vị hành chính của Đế quốc Áo-Hung, gồm có Vương quốc Croatia-Slavonia, Lãnh thổ Slovenia, Vojvodina, Bosnia và Herzegovina, và Dalmatia thành Vương quốc của người Serb, Croat và Slovene dựa trên Tuyên bố Corfu.[3] Ông lên ngôi sau khi cha mình qua đời vào năm 1921. Một giai đoạn khủng hoảng chính trị kéo dài tiếp theo, lên đến đỉnh điểm là vụ ám sát nhà lãnh đạo Croatia Stjepan Radić. Để đáp trả, Aleksandar bãi bỏ Hiến pháp Vidovdan vào năm 1929, hoãn hoạt động của quốc hội, đổi tên đất nước thành Vương quốc Nam Tư và thiết lập chế độ độc tài hoàng gia. Hiến pháp Nam Tư năm 1931 đã chính thức hóa quyền cai trị cá nhân của Aleksandar và xác nhận địa vị của Nam Tư là một quốc gia thống nhất, càng làm trầm trọng thêm tình trạng bất ổn của người dân không phải người Serbia. Căng thẳng chính trị và kinh tế leo thang khi cuộc Đại suy thoái bùng nổ, tàn phá đất nước chủ yếu là vùng nông thôn. Về đối ngoại, Aleksandar ủng hộ Hiệp ước Balkan với Vương quốc Hy Lạp, Vương quốc RomaniaThổ Nhĩ Kỳ, đồng thời tìm cách cải thiện quan hệ với Vương quốc Bulgaria.

Năm 1934, Aleksandar thực hiện chuyến thăm cấp nhà nước tới Pháp nhằm tìm kiếm sự ủng hộ cho phe Hiệp ước Nhỏ chống lại chủ nghĩa phục quốc của Hungary và âm mưu đế quốc của Phát xít Ý. Trong một lần dừng chân tại Marseille, ông bị Vlado Chernozemski, một thành viên của Tổ chức Cách mạng Nội bộ Macedonia thân Bulgaria, ám sát, tổ chức này nhận được sự hỗ trợ từ Ustaše của người Croatia do Ante Pavelić lãnh đạo. Bộ trưởng Ngoại giao Pháp Louis Barthou cũng thiệt mạng trong vụ tấn công. Aleksandar được kế vị bởi con trai 11 tuổi của mình là Petar II của Nam Tư, dưới sự nhiếp chính của người em họ đời đầu của ông là Thân vương Paul, người mà Petar II gọi là chú.

Ông là vị quốc vương cuối cùng của Châu Âu bị ám sát.

Cuộc sống đầu đời

Aleksandar Karađorđević sinh ngày 16 tháng 12 năm 1888 [lịch cũ ngày 4 tháng 12] tại Thân vương quốc Montenegro, là con thứ 4 và con trai thứ 2 của Petar Karađorđević và vợ ông, Thân vương nữ Zorka xứ Montenegro. Ông nội của ông là Thân vương Aleksandar, đã bị buộc phải thoái vị khỏi vị trí Thân vương xứ Serbia và trao lại quyền lực cho Nhà Obrenović đối địch. Ông ngoại của Aleksandar là Thân vương Nikola I xứ Montenegro. Mặc dù được Đế quốc Nga ủng hộ, nhưng vào thời điểm Aleksandar chào đời và những năm tháng thơ ấu, Nhà Karađorđević đã phải lưu vong chính trị, các thành viên trong gia đình phân tán khắp châu Âu, không thể trở về Serbia.[4]

Serbia sau đó đã được chuyển đổi từ một thân vương quốc thành một vương quốc dưới sự cai trị của Nhà Obrenović, những người cai trị với sự ủng hộ mạnh mẽ từ Đế quốc Áo-Hung. Sự đối đầu giữa hai vương tộc đối địch lớn đến mức, sau vụ ám sát Thân vương Mihailo Obrenović năm 1868 (một sự kiện mà Nhà Karađorđević bị nghi ngờ có liên quan), Nhà Obrenović đã phải dùng đến những thay đổi hiến pháp, cụ thể là tuyên bố cấm người Nhà Karađorđević nhập cảnh vào Serbia và tước bỏ các quyền công dân của họ.

Aleksandar mới 2 tuổi khi mẹ ông, Thân vương nữ Zorka, qua đời năm 1890 do biến chứng khi sinh em trai ông là Andrej, người cũng đã qua đời 23 ngày sau đó. Aleksandar trải qua tuổi thơ ở Montenegro. Năm 1894, người cha góa vợ của ông đưa 4 người con, bao gồm cả Aleksandar, đến Geneva, Thụy Sĩ, nơi chàng trai trẻ hoàn thành chương trình tiểu học. Cùng với anh trai là George, ông tiếp tục học tại Học viện quân sự Hoàng gia Page Corps ở Petrograd, Đế quốc Nga. Sử gia người Anh Robert Seton-Watson mô tả Aleksandar đã trở thành một người yêu nước Nga trong thời gian ở Petrograd, và vô cùng biết ơn sự sẵn lòng của Hoàng đế Nga Nicholas II cho ông một nơi ẩn náu, nơi ông được đối xử rất kính trọng.[5]

Khi còn là một chủng sinh, Aleksandar được mô tả là một người chăm chỉ và quyết tâm, nhưng cũng là một "người cô độc", sống khép kín và hiếm khi bộc lộ cảm xúc.[6] Là một Nhà Karađorđević, Aleksandar được Hoàng đế Nga Nicholas II mời đến dùng bữa tối tại Cung điện Mùa đông, nơi ông là khách danh dự trong các bữa tiệc do hoàng gia Nga tổ chức, một vinh dự lớn đối với một vương tử thuộc dòng dõi hoàng thân bị phế truất của Serbia.[6] Trong thời gian ở Petrograd, Aleksandar đã đến thăm Tu viện Alexander Nevsky, nơi vị tu viện trưởng tặng Aleksandar một bức tượng Thân vương Alexander Nevsky và dẫn ông đến mộ của Nguyên soái Alexander Suvorov.[7] Sau chuyến viếng thăm tu viện, Aleksandar bày tỏ mong muốn trở thành một vị tướng vĩ đại như Nguyên soái Suvorov hay Thân vương Alexander Nevsky, nói rằng ông muốn chỉ huy một đội quân hùng mạnh hoặc một hạm đội hùng mạnh khi trưởng thành.[8]

Năm 1903, khi George và Aleksandar còn nhỏ đang đi học, một nhóm âm mưu đã tiến hành một cuộc đảo chính đẫm máu ở Vương quốc Serbia, được gọi là Đảo chính tháng 5, trong đó Vua Aleksandar của Serbia và vợ là Vương hậu Draga bị sát hại và chặt xác. Nhà Karađorđević do đó đã giành lại ngai vàng Serbia sau 45 năm và người cha 58 tuổi của Aleksandar trở thành Vua Serbia, thúc đẩy George và Aleksandar trở về Serbia để tiếp tục việc học. Sau sinh nhật lần thứ 15 của Aleksandar, Vua Petar I đã cho Aleksandar nhập ngũ vào Quân đội Hoàng gia Serbia với tư cách là một binh nhì, đồng thời chỉ thị cho các sĩ quan của mình chỉ thăng chức cho con trai nếu anh ta chứng tỏ được mình xứng đáng.[6] Vào ngày 25 tháng 3 năm 1909, Aleksandar đột nhiên được cha triệu hồi về Belgrade mà không có lời giải thích nào khác ngoài việc ông có một thông báo quan trọng cho con trai mình.[9]

Trở thành người thừa kế

Vương hậu Maria cùng hai người con của bà, Tomislav và Andrej

Năm 1909, một vụ bê bối nổ ra khi Vương Thái tử George, anh trai của Aleksandar, làm chết một người hầu sau khi đá vào bụng anh ta.[10] Dưới áp lực từ những nhân vật quyền lực như Thủ tướng Nikola Pašić và các sĩ quan cấp cao Dragutin Dimitrijević và Petar Živković, George đã công khai từ bỏ quyền kế vị ngai vàng vào tháng 3 năm đó để ủng hộ Aleksandar.[10]

Năm 1910, Aleksandar suýt chết vì sốt phát ban và bị các vấn đề về dạ dày trong suốt quãng đời còn lại.[11] Trước thềm Chiến tranh Balkan lần thứ nhất, Aleksandar đóng vai trò là một nhà ngoại giao, đến Sofia để gặp Sa hoàng Ferdinand I của Bulgaria đàm phán bí mật về một Liên minh Balkan nhằm đánh đuổi người Ottoman khỏi Balkan.[12] Cả Bulgaria và Serbia đều có yêu sách đối địch với vùng Macedonia của Ottoman, vì vậy Aleksandar, cùng với con trai của Ferdinand là Vương Thái tử Boris, đã đến Petrograd để gặp Hoàng đế Nikolai II của Nga để yêu cầu Nga làm trung gian hòa giải.[12] Vào tháng 3 năm 1912, Serbia và Bulgaria đã ký một liên minh phòng thủ mà sau đó Vương quốc Hy Lạp đã tham gia vào tháng 5 năm 1912.[12]

Chiến tranh Balkan và Thế chế I

Một tấm bưu thiếp thời chiến của Aleksandar

Vào tháng 3 năm 1912, Aleksandar đã có một cuộc họp với 10 chỉ huy quân sự cấp cao. Tất cả họ đều đồng ý chấm dứt mọi xung đột nội bộ trong Quân đội Hoàng gia Serbia và cam kết thực hiện đầy đủ các mục tiêu quốc gia, tạo điều kiện cho việc củng cố trước hai cuộc Chiến tranh Balkan liên tiếp.[13]

Trong Chiến tranh Balkan lần thứ nhất năm 1912, với tư cách là tư lệnh Tập đoàn quân số 1, Vương Thái tử Aleksandar đã chiến thắng ở trận Kumanovotrận Monastir. Một trong những khoảnh khắc đáng nhớ nhất của Aleksandar là khi ông đánh đuổi quân Ottoman khỏi Kosovo và vào ngày 28 tháng 10 năm 1912, ông đã dẫn đầu Quân đội Hoàng gia Serbia duyệt binh trên Cánh đồng Blackbird.[8] Cánh đồng Blackbird là nơi quân Serbia dưới quyền Thân vương Lazar đã bị đánh bại trong một trận chiến huyền thoại bởi Hoàng đế Ottoman Murad I vào ngày 28 tháng 6 năm 1389, và được người Serbia coi là vùng đất thánh. Ông rất vinh dự được bày tỏ lòng thành kính với những người Serbia đã ngã xuống trong trận chiến hơn 500 năm trước.[8] Sau Chiến tranh Balkan lần thứ nhất, những tranh chấp nổ ra giữa các bên chiến thắng về quyền kiểm soát lãnh thổ Macedonia, trong đó Serbia và Hy Lạp đã ký kết một liên minh chống lại Vương quốc Bulgaria.

Sau thất bại của Ottoman và sự rút lui của quân đội Ottoman khỏi Skopje (hầu hết đã rời đi sau cuộc nổi dậy của người Albania năm 1912), Vương thái tử Aleksandar được người dân địa phương đón tiếp bằng hoa. Ông dừng lại và hỏi một bé gái 7 tuổi, Vaska Zoicheva, "Cháu là ai?" (Pa šta si ti?). Khi cô bé trả lời "Người Bulgaria!" (Bugarka!), vương thái tử đã tát cô bé. Tin tức về sự kiện này nhanh chóng lan truyền khắp Bulgaria. Sau đó, vào năm 1913, trong Chiến tranh Balkan lần thứ hai, Aleksandar chỉ huy Quân đội Serbia trong Trận Bregalnica chống lại người Bulgaria.[14] Vào năm 1920 và 1921, chính quyền Serbia đã tìm kiếm cha của cô bé, Danail Zoichev, và đề nghị trả tiền để ông ta xóa bỏ sự kiện này vì cho rằng nó là hư cấu, nhưng ông ta đã từ chối.[15][16][17][18]

Sau Chiến tranh Balkan lần thứ hai, vùng Vardar Macedonia đã thuộc về Vương quốc Serbia theo Hiệp ước Bucharest (1913). Vương thái tử Aleksandar đã đứng về phe nào trong cuộc tranh giành quyền lực phức tạp về cách thức cai trị Macedonia. Trong cuộc tranh giành này, Aleksandar đã đánh bại Đại tá Dragutin Dimitrijević và sau đó, cha của Aleksandar, Vua Petar I, đã đồng ý trao lại quyền lực hoàng gia cho con trai mình. Mặc dù Đại tá Dimitrijević là chủ mưu của cuộc đảo chính năm 1903, khôi phục ngai vàng Serbia cho Nhà Karađorđević, Aleksandar vẫn không tin tưởng ông ta, coi những nỗ lực tự phong mình là "người kiến tạo vua" và biến Quân đội Serbia thành một "nhà nước trong nhà nước" tồn tại ngoài tầm kiểm soát của dân sự là một mối đe dọa lớn.[19]

Ngoài ra, Aleksandar coi Dimitrijević là một kẻ mưu mô vô trách nhiệm, kẻ đã phản bội một vị vua thì luôn có thể phản bội một vị vua khác. Vào tháng 1 năm 1914, thủ tướng Serbia là Nikola Pašić đã gửi một lá thư cho Hoàng đế Nikolai II của Nga trong đó Vua Petar bày tỏ mong muốn con trai mình kết hôn với một trong những người con gái của Nikolai II.[20][21] Trong thư trả lời, Nikolai II tuyên bố rằng các con gái của ông sẽ không bị ép buộc vào các cuộc hôn nhân sắp đặt, nhưng lưu ý rằng Aleksandar trong những chuyến đi gần đây nhất của mình đến Petrograd trong các bữa tối tại Cung điện Mùa đông đã liên tục nhìn Nữ đại công tước Tatiana một cách trìu mến, khiến ông đoán rằng chính cô là người mà Aleksandar muốn kết hôn. Vào ngày 24 tháng 6 năm 1914, Aleksandar trở thành nhiếp chính của Serbia.

Nhiếp chính vương Aleksandar trên Mặt trận Macedonia năm 1916.

Vào ngày 24 tháng 7 năm 1914, Aleksandar là một trong những quan chức Serbia đầu tiên nhận thấy tối hậu thư ngày 23 tháng 7 năm 1914 của Áo chứa đựng những điều khoản được viết ra một cách cố ý nhằm mục đích khơi mào sự phản đối.[22] Aleksandar tìm đến Nga để cầu cứu, và được hoàng đế khuyên chấp nhận tối hậu thư hết sức có thể.[23] Aleksandar đã chậm trễ khi nói rằng ông "đã làm hết sức mình" để chấp nhận tối hậu thư, vì Serbia đã chấp nhận tất cả các điều khoản ngoại trừ điều khoản yêu cầu các sĩ quan cảnh sát Áo đang điều tra Vụ ám sát Đại vương công Franz Ferdinand được phép hoạt động trên lãnh thổ Serbia với quyền bắt giữ, điều này sẽ chính thức chấm dứt Serbia với tư cách là một quốc gia độc lập.[22] Đúng như dự đoán, Áo tuyên chiến với Serbia, và Aleksandar dồn hết tâm sức vào việc chuẩn bị phòng thủ quốc gia.[22] Trong một bức thư gửi cho ông ngoại là vua Nicholas của Montenegro, Alexander viết: "Chúa đã một lần nữa muốn người dân Serbia hy sinh mạng sống của mình vì người Serbia ở khắp mọi nơi... Cháu cầu xin sự ủng hộ của những người cha kính yêu và sáng suốt của cháu".[24]

Khi Chiến tranh Thế giới thứ nhất bùng nổ, ông là tổng tư lệnh danh nghĩa của Quân đội Hoàng gia Serbia; quyền chỉ huy thực sự nằm trong tay Tham mưu trưởng Bộ Tổng tư lệnh Tối cao, một vị trí do Stepa Stepanović (trong thời gian động viên), Radomir Putnik (1914–1915), Petar Bojović (1916–1917) và Živojin Mišić (1918) nắm giữ. Quân đội Serbia đã thể hiện rõ nét trong các trận chiến tại Cer và Drina (Trận Kolubara) năm 1914, giành chiến thắng trước quân đội Áo-Hung xâm lược và đánh đuổi khỏi đất nước.[25]

Nhà sử học người Anh Max Hastings đã mô tả Quân đội Hoàng gia Serbia vào năm 1914 là quân đội kiên cường nhất châu Âu và cũng là quân đội bình đẳng nhất, không có sự phân biệt cấp bậc như các quân đội châu Âu khác, thể hiện qua việc Quân đội Serbia là quân đội duy nhất ở châu Âu mà các sĩ quan bắt tay với các cấp bậc khác.[25] Tuy nhiên, Quân đội Serbia đã phải chịu tình trạng thiếu hụt nghiêm trọng về trang thiết bị khi một phần ba số binh lính được triệu tập vào tháng 8 năm 1914 không có súng trường hoặc đạn dược, và những tân binh được khuyên nên mang theo giày và quần áo của riêng mình vì không có đồng phục cho họ.[25] Aleksandar đã ra lệnh cho cảnh sát Serbia tiến hành khám xét các ngôi nhà trên khắp Serbia để xem có súng trường và đạn dược nào để tịch thu cho quân đội hay không.[25]

Nhiếp chính vương Aleksandar và Raymond Poincaré nằm 1916

Năm 1915, Quân đội Serbia bị quân đồng minh Đế quốc Đức và Áo-Hung tấn công trên nhiều mặt trận, chịu tổn thất nặng nề. Ngày 7 tháng 10 năm 1915, một cụm quân Áo-Đức dưới sự chỉ huy của Thống chế August von Mackensen đã xâm lược Serbia và sau khi gặp phải sự kháng cự quyết liệt, họ đã chiếm được Belgrade vào ngày 9 tháng 10.[26] Ngày 14 tháng 10 năm 1915, Bulgaria xâm lược Serbia và ngày 16 tháng 10, quân Bulgaria chiếm Niš, cắt đứt tuyến đường sắt nối Serbia với Thessaloniki ở Hy Lạp.[26] Bị quân Áo và Đức tấn công từ phía bắc và quân Bulgaria tấn công từ phía nam, đến ngày 25 tháng 11 năm 1915, người Serbia đã bị buộc phải di chuyển vào khu vực Kosovo.[26]

Các cuộc thảm sát do quân Áo-Hung thực hiện khi họ xâm lược Serbia vào năm 1914 đã hai lần gây ra sự hoảng loạn to lớn và hàng trăm nghìn người Serbia đã phải bỏ nhà cửa chạy trốn quân Áo-Hung, điều này đã làm chậm trễ đáng kể việc di chuyển của Quân đội Serbia.[26] Thống chế Putnik thuyết phục Vương Thái tử Aleksandar và Vua Petar rằng tốt hơn là giữ nguyên Quân đội Serbia để một ngày nào đó giải phóng Serbia thay vì đứng lại và chiến đấu ở Kosovo như nhiều sĩ quan Serbia mong muốn.[26]

Nhiếp chính vương Aleksandar với các sĩ quan cấp cao đang theo dõi các vị trí quân sự trong trận chiến Kaymakchalan năm 1916.
Nhiếp chính vương Aleksandar cùng một bác sĩ quân y thăm một người lính Nga bị thương trong Thế chiến thứ nhất trên Mặt trận Macedonia vào năm 1917.

Quân đội Serbia rút lui qua các hẻm núi Montenegro và miền bắc Albania đến đảo Corfu của Hy Lạp, nơi họ được tái tổ chức. Cuộc hành quân qua dãy núi Prokletije ("Nguyền rủa") là một hành trình gian khổ khi Quân đội Serbia cùng với một lượng lớn người tị nạn phải vượt qua những ngọn núi cao tới 3.000 feet vào giữa mùa đông, với nhiệt độ trung bình hàng ngày là -20°C trong khi chiến đấu với các bộ lạc Albania thù địch với sự truy đuổi của quân đội Áo-Hung, Đức và Bulgaria.[27] Nhiều người Serbia đã thiệt mạng trên đường đi, như một người lính Serbia đã viết trong nhật ký của mình về những người tị nạn nằm nghỉ bên đường: "Bị tuyết phủ kín đầu, họ gục xuống ngực. Những bông tuyết trắng nhảy múa xung quanh họ trong khi gió núi cao rít lên những bài hát về cái chết. Đầu của những con ngựa và con bò đã ngã xuống nhô ra khỏi tuyết".[26]

Trong khi người Serbia đương đầu với gió lạnh và tuyết rơi dày đặc, niềm an ủi duy nhất cho Aleksandar là thời tiết mùa đông cũng đang cản trở quân đội Đức, Áo-Hung và Bulgaria dưới sự chỉ huy của von Mackensen đang truy đuổi quân đội của ông.[26] Aleksandar liên tục phải đối mặt với nguy hiểm trong suốt cuộc hành quân ra biển khi sức khỏe của ông suy yếu.[24] Khi đến được bờ biển, những người Serbia sống sót, khoảng 140.000 người, đã được các tàu của Anh và Pháp cứu hộ và đưa đến Corfu.[27]

Vào tháng 9 năm 1915, Quân đội Hoàng gia Serbia ước tính có quân số khoảng 420.000 người, trong đó 94.000 người đã thiệt mạng hoặc bị thương, trong khi 174.000 người khác bị bắt hoặc mất tích trong chiến dịch mùa thu năm 1915 và cuộc rút lui ra biển sau đó.[27] Những tổn thất mà thường dân Serbia phải gánh chịu trong chiến dịch mùa thu năm 1915 cùng với cuộc rút lui ra biển chưa bao giờ được tính toán, nhưng ước tính là rất lớn.[27] Tình hình càng trở nên tồi tệ hơn khi dịch sốt phát ban và sốt tái phát bùng phát khắp đất nước vào năm 1915. Tổn thất của người Serb tính theo tỷ lệ phần trăm dân số là lớn nhất trong số các bên tham chiến trong cuộc chiến.[27]

Nhà Krsmanović, nơi ở của Nhiếp chính vương Aleksandar (1918–1922)

Những người lính Serbia sống sót cuối cùng được đưa đến Thessaloniki để gia nhập lực lượng Armées alliées en Orient. Mùa thu năm 1916, mâu thuẫn dai dẳng giữa Aleksandar và tổ chức quân sự bí mật Black Hand (Bàn tay đen) bùng phát khi Đại tá Dimitrijević bắt đầu công khai chỉ trích quyền lãnh đạo của ông.[19] Nghi ngờ có mối đe dọa đến ngai vàng, Aleksandar đã nhanh chóng ra lệnh bắt giữ các sĩ quan là thành viên của Black Hand vào tháng 12 năm 1916 và xét xử họ về tội bất tuân lệnh; sau khi bị kết án, Dimitrijević và một số thủ lĩnh Black Hand khác đã bị xử bắn vào ngày 23 tháng 6 năm 1917.[19]

Aleksandar I, Vua của Nam Tư. 1919 autochrome của Auguste Léon.

Cùng lúc đó, chính phủ lưu vong Serbia do Thủ tướng Nikola Pašić lãnh đạo đã liên lạc với Ủy ban Nam Tư, một nhóm chính trị gia và nhà hoạt động chính trị người Croatia, người Slovenia và người Serb Bosnia chống Áo-Hung do Ante Trumbić lãnh đạo, những người này có mục đích thành lập một quốc gia mới có tên là Nam Tư, quốc gia sẽ thống nhất tất cả các dân tộc Nam Slav thành một nhà nước thống nhất.[28] Vào tháng 6 năm 1917, Pašić và Trumbić đã ký Tuyên bố Corfu hứa hẹn một nhà nước Nam Tư sau chiến tranh.[28] Aleksandar dường như đã nghi ngờ về các kế hoạch một nhà nước Nam Tư, vì trong suốt cuộc chiến, ông đã nói về việc giải phóng Serbia.[29] Việc Tổng thống Hoa Kỳ Woodrow Wilson đưa ra 14 Điểm vào tháng 1 năm 1918 đã làm tăng thêm mối nghi ngờ của Aleksandar về Nam Tư, vì Điểm 10 đề cập đến "quyền tự chủ đáng kể" của Đế quốc Áo-Hung sau chiến tranh, chứ không phải là việc chia cắt nó.[30] Không muốn đối đầu với Wilson, Aleksandar ủng hộ một "Đại Serbia" trong đó người Serbia sáp nhập các vùng đất của người Nam Slav thuộc Nhà Habsburg.[29] Mặc dù Vương Thái tử đã tuyên bố trong một bài phát biểu trong chuyến thăm Anh rằng ông đang "đấu tranh cho sự thống nhất Nam Tư trong một nhà nước Nam Tư", nhưng khi nói chuyện với binh lính của mình, ông lại tuyên bố rằng ông đang đấu tranh cho "sự tái lập của Serbia, quê hương thân yêu của chúng ta".[30]

Một dấu hiệu báo trước rắc rối sắp xảy ra, Trumbić yêu cầu được quyền phát biểu thay mặt cho người Nam Slav đang sống dưới sự cai trị của Áo-Hung, một yêu cầu mà Aleksandar đã bác bỏ với lý do chính phủ Serbia đại diện cho người Nam Slav.[30] Sau khi quân đội được tập hợp lại và tăng cường, họ đã giành được chiến thắng quyết định trên Mặt trận Macedonia, tại trận Kajmakchalan. Quân đội Serbia đã đóng một vai trò quan trọng trong cuộc đột phá cuối cùng của Đồng minh trên Mặt trận Macedonia vào mùa thu năm 1918. Cuộc tranh luận về việc Quân đội Serbia chiến đấu cho Nam Tư hay Serbia đã được giải quyết vào tháng 10–tháng 11 năm 1918 khi Đế chế Áo-Hung sụp đổ, để lại Quân đội Hoàng gia Serbia di chuyển vào khoảng trống.[31]

Vương quốc Ý có tham vọng sáp nhập Dalmatia, Istria và phần lớn Slovenia, khiến người Croatiangười Slovenia muốn chung sống với những người Slav đồng hương của họ.[3] Vào ngày 1 tháng 12 năm 1918, Hội đồng Quốc gia đã yêu cầu Aleksandar tuyên bố Serbia thống nhất với các tỉnh Croatia-Slavonia, Slovenia, Vojvodina, Bosnia và Herzegovina và Dalmatia thuộc Áo trước đây trên cơ sở Tuyên bố Corfu.[3] Serbia đã bị tàn phá bởi chiến tranh, và cứ 5 người Serbia còn sống vào năm 1914 thì có 1 người đã chết vào năm 1918.[32] Phần lớn thời gian của Aleksandar trong những năm ngay sau chiến tranh là dành cho công cuộc tái thiết.

Vua Nam Tư

Ám sát

Hậu duệ

Trong văn hoá đại chúng

Vinh dự

Tham khảo và chú thích

Chú thích
Trích dẫn
  1. 1 2 Cách phát âm khác của 'Aleksandar' và 'I' là [alěksaːndar][pr̩̂ːʋiː].
  2. Passmore 2003, tr. 104
  3. 1 2 3 Farley 2007, tr. 66.
  4. Foley, Liam (ngày 9 tháng 10 năm 2021). "October 9, 1934: Assassination of King Alexander of Yugoslavia". European Royal History (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2023.
  5. Seton-Watson 1935, tr. 35.
  6. 1 2 3 Farley 2007, tr. 55.
  7. Farley 2007, tr. 57–58.
  8. 1 2 3 Farley 2007, tr. 58.
  9. Farley 2007, tr. 56.
  10. 1 2 "HM King Peter I of Serbia - Henry Poole & Co". Henry Poole Savile Row (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2024.
  11. "Alexander I of Yugoslavia". www.1066.co.nz. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2024.
  12. 1 2 3 Farley 2007, tr. 57.
  13. Bakić, Dragan (2017). "Regent Alexander Karadjordjević in the First World War". Balcanica (XLVIII): 193–194.
  14. Farley 2007, tr. 59.
  15. Ethnic Cleansing in the Balkans: Nationalism and the Destruction of Tradition, Cathie Carmichael, Routledge, 2003, ISBN 1134479530, p. 138.
  16. Contested Ethnic Identity: The Case of Macedonian Immigrants in Toronto, 1900–1996, Chris Kostov, Peter Lang, 2010, ISBN 3034301960, p. 77.
  17. Igor Despot (2019) "The Balkan Wars: An Expected Opportunity for Ethnic Cleansing", Journal of Muslim Minority Affairs, 39:3, 343–355, doi:10.1080/13602004.2019.1652410.
  18. Y. Konstantinova, (2011) "Allies and Enemies: The Balkan Peoples in the Bulgarian Political Propaganda During the Balkan Wars", p. 130 in Études Balkaniques, issue 1, pp. 109–148.
  19. 1 2 3 Farley 2007, tr. 62.
  20. "Draft letter to the Tsar, written by hand Pasic". Documents Nikola Pasic (bằng tiếng Nga). Serbian Archive. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2010.
  21. Živojinović, Dragoljub R., "King Peter I Karadjordjević," I–III, Belgrade, 1990. ISBN 86-13-00494-6
  22. 1 2 3 Farley 2007, tr. 60.
  23. Farley 2007, tr. 59–60.
  24. 1 2 Farley 2007, tr. 61.
  25. 1 2 3 4 Hastings 2013, tr. 141–142.
  26. 1 2 3 4 5 6 7 Strachan 2006, tr. 153.
  27. 1 2 3 4 5 Strachan 2006, tr. 154.
  28. 1 2 Farley 2007, tr. 62–63.
  29. 1 2 Farley 2007, tr. 63.
  30. 1 2 3 Farley 2007, tr. 64.
  31. Farley 2007, tr. 65.
  32. Crampton 1997, tr. 131.
Nguồn