Bước tới nội dung

A Bố Nại

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(Đổi hướng từ Abunai)
A Bố Nại
Abunai
Thủ lĩnh Mông Cổ
Sát Cáp Nhĩ Thân vương nhà Thanh
Tại vị1651 - 1669
Tiền nhiệmNgạch Nhĩ Khắc Khổng Quả Nhĩ
Kế nhiệmBố Nhĩ Ni
Thông tin chung
Sinh1635
Mất1675 (40 tuổi)
Phối ngẫuCố Luân Ôn Trang Trưởng Công chúa
Hậu duệBố Nhĩ Ni
La Bố Tàng
Thân phụLâm Đan hãn
Thân mẫuÝ Tĩnh Đại Quý phi

A Bố Nại (Hán tự: 阿布奈 hoặc 阿布鼐, 阿布柰, Abunai; 1635 - 1675) là một thủ lĩnh bộ tộc Sát Cáp Nhĩ (Chahar) thời Thanh sơ, thuộc thị tộc Bác Nhĩ Tế Cát Đặc Mông Cổ. Ông là con trai của Lâm Đan hãn, em trai thủ lĩnh Mông Cổ Ngạch Triết, vị Khả hãn cuối cùng của Bắc Nguyên.

Tiểu sử

Thân thế

A Bố Nại là con trai nhỏ nhất của Lâm Đan hãn, mẹ là Nang Nang Phúc tấn. Ông được sinh chỉ vài ngày sau khi thân phụ qua đời. Sau khi anh ông là Ngạch Triết đầu hàng Hậu Kim, được Đại hãn Hoàng Thái Cực phong làm Sát Cáp Nhĩ Thân vương. Mẹ ông cũng được nạp làm Phúc tấn.

Sát Cáp Nhĩ Thân vương

Sau khi anh trai Ngạch Triết qua đời năm 1641, ông kế vị vai trò thủ lĩnh bộ tộc Sát Cáp Nhĩ. Năm 1645, theo tập tục Mông Cổ, Phu nhân của Ngạch Triết là Công chúa Mã Khách Tháp nhà Thanh tái giá với ông, về sau sinh hạ 2 người con trai là Bố Nhĩ Ni và La Bố Tàng (罗布藏, Lubuzung). Năm 1648, ông được Thuận Trị gia thụ Kỵ đô úy. Năm 1651, ông được tập phong tước vị Sát Cáp Nhĩ Thân vương.

Việc Thanh đế Hoàng Thái Cực gả Công chúa Mã Khách Tháp có mẹ là Hoàng hậu Triết Triết, người bộ tộc Khoa Nhĩ Thấm Mông Cổ, là nhằm mục đích tạo ra sự liên kết chính trị với người Mông Cổ. Tuy nhiên, mặc dù phải chịu khuất phục trước sức ép của người Mãn Châu, các quý tộc Mông Cổ vẫn nuôi giữ ý định khôi phục vinh quang của Đế quốc Mông Cổ. A Bố Nại với tư cách là hậu duệ của các Khả hãn Bắc Nguyên, nhiều lần công khai thể hiện sự bất mãn của mình đối với quyền lực thống trị của người Mãn, nhất là từ khi nhà Thanh chiếm được Trung Nguyên rộng lớn và ngôi vị quân chủ lại được nắm giữ bởi vị Hoàng đế trẻ con Khang Hi. Năm 1669, Khang Hi bất ngờ hạ chiếu đoạt tước Sát Cáp Nhĩ Thân vương của A Bố Nại và giam giữ ông ở Thịnh Kinh. Để vỗ an, Khang Hi trao tước vị Thân vương lại cho Bố Nhĩ Ni, đồng thời ban hôn con gái của An Thân vương Nhạc Lạc cho Bố Nhĩ Ni.

Kết cục

Năm 1675, khi mà quân Thanh liên tục bị thất bại trên chiến trường, Bố Nhĩ Ni cùng La Bố Tàng khởi binh phản Thanh, cùng dự định sẽ cứu A Bố Nại. Tuy nhiên, Khang Hi đã sớm có kế hoạch đối phó. Trái với dự định của Bố Nhĩ Ni, hầu hết các bộ tộc Mông Cổ khác đều án binh bất động, chỉ có khoảng 3.000 chiến binh của bộ tộc Sát Cáp Nhĩ tham gia nổi loạn. Bên cạnh đó, Khang Hi lệnh cho Tín Quận vương Ngạc Trát làm Phủ viễn Đại tướng quân suất binh bình định cuộc nổi loạn của Bố Nhĩ Ni. Trong trận giao chiến tại Đạt Lộc ngày 20 tháng 4 năm 1675, quân Bố Nhĩ Ni bị quân Thanh đánh bại tan tát. Bản thân huynh đệ Bố Nhĩ Ni sau đó cũng bị Ngạch phò (Phò mã) Sa Tân, người bộ tộc Khoa Nhĩ Thấm bắt giữ và giết chết. Khang Hi sau đó cũng ra lệnh xử tử A Bố Nại, lúc đó đang bị giam giữ. Các thành viên của bộ tộc, trừ các Tôn nữ Hoàng tộc nhà Thanh, đều bị đày đi biên ải ở Đại Đồng, Tuyên Hóa. Về sau, bị biên vào Sát Cáp Nhĩ Bát kỳ.

Gia quyến

Thê thiếp

  • Đích Phúc tấn Ái Tân Giác La thị, danh Mã Khách Tháp (馬喀塔), tức Cố Luân Ôn Trang Trưởng công chúa nhà Thanh, đích trưởng nữ của Hoàng Thái Cực, ban đầu lấy anh trai A Bố Nại là Ngạch Triết.
  • Trắc Phúc tấn Bác Nhĩ Tề Cát Đặc thị, danh A Nhĩ Ban (阿爾班), cháu gái trong họ của Ý Tĩnh Đại Quý phi, được A Bố Nại sủng ái nhất sau khi Mã Khách Tháp qua đời, thường xuyên tháp tùng ông trong các chuyến đi săn, về sau không rõ tung tích.
  • Trắc Phúc tấn Bác Nhĩ Tề Cát Đặc thị, danh Na Nhân (娜仁), xuất thân từ bộ tộc Khoa Nhĩ Thấm, con gái Đài cát Sát Khắc Đồ (察克都). Về sau không rõ tung tích, có tin đồn là bị sung vào Tân Giả khố làm việc.
  • Trắc Phúc tấn xuất thân bộ tộc Nãi Man, danh Tư Cầm (思琴).
  • Thứ Phúc tấn Ba Lâm thị (巴林氏), danh Hắc Ngạch Nhĩ (黑額爾).
  • Thứ Phúc tấn xuất thân bộ tộc A Tô Đặc, danh Sát Nhật Tùng (察日松), con gái A Lạt Thán (阿喇坦), về sau chịu đày ải đến Tuyên Hóa.
  • Thứ Phúc tấn xuất thân bộ tộc Trát Lỗ Đặc, danh Cáp Tư (哈斯), qua đời trước khi A Bố Nại bị giam ở Thịnh Kinh.
  • Thứ thiếp xuất thân bộ tộc Nãi Man, danh Mộc Đan (木丹), vốn là tỳ nữ bồi hôn của Trắc Phúc tấn.
  • Thứ thiếp Ô Châu Mục Thấm thị (烏珠穆沁氏), danh Tắc Lạp (塞拉), về sau bị đày ải đến Hắc Long Giang.
  • Thứ thiếp Ô Lỗ Đặc thị (烏魯特氏), danh Ô Vân (烏雲), về sau chịu đày ải đến Tuyên Hóa.
  • Thứ thiếp Khố Luân thị (庫倫氏), về sau chịu đày ải đến Tuyên Hóa.
  • Thứ thiếp không rõ họ người Hán, sinh Tát Nhân Hoa.

Con cái

Con trai

Sau khi Bố Nhĩ Ni nổi loạn thất bại, A Bố Nại cùng toàn bộ con trai đều bị hành quyết.

  • Trưởng tử Bố Nhĩ Ni (布尔尼, 1654 - 1675), mẹ là Cố Luân Ôn Trang Trưởng công chúa, nổi loạn dưới thời Khang Hy rồi bị xử tử cùng gia quyến.
  • Nhị tử La Bố Tàng (罗布藏), mẹ là Cố Luân Ôn Trang Trưởng công chúa.
  • Tam tử Sắc Lăng (色楞), mẹ là Trắc Phúc tấn Tư Cẩm.
  • Tứ tử Đồ Môn (圖門,), mẹ là Thứ Phúc tấn Sát Nhật Tùng, qua đời khi cùng A Bố Nại bị giam ở Thịnh Kinh.
  • Ngũ tử Ngạch Nhĩ Đức Ni (額爾德尼), mẹ là Thứ Phúc tấn Cáp Tư, sinh vào khoảng 1669 đến 1670.

Con gái

  • Trưởng nữ Nặc Nhĩ Bố (諾爾布), mẹ là Cố Luân Ôn Trang Trưởng công chúa, sau được Khang Hy gả cho Ô Nhĩ Cung A (烏爾恭阿) thuộc Ba Lâm bộ.
  • Nhị nữ A Lạp Thán (阿喇坦), mẹ là Trắc Phúc tấn A Nhĩ Ban, sau được gả cho người thuộc bộ tộc Tùng Nhĩ Đặc (Sunud).
  • Tam nữ chết yểu, mẹ là Thứ thiếp Mộc Đan.
  • Tứ nữ không rõ tên, một số ghi chép đề cập tên Ô Nhĩ Na (烏爾娜), mẹ là Trắc Phúc tấn A Nhĩ Ban. Gả cho Bác Đệ (博第) thuộc bộ tộc Ông Ngưu Đặc vào năm Khang Hy thứ tư.
  • Ngũ nữ Hải Lan (海蘭), mẹ là Thứ Phúc tấn Sát Nhật Tùng, về sau bị tước bỏ thân phận.
  • Lục nữ Tát Nhân Hoa (薩仁花), chỉ được ghi chép trong dã sử.

Xem thêm

Chú thích

Tham khảo

  • 泰亦赤兀惕·满昌 (2004). 《蒙古族通史(四)》. 辽宁民族出版社.
  • 李鸿彬 (1984). "论康熙平定布尔尼叛乱". 东北地方史研究. Số 1.