Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Thành viên:VuBrain”
Giao diện
Nội dung được xóa Nội dung được thêm vào
←Tẩy trống trang Thẻ: Tẩy trống trang Lùi lại thủ công | |||
| Dòng 1: | Dòng 1: | ||
==[[FULL BỘ DOLLAR RỒNG]]== | |||
* 7 Tiền Minh Mạng - Đại Nam | |||
* 1 Dollar Rồng Quang Tự - Đại Thanh | |||
* 1 Dollar Rồng Phổ Nghi - Đại Thanh | |||
* 5 Yang Cao Tông - Vương triều Joseon | |||
* 1 Dollar Thương mại Minh Trị - Nhật Bản | |||
Nhà Nguyễn được Nguyễn Phúc Ánh thành lập năm 1802 và [[kết thúc năm 1945]], sau khi [[Bảo Đại]] thoái vị. | |||
==📕 THÀNH BANG ATHENS== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#ccf"|[[File:Coat of Arms of Municipality of Athens.svg|70px]] | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|[[Athens cổ điển|Thành bang Athens]]<br>(508 – 322 BC) | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
[[Dân chủ Athena|Nền dân của Thành bang Athens]] được thành lập vào năm 508 TCN dưới thời [[Cleisthenes]] sau khi chế độ chuyên chế của bạo chúa [[Hippias (bạo chúa)|Hippias]] bị người Sparta lật đổ. Hệ thống này vẫn ổn định đáng kể và với một vài lần gián đoạn ngắn ngủi, nó vẫn tồn tại trong 180 năm, cho đến năm 322 TCN (hậu quả của [[Chiến tranh Lamian]]). Đỉnh cao của quyền bá chủ của Athens đạt được vào những năm 440 đến 430 trước Công nguyên, được gọi là [[Athens vào thế kỷ thứ 5 trước công nguyên|Thời đại Pericles]]. | |||
Các [[Mỏ Laurion|mỏ bạc ở Laurion]] đã đóng góp đáng kể vào sự phát triển và thịnh vượng của Athens và ảnh hưởng đến địa–chính trị sâu rộng của cả nền văn minh Hy Lạp, khi người Athens học cách thăm dò, xử lý và tinh chế quặng và sử dụng số tiền thu được để xây dựng một hạm đội lớn, theo sự đề xuất của [[Themistocles]]. Laurion không chỉ chứa bạc, nó còn chứa chì, kẽm và đồng. | |||
* Vào đầu cuộc xâm lược Hy Lạp lần thứ hai của Ba Tư (480–479 TCN), nhà nước '''''Athens đã có trong tay một trăm talent bạc (khoảng 2,6 tấn)'''''. Khoảng 480 TCN, Themistocles đã thuyết phục người dân Athens sử dụng lợi nhuận từ mỏ để xây dựng hạm đội tam triremes (tàu chiến ba tầng chèo). Chính đội hải quân này đã giúp Athens đánh bại người Ba Tư tại trận Salamis và trở thành cường quốc hàng hải. | |||
* Đồng [[Tetradrachm|Tetradrachm Athens]] chủ yếu được đúc từ nguồn bạc của mỏ Laurion '''''từng là đồng tiền quốc tế của thế giới Hy Lạp và Địa Trung Hải cổ đại. Nhờ vào uy tín và chất lượng bạc, nó được chấp nhận rộng rãi trong giao thương, giống như “đô la Mỹ” trong thế giới hiện đại'''''. Được sử dụng để trả lương cho binh lính, công nhân xây dựng đền Parthenon, tài trợ cho chiến tranh và Liên minh Delian. | |||
* Chữ '''ΑΘΕ''' (AOE) ở mặt sau đồng xu – viết tắt của '''ΑΘΗΝΑΙΩΝ''' – nghĩa là '''''“của người Athens”'''''. Nhành olive (biểu tượng hòa bình và Athena). [[Chim Cú]] là biểu tượng thiêng liêng của Athena, '''''tượng trưng cho trí tuệ và quan sát trong bóng tối (kiến thức ẩn sâu)'''''. Kết hợp với nhành olive, hình ảnh này nhấn mạnh sự phồn vinh và minh triết của thành bang. | |||
* Trong gần 300 năm, các mỏ ở Laurion đã '''''cung cấp cho Athens cổ đại và các đồng minh của họ hàng nghìn tấn bạc có độ tinh khiết cao'''''. Tuy nhiên, lượng bạc này không đến từ một địa điểm khai thác cụ thể. Khoảng 700 giếng mỏ cổ đại đã được phát hiện cùng với khoảng 200 trạm chế biến quặng. | |||
* Tại những địa điểm này, quặng bạc đầu tiên được khai thác từ các trục mỏ và được đưa lên bề mặt bằng các thùng chứa bởi những công nhân có nhiều khả năng là nô lệ. Người ta ước tính rằng gần 20.000 nô lệ đã làm việc trong các mỏ và thực hiện nhiều nhiệm vụ khác nhau từ khai thác quặng đến rửa quặng tại các trạm rửa. | |||
* Các dấu vết khảo cổ học cho thấy người Mycenaean (thế kỷ 15–12 TCN) đã biết đến sự tồn tại của bạc ở Laurion, nhưng chỉ khai thác rất sơ khai. Phải đến khoảng 600 TCN, việc khai thác bạc ở Laurion mới trở thành một ngành công nghiệp quy mô lớn và có tổ chức. Chính thức khai thác quy mô lớn: khoảng năm 580–520 TCN. Sau thế kỷ 4 TCN, nguồn bạc bắt đầu cạn kiệt. Thế kỷ 19, Laurion được khai thác lại bởi người Hy Lạp và người Pháp, chủ yếu để lấy chì và kẽm, không còn nhiều bạc như xưa. | |||
* Trong quặng khai thác từ mỏ Laurion (Hy Lạp cổ đại), '''''hàm lượng bạc thường rất thấp''''', chủ yếu ở dạng galena (chì sunfua – PbS), có chứa một lượng bạc vi lượng. Trung bình, '''''quặng galena ở Laurion chứa khoảng: 0,3% đến 1% bạc (tức là khoảng 3 đến 10 gram bạc trên mỗi kg quặng)'''''. Trong một số trường hợp hiếm hoi, hàm lượng bạc có thể lên đến: 2%, nhưng đây là mức cao nhất được ghi nhận và không phổ biến. | |||
Vào năm 499 TCN, Athens đã gửi quân đến hỗ trợ người Hy Lạp ở [[Ionia]] thuộc [[Tiểu Á]], đang [[nổi loạn Ionia|nổi loạn chống lại]] [[Đế quốc Achaemenes]] (Ba Tư). Hành động này đã gây ra hai cuộc xâm lược Hy Lạp của Ba Tư, cả hai đều bị đẩy lùi dưới sự lãnh đạo của các chính khách-lính đánh thuê [[Miltiades của Athens|Miltiades]] và [[Themistocles]] (xem [[Chiến tranh Hy Lạp-Ba Tư]]). | |||
* Vào năm 490, người Athens, do Miltiades lãnh đạo, đã ngăn chặn cuộc xâm lược đầu tiên của người Ba Tư, do vua [[Darius I]] chỉ huy, tại [[Trận Marathon]]. | |||
* Năm 480, người Ba Tư trở lại dưới thời một người cai trị mới, [[Xerxes I]]. Liên minh Hy Lạp do Vua Sparta [[Leonidas I]] lãnh đạo đã chỉ huy 7.000 người giữ lối đi hẹp [[Trận Thermopylae|Thermopylae]] chống lại đội quân 100.000–250.000 người của Xerxes, trong trận chiến đó Leonidas và 300 quân tinh nhuệ Sparta khác đã tử trận. Đồng thời, người Athens đã chỉ huy một trận hải chiến ngoài khơi [[Trận Artemisium|Artemisium]]. | |||
* Người Athens và các đồng minh của họ, do Themistocles lãnh đạo, đã đánh bại hải quân Ba Tư trên biển trong [[Trận Salamis]]. Quyền bá chủ của Sparta đã chuyển sang Athens, và chính Athens đã đưa cuộc chiến đến Tiểu Á. Những chiến thắng đã giúp họ đưa hầu hết vùng Aegean và nhiều vùng khác của Hy Lạp lại với nhau trong [[Liên minh Delian]], một liên minh do người Athens thống trị. | |||
''' Trong [[Chiến tranh Peloponnisos]] (431 - 404)''' là một cuộc chiến giữa các thành bang Hy Lạp cổ đại. [[Liên minh Peloponnisos]] được lãnh đạo bởi thành bang Sparta đã đánh bại [[Liên minh Delos]] do Athens dẫn đầu - Liên minh được đặt tên theo đảo [[Delos]], nơi dùng để cất giữ nguồn bạc của thành Athens. | |||
* Vào mùa hè năm 416 TCN, trong thời gian đình chiến với Sparta, Athens đã xâm lược hòn đảo trung lập Melos và yêu cầu Melos liên minh với họ chống lại Sparta, nếu không sẽ bị tiêu diệt. Người Melia từ chối điều này, vì vậy quân đội Athens đã bao vây thành phố của họ và cuối cùng đã chiếm được nó vào mùa đông. Sau khi thành phố thất thủ, người Athens đã xử tử tất cả những người đàn ông trưởng thành và bán phụ nữ và trẻ em làm nô lệ. | |||
* Trước khi quân Athens ra lệnh tấn công, các tướng lĩnh Athens đã cử người tới thương lượng với người Melos. Trong cuộc thương lượng đó, câu nói '''''“kẻ mạnh làm bất cứ những gì mình có thể, còn kẻ yếu thì phải chấp nhận những gì họ phải chấp nhận”''''' của người Athens đã '''''trở thành một ví dụ kinh điển cho chủ nghĩa hiện thực trong quan hệ quốc tế'''''. Dù đã diễn ra từ hơn 2.000 năm trước, những luận điểm của người Athens và người Melos trong cuộc đối thoại về mối quan hệ giữa nước mạnh và nước yếu, giữa chiến tranh và hòa bình, giữa lựa chọn đồng minh và kẻ thù… vẫn còn hết sức tương thích với hiện thực chính trị quốc tế ngày nay. | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Hy Lạp Cổ phong|HY LẠP CỔ ĐẠI]]<hr>[[Athens cổ điển|Thành bang Athens]]<br>(508 – 322 BC)'''}}||colspan="2"|{{center|[[File:Coat of Arms of Municipality of Athens.svg|center|80px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''.......'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|.........}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:Tetradrachm of Athens 454 BC - 404 BC.jpg|center|700px]]<hr>{{center|'''1 Tetradrachm [[Athena (thần thoại)|Athena]] - (454 - 404 BC)<hr>2.479 năm (2025)'''}}||{{center|<br>454 - 404 BC<hr>'''[[AU]]'''}} || style="background:#ceb"colspan="1"|{{center|'''Đường kính'''<br>[[25,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[?%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[17,04 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[? gr]] <hr>'''Số lượng'''<br>[[?]]<hr>24.663.000<br>[[(948,58$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
|} | |||
==📕 ĐẠI NAM== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#ccf"|[[Tập tin:Heirloom seal of the Nguyễn Dynasty.svg|70px]] | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|HOÀNG TỘC NHÀ NGUYÊN | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
[[File:Nguyen Dynasty, administrative divisions map (1838).svg|thumb|270px|Lãnh thổ Nhà Nguyễn lúc thịnh trị nhất]] | |||
[[Nhà Nguyễn]] là một danh gia vọng tộc ở Gia Miêu ngoại trang, huyện Tống Sơn, phủ Hà Trung, xứ Thanh Hoá. Khởi đầu cho sự hiển hách của gia tộc đến từ đầu thế kỷ XV, dưới thời [[Khởi nghĩa Lam Sơn]]. Ông tổ của gia tộc là [[Nguyễn Công Duẩn]] đã đi theo [[Lê Lợi]] trong suốt cuộc kháng chiến chống Nhà Minh đô hộ. Sau khi [[Nhà Hậu Lê]] được thành lập vào năm 1428, Nguyễn Công Duẫn được xếp vào hàng [[khai quốc công thần]], bang quốc tính "Lê" và chức quan Phụng Trực Đại Phu Đô Đốc thiêm sự, Đô Kiểm Sự và sau được phong đến tước Hoành Quốc công. Con cháu của ông có nhiều người là trụ cột triều đình Hậu Lê, được phong tước Công, tước hầu và dòng nữ có người được sắc phong hoàng hậu của vua [[Lê Thánh Tông]].<hr> | |||
Truy nguồn về xa hơn, thì Nguyễn Công Duẩn là hậu duệ của Định Quốc công [[Nguyễn Bặc]], đứng đầu nhóm khai quốc công thần của [[Nhà Đinh]], vị tướng đã có công giúp vua [[Đinh Tiên Hoàng]] đánh dẹp và chấm dứt [[Loạn 12 sứ quân]] vào năm 968. Sau khi Nhà Đinh thành lập, ông được giữ ghế đứng đầu việc quản lý nội chính, tương đương với chức Tể tướng. <hr> | |||
Nguyễn Bặc là Đức Thái thuỷ tổ của dòng họ '''[[Nguyễn Đại Tông]]''' và [[Nguyễn Trãi]] cũng được xem là phát tích từ dòng họ này. Con của Nguyễn Bặc là [[Nguyễn Đệ]] đã di cư vào làng Gia Miêu, Tống Sơn, Thanh Hoá và đây là nơi phát tích của Hoàng tộc Nhà Nguyễn sau này. ''Nguyễn Phúc tộc thế phả'' của Hoàng tộc Nhà Nguyễn xem Nguyễn Bặc là Thuỷ tổ của mình.<hr> | |||
[[Nguyễn Công Duẩn]] có người anh trai là '''[[Nguyễn Dã]]''', cũng theo phò trợ Lê Lợi từ đầu cuộc Khởi nghĩa Lam Sơn, lập được nhiều chiến công. Sau khi Nhà Hậu Lê thành lập, ông cũng được xếp vào Khai quốc công thần, được phong Đô đốc Phủ Đô Thiêm sự, thời Lê Hiến Tông được phong Dũng Quốc công. Làm quan trải qua 5 triều nhưng về sau không hợp với vua và bị nghi ngờ nên ông đã đưa gia đình sang cư ngụ ở Vân Nam và đổi thành '''họ Ngạc''', dòng họ này hiện có con cháu đông đúc ở Vân Nam.<hr> | |||
{{center|'''[[Các chi nhánh của họ Nguyên công]]'''}} | |||
Nguyễn Công Duẫn có 7 người con trai, trong đó có 5 người được phong tước [[Quốc công]], 1 người được phong [[Quận công]] và 1 người được phong tước Hầu. Bảy người con trai này phát triển thành 7 chi nhánh: | |||
* Chi trưởng '''[[Nguyễn Đức Trung (tướng nhà Lê sơ)|Nguyễn Đức Trung]]''', sau được phong Trình Quốc công. Ông là tổ của '''''họ Nguyễn Hữu''''', sinh được 14 người con, trong đó người con gái thứ 2 là [[Nguyễn Thị Hằng (Hậu Lê)|Nguyễn Thị Hằng]], được đưa vào cung, trở thành chính thất của Vua [[Lê Thánh Tông]] với phong hiệu Trường Lạc Hoàng hậu, '''''bà là mẹ của Vua [[Lê Hiến Tông]] và tổ mẫu của 2 Vua [[Lê Túc Tông]] và [[Lê Uy Mục]]'''''. Thái phó Tĩnh quốc công [[Nguyễn Hữu Dật]] là hậu duệ của ông. | |||
* Chi 2 '''[[Nguyễn Nhân Chính]]''', được phong '''''Mục Quốc công'''''. Ông có 2 người con trai là Nguyễn Đăng Cơ được phong Tuyên Quận công và Nguyễn Đăng Thụ được phong Tống Ban Hầu. | |||
* Chi 3 '''[[Nguyễn Như Hiếu]]''', được phong '''''Châu Quận công'''''. Ông có 4 người con trai là Nguyễn Văn Khiêm (Huyện Thừa), Nguyễn Văn Tiến (Tham Nghị) và Nguyễn Văn Thái (Lang Trung). | |||
* Chi 4 '''[[Nguyễn Như Trác]]''', được phong '''''Phó Quốc công'''''. Ông có một người con trai là Trừng Quốc công [[Nguyễn Văn Lưu]], cha của [[Nguyễn Kim]] - tổ nội của '''''dòng hoàng tộc [[Chúa Nguyễn|Nguyễn Phúc]]''''' và tổ ngoại của vương tộc [[Chúa Trịnh]]. | |||
* Chi 5 '''[[Nguyễn Văn Lỗ]]''', được phong '''''Sảng Quốc công'''''. Ông là tổ của '''''họ Nguyễn Gia''''' (Liễu Ngạn, Bắc Ninh). Ông có 8 người con, gồm có: Nghĩa Quốc công [[Nguyễn Văn Lang]] (cha của An Hoà hầu [[Nguyễn Hoằng Dụ]]); Phượng Quận công Nguyễn Địch Sầm; Bảo Quận công Nguyễn Tiến; Lãm Đống hầu Nguyễn Tốn; Mai Kiến hầu Nguyễn Trụ; Bình Quận công Nguyễn Lý; Dương Sơn hầu Nguyễn Nghiễm; Quỳnh Sơn hầu Nguyễn Lữ và một người con gái là Nguyễn Thị Hoàng, vợ của Trạng nguyên [[Đỗ Tốn]]. Ôn Như hầu [[Nguyễn Gia Thiều]] là hậu duệ của chi này. | |||
* Chí 6 '''[[Nguyễn Văn Lễ]]''', được phong '''''Lỗ Khê Hầu''''', ông có 2 con trai là Nguyễn Đương và Nguyễn Phí. | |||
* Chi 7 '''[[Nguyễn Bá Cao]]''', được phong '''''Phổ Quốc công'''''. Ông là tổ của '''''họ Nguyễn Cửu'''''. Phó tướng [[Nguyễn Cửu Kiều]] là hậu duệ của ông. | |||
<hr> | |||
9 Chúa và 13 Vua Nhà Nguyễn phát tích từ con trai thứ 4 của [[Nguyễn Công Duẩn]] là Phó Quốc công [[Nguyễn Như Trác]]. Ông sinh ra Trừng Quốc công [[Nguyễn Văn Lưu]] và ông Lưu sinh ra '''[[Nguyễn Kim]]''' (1468-1545), thông qua người con trai [[Nguyễn Hoàng]], ông là tổ nội của Các [[Chúa Nguyễn]] và Hoàng đế [[Nhà Nguyễn]], đồng thời, thông qua người con gái [[Nguyễn Thị Ngọc Bảo]], ông cũng trở thành tổ ngoại của các [[Chúa Trịnh]].<hr> | |||
Năm 1527, [[Mạc Đăng Dung]] cướp ngôi Nhà [[Lê sơ]], lập ra [[Nhà Mạc]], Nguyễn Kim lúc đó đang ở Thanh Hoá giữ chức Hữu vệ Điện tiền tướng quân, tước An Thanh hầu, ông đã mang theo gia quyến chạy sang Ai Lao, chúa nước đó là [[Phothisarath]] (Sạ Đẩu) đã cấp cho ông đất Sầm Châu để dựng cờ phục quốc. Năm 1533, Nguyễn Kim và các cựu thần khác của Nhà Lê sơ đã lập người con rơi của Vua [[Lê Chiêu Tông]] là Lê Duy Ninh lên ngôi vua với vương hiệu là [[Lê Trang Tông]], đặt niên hiệu là Nguyên Hoà, chính thức lập ra [[Nhà Lê Trung Hưng]]. Vua Trang tông đã sắc phong Nguyễn Kim làm '''Thượng phụ Thái sư''' tước '''Hưng Quốc công'''. <hr> | |||
Nguyễn Kim thấy Dực Quận công [[Trịnh Kiểm]] tài năng nên đã gã con gái của mình là [[Nguyễn Thị Ngọc Bảo]], con trưởng của họ là [[Trịnh Tùng]], sau này trở thành vị chúa chính thức đầu tiên của họ Trịnh, vì thế Nguyễn Kim là tổ ngoại của [[Chúa Trịnh|Vương triều họ Trịnh]]. Bà Ngọc Bảo chết cháy trong một trận hoả hoạn ở phủ đệ của Trịnh Tùng tại An Trường vào năm 1586. <hr> | |||
Sau khi Nguyễn Kim bị Trung Hậu hầu [[Dương Chấp Nhất]] đầu độc chết bằng dưa hấu vào năm 1545, Vua [[Lê Trang Tông]] phong cho Trịnh Kiểm chức Thái sư của cha vợ, nắm toàn bộ quyền nội chính. Vì sợ con trưởng của Nguyễn Kim là Lãng Quận công [[Nguyễn Uông]] tranh quyền, Trịnh Kiểm đã ám hại ông. Người con thứ là Đoan Quận công [[Nguyễn Hoàng]] xin vào trấn thủ [[Thuận Hóa]] và khởi lập ra Vương triều các [[Chúa Nguyyễn]] với 9 đời chúa, mở mang bờ cõi vào đến tận [[Mũi Cà Mau]].<hr> | |||
{{center|'''[[Liên hôn với các hoàng gia]]'''}} | |||
* '''Hoàng tộc Hậu Lê''': Con gái thứ 2 của Trình Quốc công [[Nguyễn Đức Trung]] là [[Nguyễn Thị Hằng (Hậu Lê)|Nguyễn Thị Hằng]] được đưa vào cung trở thành vợ của vua [[Lê Thánh Tông]] với tước phong là Trường Lạc hoàng hậu, bà là mẹ của Vua [[Lê Hiến Tông]] và tổ mẫu của 2 Vua [[Lê Túc Tông]] và [[Lê Uy Mục]]. | |||
* '''Họ Trịnh''': [[Nguyễn Thị Ngọc Bảo]], con gái của Hưng Quốc công [[Nguyễn Kim]] được gả cho [[Trịnh Kiểm]], con trai của họ là Bình An Vương [[Trịnh Tùng]] trở thành vị Chúa Trịnh đầu tiên. | |||
* '''Vương tộc Chúa Trịnh''': Năm 1600, Chúa [[Nguyễn Hoàng]] gả con gái là [[Công nữ Ngọc Tú]] cho Thế tử [[Trịnh Tráng]], con cả của Trịnh Tùng; Con gái của cặp đôi này là [[Trịnh Thị Ngọc Trúc]] đã trở thành vợ của vua [[Lê Thần Tông]] với phong hiệu Diệu Viên Hoàng hậu. | |||
* '''Hoàng tộc Nhà Mạc''': Dưới thời Chúa [[Nguyễn Hoàng]], ông đã thực hiện liên hôn với Hoàng tộc [[Nhà Mạc]] (lúc này đã suy vị). [[Mạc Thị Giai]], con gái của Khiêm vương [[Mạc Kính Điển]] chạy vào Nam tìm người chú ruột là [[Mạc Cảnh Huống]] để nương nhờ, bà trở thành chính thất của Thế tử [[Nguyễn Phúc Nguyên]] và là mẹ của Chúa [[Nguyễn Phúc Lan]]. | |||
* '''Vương tộc Chân Lạp''': Năm 1620, Chúa [[Nguyễn Phúc Nguyên]] gả con gái của mình là [[Công nữ Ngọc Vạn]] cho Vua Chân Lạp là [[Chey Chettha II]]. | |||
* '''Vương tộc Champa''': Năm 1631, Chúa [[Nguyễn Phúc Nguyên]] gả bà cho Vua [[Po Romê]] của Champa. | |||
* '''Hoàng tộc Lê Trung Hưng''': Sau khi đánh chiếm được Phú Xuân, Nhà Nguyễn được thành lập, vua [[Gia Long]] đã nạp Công chúa [[Lê Ngọc Bình]] làm thiếp, trước đó bà đã nạp làm phi của Cạnh Thịnh đế [[Nguyễn Quang Toản]] của [[Nhà Tây Sơn]]. Ngọc Bình là con gái út của vua [[Lê Hiển Tông]]. Bà sinh cho Vua Gia Long 4 người con: Quảng Uy công [[Nguyễn Phúc Quân]] (không có hậu duệ), Thường Tín Quận vương [[Nguyễn Phúc Cự]] (có 7 con trai và 11 con gái), [[Nguyễn Phúc Ngọc Khuê|Mỹ Khê công chúa Ngọc Khuê]] và [[Nguyễn Phúc Ngọc Ngôn|An Nghĩa công chúa Ngọc Môn]]. | |||
** [[Nguyễn Phúc Ngọc Ngôn|An Nghĩa công chúa Ngọc Môn]] lấy Kiêu kỵ Đô uý [[Lê Văn Yên]], con trai Đô thống chế [[Lê Văn Phong]], cháu gọi Tả quân [[Lê Văn Duyệt]] là bác. Sau vụ án Lê Văn Duyệt năm 1835, con cháu của ông đều bị xử tử hoặc bị đày, Phò mã Lê Văn Yên cũng bị tội chết, hai người con của ông và công chua bị đưa đi an trí ở Cao Bằng. | |||
** [[Nguyễn Phúc Ngọc Khuê|Mỹ Khê Công chúa Ngọc Khuê]] lấy Vệ uý [[Nguyễn Văn Thiện]], con trai thứ 2 của Kinh Môn Quận công [[Nguyễn Văn Nhơn]], họ có với nhau 1 trai và 1 cái. | |||
* '''Công tộc Badoglio''': Năm 1971, con gái đầu lòng của Vua [[Bảo Đại]] và [[Hoàng hậu Nam Phương]] là Công chúa [[Nguyễn Phúc Phương Mai]] đã kết hôn với [[Pietro Badoglio, Công tước thứ 2 xứ Addis Abeba]], ông là cháu nội của [[Pietro Badoglio]], [[Công tước xứ Addis Abeba]] thứ nhất, là thủ tướng thứ 28 của Vương quốc Ý. Hậu duệ của họ là [[Flavio Badoglio, Công tước thứ 3 xứ Addis Abeba]] và Donna Manuela Badoglio dei Duchi di Addis Abeba. | |||
<hr> | |||
{{center|'''Chúa tiên [[Nguyễn Hoàng]], Đoan Quốc công, Tổng trấn tướng quân xứ Thuận - Quảng (1558-1613)'''}} | |||
* Vì sợ anh rể [[Trịnh Kiểm]] ám hại, Nguyễn Hoàng nhờ chị là Ngọc Bảo, xin Trịnh Kiểm cho vào trấn thủ đất Thuận Hoá. Trịnh Kiểm thấy đất ấy vừa mới được bình định, nhưng lòng dân vẫn chưa yên, đất thì cằn cỗi nên ứng thuận. Trịnh Kiểm dâng sớ lên triều đình và vua [[Lê Anh Tông]] đã ban cho Nguyễn Hoàng làm trấn thủ đất ấy vào năm 1558. | |||
* Vào năm 1558, '''[[Nguyễn Hoàng]]''' cùng với nha tướng và hàng nghìn đồng hương than tín Thanh - Nghệ tiến vào đất [[Thuận Hóa]]. Khi đến nơi, đoàn thuyền đã đi vào cửa Việt Yên (nay là Cửa Việt), đóng trại tại Gò Phù Sa, xã Ái Tử, huyện Vũ Xương (nay là huyện [[Triệu Phong]], tỉnh [[Quảng Trị]]) và đã chọn nơi này để lập Thủ Phủ gọi là dinh Ái Tử. | |||
* Năm 1569, Nguyễn Hoàng ra [[Thanh Hóa]] yết kiến Vua [[Lê Anh Tông]], nộp quân lương giúp Nam triều đánh [[Nhà Mạc]], rồi đến phủ Thái sư lạy mừng [[Trịnh Kiểm]]. Trịnh Kiểm hài lòng, phong cho ông trấn thủ luôn đất [[Quảng Nam]], thay cho [[Nguyễn Bá Quýnh]]. Nguyễn Hoàng làm Tổng Trấn Tướng Quân kiêm quản cả xứ Quảng Nam (3 phủ, 9 huyện) và xứ Thuận Hóa (2 phủ, 9 huyện và 3 châu). Lệ mỗi năm phải nộp thuế là 400 cân bạc, 500 tấm lụa. | |||
* Tháng Giêng năm 1592, Trịnh Tùng đánh bại [[Mạc Mậu Hợp]], lấy được Đông Đô, Nguyễn Hoàng ra Bắc yết kiến Vua [[Lê Thế Tông]] (thang 5 năm 1593). Trịnh Tùng, cháu gọi Nguyễn Hoàng là cậu đã dâng biểu xin vua phong cho ông làm Trung quân đô đóc, tước Đoan Quốc công. Sau đó Nguyễn Hoàng ở lại giúp Trịnh Tùng đánh dẹp các cuộc chống đối của họ Mạc và các cuộc phản loạn khác. | |||
* Đến năm 1600, Nguyễn Hoàng đã ở lại Đông Đô được 8 năm, đánh dẹp bốn phương đều thắng, vì có công to, nên họ Trịnh ghen ghét. Tám năm ở lại Đông Đô, 2 người con của Nguyễn Hoàng là công tử thứ 2 tên Hán và công tử thứ 4 tên Diễn chết trận. Gặp lúc tướng nhà Lê là Phan Ngạn, Ngô Đình Nga và Bùi Văn Khuê làm phản ở cửa Đại An (nay thuộc [[Nam Định]]), Nguyễn Hoàng nhân dịp đem quân tiến đánh, liền đem cả tướng sĩ chiến thuyền bản bộ, đi đường biển thẳng về [[Thuận Hóa]], để con thứ năm là Cẩm Quận công [[Nguyễn Hải]] và cháu nội là Nguyễn Hắc ở lại làm con tin. Trịnh Tùng ngờ Nguyễn Hoàng vào chiếm Thanh Hóa, bèn đưa vua Lê chạy về Thanh Hóa, để giữ vững căn bản. Đi đến huyện An Sơn, công tử Hải đón đường nói rằng Nguyễn Hoàng về Thuận Hóa, chỉ nghĩ việc bảo vệ đất đai, thực không có ý khác. Từ đó, Nguyễn Hoàng không ra chầu ngoài kinh nữa, quyết 'rạch đôi sơn hà', lo phát triển cơ sở, mở mang bờ cõi, phòng bị quân Trịnh vào đánh phá. | |||
* Sau sự kiện bỏ về Thuận Hoá, Trịnh Tùng viết thư trách phạt, Nguyễn Hoàng viết thư nhận lỗi, lấy thóc lua, vàng bạc cho sử ra Bắc cống nạp và gả con gái là [[Công nữ Ngọc Tú]] cho [[Trịnh Tráng]], con cả của Trịnh Tùng; Con gái của cặp đôi này là [[Trịnh Thị Ngọc Trúc]] đã trở thành vợ của vua [[Lê Thần Tông]] với phong hiệu Diệu Viên Hoàng hậu. | |||
* Năm 1578, Nguyễn Hoàng sai [[Lương Văn Chánh]] đem quân tiến đến [[Sông Ba|sông Đà Diễn]] (Phú Yên ngày nay) đánh chiếm thành An Nghiệp - một trong những kinh thành đồ sộ và kiên cố nhất trong lịch sử Champa. Năm 1597, Lương Văn Chánh mang theo 4000 lưu dân vào khai khẩn phía Bắc đất Hoa Anh - Kauthara (từ [[đèo Cù Mông]] đến [[đèo Cả]], Phú Yên ngày nay). Năm 1611, do quân Champa liên tục quấy phá vùng đất mới, Nguyễn Hoàng sai tướng [[Văn Phong]] đi đánh dẹp. Vua Po Nit bị đánh bại phải rút quân xuống nam đèo Cả để giữ phần đất còn lại là Bắc [[Kauthara]] và [[Panduranga]] (Khánh Hoà, Ninh Thuận và Bình Thuận ngày nay). Sau đó vùng Hoa Anh được lập thành phủ Phú Yên với 2 huyện Tuy Hòa và Đồng Xuân, giao cho Lương Văn Chánh làm tham tướng. | |||
* Cho đến khi Nguyễn Hoàng qua đời, lãnh thổ [[Đàng Trong]] của các Chúa Nguyễn trải dài từ [[đèo Ngang]] (Hà Tĩnh) đến [[đèo Cả]] (cực Nam tỉnh Phú Yên). Tổng diện tích lãnh thổ 2 xứ Thuận-Quảng rộng khoảng 45.000 km2. | |||
* Nguyễn Hoàng chính là vị quân chủ có tuổi thọ cao nhất trong các vị quân chủ của Việt Nam nếu tính cả vua lẫn chúa (ngài thọ 88 tuổi từ năm 1525-1613), còn nếu chỉ tính vua mà không tính chúa thì vua [[Bảo Đại]] là vị vua có tuổi thọ cao nhất với 84 tuổi từ năm 1913-1997. <hr> | |||
===Minh Mạng=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Trọng lượng | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Việt Nam|ĐẾ CHẾ VIỆT NAM]]<br> (1804 - 1839)<hr>[[Nhà Nguyễn]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Long tinh flag.svg|center|130px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Heirloom seal of the Nguyễn Dynasty.svg|center|82px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="3"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="3"|{{center|'''[[Minh Mạng|Hoàng đế Minh Mạng]]<br>(1820 - 1841)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="3"|{{center|Vị hoàng đế thứ 2 của Nhà Nguyễn}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="3"| | |||
|- | |||
| [[File:7 Tiền Phi Long Minh Mạng 1833.png|center|700px|]]<hr>{{center|'''[[Tiền thưởng triều Nguyễn|7 Tiền Phi long]] - [[Minh Mạng|Minh Mạng năm thứ 14]] - 1833<hr>192 năm (2025)}}||{{center|[[File:Minh Mang.gif|120px]]<br>1832 - 1835<hr>'''[[AU]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[41,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[80%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,27 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[21,816 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[?]]<hr>42.000.000<br>[[(1,729,96$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="3"|<hr> | |||
|} | |||
|} | |||
==📕 ĐẠI TRIỀU TIÊN== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#ccf"|[[Tập tin:Coat of Arms of Joseon Korea.png|70px]] | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|HOÀNG TỘC NHÀ LÝ TRIỀU TIÊN | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
Vương triều Lý của Triều Tiên được thành lập bởi [[Lý Thành Quế]], một vị tướng và quyền thần của Vương quốc [[Cao Ly]]. Năm 1388, Lý thực hiện một cuộc đảo chính lật đổ [[Cao Ly U Vương]] và người kế vị của ông là [[Cao Ly Xương Vương]], sau đó đưa Vương Dao lên ngôi, tức [[Cung Nhượng Vương]]. U Vương và cả Xương Vương đều bị giết chết sau một nỗ lực không thành nhằm giành lại quyền lực đã mất. Cuối cùng, năm 1392, Lý Thành Quế lật đổ Cung Nhượng Vương, đày ông ta đến [[Wonju|Nguyên Châu]] (Wonju) và chiếm lấy ngôi vua, lập ra Vương triều Joseon. | |||
Ban đầu, Lý Thành Quế vẫn tiếp tục dùng tên nước là Cao Ly, tuy nhiên, vị vua mới đã phải đối đầu với qua nhiều cuộc nổi loạn của giới quý tộc, những kẻ quyết tâm khôi phục vương triều họ Vương. Vì vậy, năm 1393, Lý Thành Quế lập ra nhà Triều Tiên (với ý nghĩa hồi sinh lại nhà nước Cổ Triều Tiên 4000 năm trước) và đổi tên của quốc gia thành '''Đại Triều Tiên quốc'''. '''''Ông cũng dời đô về [[Seoul|Hán Thành]] (Seoul), thủ đô hiện nay của [[Hàn Quốc]]'''''. | |||
Khi xin [[Nhà Minh]] sắc phong vào năm 1393, Lý Thành Quế sợ bị từ chối quốc hiệu Triều Tiên, nên đề xuất thêm một tên gọi khác là Hòa Ninh (lấy từ tên trang ấp của cha mình là [[Lý Tử Xuân]]). [[Minh Thái Tổ]] sau khi biết cái tên Triều Tiên có nguồn gốc từ chữ Triều Nhật Tiên Minh (nghĩa là "buổi sáng trong lành") liền quyết định chọn tên Triều Tiên, nhưng chỉ phong Lý Thành Quế là '''''Quyền Tri Triều Tiên Quốc Sự'''''. Mãi đến năm 1401, [[nhà Minh]] mới phong [[Triều Tiên Thái Tông]] là Triều Tiên Quốc Vương. | |||
Giai đoạn đầu của Nhà Joseon tương tự như [[Nhà Tiền Lê]] và [[Nhà Lý]] của Việt Nam hay [[Nhà Thanh|Triều địa Kim-Thanh]] của Trung Quốc, các con của vị vua đầu tiên chém giết lẫn nhau để tranh giành ngai vàng. Điều này đến từ việc chọn người kế vị của Triều Tiên Thái Tổ Lý Thành Quế. Thái tổ đã nghe theo cận thần [[Trịnh Đạo Truyền]], thay vì chọn người con thứ 5, giỏi và có công nhất là [[Triều Tiên Thái tông|Đại quân Lý Phương Viễn]] hoặc 2 người con trưởng là [[Lý Phương Vũ]] và [[Triều Tiên Định Tông|Lý Phương Quả]] thì ông lại chọn người con trai út thứ 8 mà ông yêu thương nhất là Đại quân Lý Phương Thạc (được phong thế tử năm 1392, ngay khi vương triều được thành lập). | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|Những điểm đáng chú ý của Vương triều Joseon | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
Tháng 08 năm 1392, tướng và quyền thần [[Triều Tiên Thái Tổ|Lý Thành Quế]] đã lật đổ [[Cung Nhượng Vương]], vị vua thứ 34 và cuối cùng của [[Cao Ly]] (918 - 1392), kết thúc 474 năm tồn tại của vương triều này. Lý Thành Quế lên ngôi vua, tức Triều Tiên Thái Tổ, chính thức mở ra [[Nhà Triều Tiên|Vương triều Joseon]]. Triều đại này tồn tại làm 2 giai đoạn: Giai đoạn đầu từ kéo dài từ 1392 đến 1897 (505 năm) với tên gọi '''Đại Triều Tiên quốc''' và giai đoạn thứ 2 kéo dài từ 1897 đến 1910 (13 năm) với tên gọi '''[[Đế quốc Đại Hàn]]'''. Tháng 08 năm 1910, [[Triều Tiên Thuần Tông]] bị Đế quốc Nhật Bản dưới mời [[Thiên hoàng Minh Trị]] phế truất, thông qua Điều ước Nhật - Hàn Tịnh hợp, [[Triều Tiên thuộc Nhật|Triều Tiên bị sáp nhập hoàn toàn vào Nhật Bản]]. '''''Triều đại Joseon tồn tại được 518 năm, với 27 đời quân chủ, đây là vương triều cuối cùng trong lịch sử Triều Tiên và cũng là triều đại [[Nho giáo]] tồn tại lâu nhất trong lịch sử thế giới'''''. | |||
'''''Vị quân chủ đầu tiên của Nhà Joseon được Nhà Minh sắc phong Triều Tiên Quốc vương chính là vị vua thứ 3 [[Triều Tiên Thái Tông]] chứ không phải vị vua đầu tiên [[Triều Tiên Thái Tổ]]'''''. Vì Lý Thành Quê là người tiếm ngôi, nên chỉ được [[Minh Thái Tổ]] phong chức '''Quyền Tri Triều Tiên Quốc Sự''', đến tận năm 1401, [[Minh Huệ Đế]] mới sắc phong cho vị vua thứ 3 của Joseon là Tiều Tiên Thái Tông làm Triều Tiên Quốc vương. | |||
Năm 1398, [[Triều Tiên Thái Tổ|Thái Tổ Lý Thành Quế]] sau khi chứng kiến các con trai của mình chém giết lẫn nhau tranh giành ngai vàng, ông đã nhường ngôi lại cho người con còn sống lớn nhất là Đại quân Lý Phương Quả, tức [[Triều Tiên Định Tông]] để trở thành '''''Thượng vương đầu tiên của Nhà Joseon'''''. Năm 1400, vua Định Tông nhường ngôi lại cho em trai là Phương Viễn, tức [[Triều Tiên Thái Tông]] và trở thành Thượng vương, vì thế Thái Tổ Lý Thành Quế trở thành '''''Thái Thượng vương đầu tiên của Nhà Joseon'''''. | |||
Năm 1446, vị vua thứ 4 là [[Triều Tiên Thế Tông]] đã cải cách văn tự, ban hành [[Hangul|chữ cái tượng thanh Chosŏn'gŭl (Hangul)]], bất chấp sự phản đối mạnh mẽ từ phía những Nho sĩ coi trọng truyền thống vốn luôn dùng chữ Hán của Trung Quốc. '''''Nhờ loại văn tự này mà tiếng Hàn/Triều Tiên trở thành một trong những loại ngôn ngữ dễ học nhất thế giới'''''. | |||
'''''Nhà Joseon có 2 vị vua bị phế truất và không được đặt thuỵ hiệu cũng như miếu hiệu sau khi qua đời''''', đó là [[Yên Sơn Quân|Yên Sơn Quân Lý Long]] (1495 - 1506), vị quân chủ thứ 10 và [[Quang Hải Quân|Quang Hải Quân Lý Hồn]] (1608 - 1623), vị quân chủ thứ 15. Yên Sơn Quân bị phế vì ông được xem là vị quân vương tàn bạo nhất trong lịch sử Triều Tiền; trong khi đó Quang Hải Quân bị phế truất vì tầm nhìn vượt thời đại của mình (xa rời Nhà Minh, tiến hành hoà hợp với Mãn Thanh, một thế lực đang hùng mạnh ở Đông Á, bình thường hoá quan hệ với Nhật Bản), khiến cho phái Nho gia oán ghét. '''''Ở Hàn Quốc ngày nay, Quang Hải Quân vẫn được xem là một vị vua vĩ đại và uyên bác, chứ không phải một kẻ chuyên quyền và tàn ác như Yên Sơn Quân'''''. | |||
Trong thời kỳ trị vì của [[Triều Tiên Tuyên Tổ]] (vua thứ 14) vương triều Joseon phải đối mặt với [[Chiến tranh Nhật Bản – Triều Tiên (1592–1598)|cuộc xâm lượt của Nhật Bản]] (1592 - 1598), được tiến hành bởi [[Toyotomi Hideyoshi]]. Dù cuộc xâm lược này thất bại, nhưng đã buộc Tuyên Tổ và triều đình phải bỏ chạy về phía Bắc Bình Nhưỡng, cho đến khi [[Minh Thần Tông]] gửi quân cứu viện sang. Ngày nay, '''''Tuyên Tổ đại vương bị nhận xét là một trong những vị quốc vương bất tài nhất trong lịch sử nhà Triều Tiên, đặc biệt do cách ông đối xử với Đô đốc Lý Thuấn Thần''''', nhân vật mà nhiều người cảm thấy xứng đáng được ưu ái cho chiến thắng liên tiếp chống lại cường địch Nhật Bản. Nhưng thay vào đó, ông lại giáng Đô đốc Lý xuống làm lính cho đến khi mất. | |||
Năm 1636, [[Cuộc xâm lược Triều Tiên lần thứ hai của Mãn Châu|Triều Tiên đầu hàng trước 128.000 quân Mãn Thanh]] chỉ sau 47 ngày, và phải ký kết [[Hòa ước Tam Điền Độ]]. Vị vua thứ 16 là '''''[[Triều Tiên Nhân Tổ]], cởi bỏ long bào, mặc áo xanh của triều thần, đi bộ đến chỗ ngự của hoàng đế Đại Thanh và phải thực hiện nghi thức 3 quỳ 9 lạy (nghi thức [[Kowtow]]) trước [[Hoàng Thái Cực]], điều này trở thành một sự nhục nhã lớn nhất trong lịch sử Triều Tiên'''''. Triều Tiên Nhân Tổ được giới sĩ phu Nho gia đưa lên ngôi sau khi lật đổ vua thứ 15 [[Quang Hải Quân]], vì ông này xa rời Nhà Minh, thực hiện hoà hiếu với người Mãn Thanh. Nếu Quang Hải Quân không bị lật đổ, thì chiến tranh Triều Tiên - Mãn Thanh đã không diễn ra, người Joseon sẽ không chịu sự nhục nhã này. Nhưng giới sĩ phu cũng có lý lẽ của riêng mình, vì trước đó Nhà Minh đã giúp Joseon đánh bại cuộc xâm lược của Nhật Bản, nên với tư tưởng Nho giáo, trọng chữ tín và quân thần nên họ nhớ ơn của Nhà Minh, nên khi Quang Hải Quân có tư tưởng xa rời Nhà Minh, tiến lại gần Mãn Thanh thì ngay lập tức oán ghét nhà vua. | |||
Trước khi rút quân về Mãn Châu, [[Hoàng Thái Cực]] đã cho dựng [[Bia đá Samjeondo]] tên đầy đủ là "Đại Thanh Hoàng đế công đức bi" để đánh dấu Triều đại Joseon thuần phục Đế chế Mãn Thanh. Địa điểm đặt bia được chính phủ Hàn Quốc chỉ định là Địa điểm lịch sử thứ 101 của Hàn Quốc. '''''Đối với người Hàn Quốc, Bia đá Samjeondo là một tấm bia sỉ nhục, đánh dấu một sự kiện nhục nhã trong lịch sử của họ'''''. Hơn 500.000 người Joseon bị bắt làm nô lệ, | |||
[[Triều Tiên Anh Tổ|Triều Tiên Anh Tổ Lý Khâm]] (1724 - 1776), vị quân chủ thứ 21, ông trị vì trong 52 năm và thọ 82 tuổi. '''''Ông là vị vua tại vị lâu nhất và cũng là vua sống thọ nhất của Nhà Joseon'''''. Ông cũng chính là '''''quốc vương đầu tiên chống lại việc truyền bá Công giáo La Mã vào Triều Tiên'''''. | |||
[[Triều Tiên Nhân Tông]] (vua thứ 12), '''''ông chỉ trị vì trong 253 ngày (11/1544 - 8/1545), là vị quân chủ có thời gian trị vì ngắn nhất của vương triều Joseon'''''. Trong suốt thời kì trị vì, ông không tự thân làm gì đáng kể vì người mẹ kế là Văn Định Vương hậu đã nắm quyền nhiếp chính. Việc làm đáng kể của ông là điều tra và minh oan cho [[Triệu Quang Tổ]]. Ông qua đời năm 30 tuổi không để lại người kế vị. | |||
Năm 1834, Lý Hoán lên kế vị ngai vàng sau cái chết của ông nội, tức [[Triều Tiên Hiến Tông]] (vua thứ 24), năm đó ông mới 7 tuổi. Hiến Tông '''''được xem là quân chủ lên kế vị ngai vàng lúc tuổi đời còn trẻ nhất của triều đại Joseon'''''. | |||
Năm 1849, sau khi Triều Tiên Hiến Tông băng hà, Họ Kim của An Đông đã đưa một người họ hàng xa của tông thất Joseon lên ngôi, người này là Lý Biện, tức [[Triều Tiên Triết Tông]], ông này mù chữ và là một ngư dân nghèo sống lưu đầy ở đảo Ganghwa vì tội lỗi phản nghịch của cha ông trước đây (ông là cháu 4 đời của [[Triều Tiên Anh Tổ]], vua thứ 21). '''''Có lẽ ông là vị vua Triều Tiên duy nhất không biết chữ'''''. | |||
Tuy [[Triều Tiên Triết Tông]] có 1 người con trai, nhưng vì được sinh ra bởi một hậu cũng thấp hèn chứ không phải con của [[Triết Nhân Vương hậu]] (người họ Kim An Đông), vì thế mà phái An Đông đã tìm một tôn thất khác để đưa lên ngai vàng sau khi Triết Tông băng hà vào năm 1864. Người được chọn là Lý Hy, tức [[Triều Tiên Cao Tông]], hậu duệ đời thứ 10 của vua [[Triều Tiên Nhân Tổ]] (vua thứ 16). '''''Cao Tông trở thành hậu duệ xa nhất trong lịch sử của tôn thất Triều Tiên được chọn đưa lên ngai vàng'''''. | |||
[[Triều Tiên Cao Tông]] lên ngôi năm 12 tuổi nên cha của ông là [[Hưng Tuyên đại viện quân|Lý Hạ Ứng]] được phong '''Hưng Tuyên đại viện quân''' và trở thành nhiếp chính cho con trai từ năm 1864 đến 1874. Tước hiệu Đại viện quân được dành cho thân phụ của các quốc vương Triều Tiên mà chưa từng làm quốc vương, '''''trong lịch sử Hàn Quốc đã có 3 vị Đại viện quân, nhưng vì sự ảnh hưởng quá lớn của Hưng Tuyên đại viện quân mà cụm từ này thường ám chỉ đến ông'''''. | |||
Sau khi Đế chế Nhật Bản đánh bại Nhà Thanh trong [[Chiến tranh Thanh – Nhật]] (1894 - 1895), Nhà Thanh mất quyền bá chủ đối với Triều Tiên, vì thế năm 1897, '''''Cao Tông đã tuyên bố thành lập [[Đế quốc Đại Hàn|Đại Hàn Đế chế ]] và trở thành hoàng đế đầu tiên của đế chế này'''''. | |||
Năm 1905, Đế chế Nhật Bản đánh bại Đế chế Nga trong [[Chiến tranh Nga-Nhật]], Nhật Bản trở thành bá chủ duy nhất trong khu vực, chính thức tiến hành thúc đẩy việc thuộc địa hoá Triều Tiên. Trong năm đó, Nhật ép Đại Hàn ký [[Hiệp ước Nhật-Triều, 1905]] bất bình đẳng, tước bỏ hoàn toàn quyền ngoại giao của Đại Hàn, tuy 5 bộ trưởng Đại Hàn ký vào văn bản, nhưng riêng Cao Tông, thủ tướng và 2 bộ trưởng khác đã từ chối ký. Sau đó, '''''Cao Tông đã gửi 17 quốc thư đến các nguyên thủ quốc gia đương thời để phản đối hành động của Nhật''''', trong đó có vua [[Edward VII của Anh]], Tổng thống [[Armand Fallières]] của Pháp, Hoàng đế [[Nikolai II của Nga]], Hoàng đế [[Franz Joseph I của Áo]], vua [[Vittorio Emanuele III của Ý]], vua [[Léopold II của Bỉ]], Hoàng đế [[Quang Tự]] của Đại Thanh, '''''riêng quốc thư gửi đến [[Wilhelm II, Hoàng đế Đức]] thì Cao Tông đã đích thân viết bằng tay'''''. Năm 1907, Hoàng đế Cao Tông cử 3 đặc sứ bí mật tới [[Các công ước Den Haag 1899 và 1907|Công ước Hòa bình La Haye]], Hội nghị Hoà bình quốc tế lần thứ hai để phản đối sự bất công của Hiệp ước Eulsa. Nhưng các cường quốc trên thế giới đều từ chối cho phép Đại Hàn tham gia hội nghị. Chính hành động này đã khiến cho người Nhật đã ép vua Cao Tông phải thoái vị vào tháng 7 năm 1907, nhường ngôi lại cho con trai là Lý Thạch, tức [[Triều Tiên Thuần Tông]]. '''''Ông trở thành Thái thượng hoàng duy nhất của Nhà Joseon'''''. | |||
[[Triều Tiên Thuần Tông]] (vua thứ 27) ở ngai vàng chỉ được 3 năm 41 này thì bị Nhật Bản ép phải thoái vị và sáp nhập hoàn toàn lãnh thổ vào Nhật Bản, thông qua Điều ước Nhật Hàn Tịnh hợp ký vào ngày 29 tháng 8 năm 1910, bắt đầu giai đoạn [[Triều Tiên thuộc Nhật]] kéo dài 35 năm (1910 - 1945). Nhà Joseon chấm dứt tồn tại như một triều đại sau 518 năm cầm quyền, trải qua 27 đời quân chủ. | |||
<blockquote> | |||
Chỉ trong vòng 3,5 thập kỷ, Nhật Bản đã hoàn thành thôn tính bán đảo Triều Tiên từ tay Vương triều Joseon. Bắt đầu từ năm 1875, năm [[Thiên hoàng Minh Trị]] thứ 8, Nhật Bản cử [[Biến cố đảo Ganghwa|tàu chiến Un'yō đến uy hiệp đảo Ganghwa]] ở cửa [[Sông Hán (Triều Tiên)|Sông Hán]], sự kiện [[Ngoại giao pháo hạm]] này đã ép Vương triều Joseon phải ký kết hiệp ước bất bình đẳng đầu tiên [[Điều ước Nhật–Triều 1876]]. Sự kiện cuối cùng diễn ra vào năm 1910, với [[Điều ước Nhật Hàn Tịnh hợp]], khiến cho Nhà Joseon mất ngai vàng, toàn bộ Triều Tiên bị xáp nhập vào Đế chế Nhật Bản, bắt đầu 3,5 thập kỷ bị thuộc địa. '''''Điều trùng hợp là, Nhật mất đúng 3,5 thập kỷ để hoàn thành việc chiếm đống Triều Tiên và Triều Tiên cũng mất đúng 3,5 thập kỷ bị Nhật thuộc địa'''''. | |||
</blockquote> | |||
<blockquote>Người Pháp mất 27 năm để nuốt trọn Việt Nam, bắt đầu từ Trận Đà Nẵng năm 1858 của liên quân Pháp - Tây Ban Nha cho đến năm 1885, nếu tính từ năm 1885 đến khi Hiệp ước Geneva được ký thì Pháp đô hộ Việt Nam gần 7 thập kỷ. </blockquote> | |||
===Triều Tiên Cao Tông=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Trọng lượng | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Nhà Triều Tiên|VƯƠNG QUỐC JOSEON]]<br> (1392 - 1897)<hr>[[Nhà Triều Tiên]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Korea (1882–1910).svg|center|130px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of Arms of Joseon Korea.svg|center|85px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="3"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="3"|{{center|'''[[Triều Tiên Cao Tông|Vua Triều Tiên Cao Tông Lý Hy]]<br>(1864 - 1897)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="3"|{{center|Vị vua thứ 26 của Nhà Joseon và Hoàng đế đầu tiên của Đại Hàn Đế chế}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="3"| | |||
|- | |||
| [[File:5 Yang of Yi Hyong - Joseon 1892.png|center|700px|]]<hr>{{center|'''[[Yang Triều Tiên|5 Yang]] - [[Triều Tiên Cao Tông]] - 1892<hr>133 năm (2025)}}||{{center|[[File:고종 어진.jpg|120px]]<br>1892<hr>'''[[AU]]'''}} ||style="background:#ceb"colspan="1"| {{center|'''Đường kính'''<br>[[38,6 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[26,9500 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,255 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[19.923]]<hr>120.000.000<br>[[(4.638,58$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="3"|<hr> | |||
|} | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#fbd"|Triều Tiên Cao Tông Lý Hy | |||
|- | |||
|style="background:LemonChiffon;"| | |||
Ông là con trai của [[Hưng Tuyên đại viện quân|Lý Hạ Ưng]], con trai thứ tư của [[Nam Diên quân]] Lý Cầu (李球), hậu duệ đời thứ 7 của [[Lân Bình Đại Quân]] - con trai thứ ba của [[Triều Tiên Nhân Tổ]] (vua thứ 16 của Joseon). Gia tộc họ Lý của ông được gọi theo nhánh là [[Toàn Châu Lý thị]], rất có thế lực ở [[Jeonju|Toàn Châu]]. Sau khi [[Triều Tiên Triết Tông|Vua Triết Tông]] qua đời mà không có con trai, [[gia tộc Andong Kim]] có ảnh hưởng đã đề cử Lý Hy lên ngôi vào năm 1863, năm đó ông mới '''12 tuổi''' ('''Vua [[Ahmad Shah Qajar]] của Ba Tư lên ngôi năm 12 tuổi sau khi cha ông bị phế truất'''). | |||
Vì còn nhỏ, nên cha của ông là [[Hưng Tuyên đại viện quân]] đã trở thành nhiếp chính vương thay ông trị vì cho đến khi ông được 23 tuổi, mới đứng ra chấp chính. Danh hiệu Đại Viện Quân là danh vị dành cho thân phụ của các Triều Tiên quốc vương mà chưa từng làm Quốc vương, trong lịch sử Hàn Quốc đã có 3 vị Đại viện quân, nhưng vì sự ảnh hưởng quá lớn của Hưng Tuyên đại viện quân mà cụm từ này thường ám chỉ đến ông. | |||
Trong giai đoạn nhiếp chính (1863 - 1874), Hưng Tuyên đại viện quân được biết đến vì sự ảnh hưởng mạnh mẽ trên mọi lĩnh vực của mình, đàn áp tàn bạo Thiên Chúa giáo cũng như với người phương Tây muốn xâm nhập vào lãnh thổ Triều Tiên.<hr> | |||
Lý Hy có miếu hiệu là Cao Tông, là quốc vương thứ 26 của Triều Tiên từ năm 1864 đến năm 1897 (33 năm, 270 ngày), sau đó ông xưng đế, lập ra [[Đế quốc Đại Hàn]] và trở thành hoàng đế đầu tiên của đế chế này từ năm 1897 đến năm 1907 (9 năm 279 ngày). Ông bị người Nhật ép phải thoái vị, nhường ngôi lại cho con trai là [[Triều Tiên Thuần Tông|Thái tử Lý Thạch]] năm 1907. Ông được tôn làm Thái thượng hoàng từ năm 1907 đến năm 1910 (3 năm 40 ngày). Gần 9 năm sau ngày Nhật thôn tính Triều Tiên, Cao Tông qua đời. Ông là vị [[Thái thượng hoàng]] đầu tiên và cũng là duy nhất của nhà Triều Tiên. | |||
Sau khi Nhật Bản đánh bại [[Nhà Thanh|Đế chế Đại Thanh]] trong [[Chiến tranh Thanh – Nhật|Chiến tranh Trung-Nhật lần thứ nhất]] 1894–1895, Đại Thanh đã mất quyền bá chủ đối với Triều Tiên, mà họ đã nắm giữ trong nhiều thế kỷ. Năm 1897, ngay sau khi trở về từ nơi lẩn trốn [[Cuộc lưu đày nội bộ của Cao Tông đến sứ quán Nga|tại phái trú sư Nga ở Seoul]], Cao Tông tuyên bố thành lập [[Đế quốc Đại Hàn|Đế chế Đại Hàn]] độc lập và trở thành hoàng đế đầu tiên của đế chế này. Hành động của Cao Tông đã khiến Nhật Bản tức giận. | |||
Sau khi Nhật Bản đánh bại Nga trong [[Chiến tranh Nga-Nhật]] (1904–1905), cuối cùng Nhật Bản đã trở thành cường quốc duy nhất trong khu vực và đẩy nhanh tốc độ sáp nhập Triều Tiên. Hai tháng sau chiến thắng, Triều Tiên dưới thời Cao Tông đã mất chủ quyền ngoại giao trong '''[[Hiệp ước Nhật-Triều, 1905]]''', được ký bởi [[Năm kẻ phản bội Eulsa|5 bộ trưởng Đại Hàn]]. Cao Tông và thủ tướng của ông đã từ chối ký vào hiệp ước. Hoàng đế đã gửi thư cá nhân tới các nguyên thủ quốc gia lớn đương thời để kêu gọi họ phản đối hiệp ước bất bình đẳng này. Tính đến ngày 21 tháng 2 năm 1908, ông đã gửi 17 bức thư mang dấu ấn hoàng gia của mình tới 8 nguyên thủ quốc gia sau: | |||
* Vua [[Edward VII của Anh|Edward VII]] của Vương quốc Anh | |||
* Tổng thống [[Armand Fallières]] của Pháp | |||
* Hoàng đế [[Nikolai II của Nga|Nicholas II]] của Nga | |||
* Hoàng đế [[Franz Joseph I của Áo|Franz Joseph]] của Áo-Hungary | |||
* Vua [[Vittorio Emanuele III của Ý|Victor Emmanuel III]] của Ý | |||
* Vua [[Leopold II của Bỉ]] | |||
* Hoàng đế [[Quang Tự]] của Đế quốc Đại Thanh | |||
* Hoàng đế [[Wilhelm II, Hoàng đế Đức|Wilhelm II của Đức]], được đích thân Cao Tông viết tay | |||
Năm 1907, Hoàng đế Cao Tông cử 3 đặc sứ bí mật tới [[Các công ước Den Haag 1899 và 1907|Công ước Hòa bình La Haye]], Hội nghị Hoà bình quốc tế lần thứ hai để phản đối sự bất công của Hiệp ước Eulsa. Nhưng các [[cường quốc]] trên thế giới đều từ chối cho phép Đại Hàn tham gia hội nghị. Việc phản đối hiệp ước quyết liệt đã góp phần khiến vua Cao Tông buộc phải [[thoái vị]]. | |||
Cao Tông qua đời vào ngày 21 tháng 1 năm 1919, tại cung điện của mình, trong điều kiện mà khi đó vẫn được coi là đáng ngờ ở Triều Tiên. Nguyên nhân chính thức gây ra cái chết là xuất huyết não nhưng vẫn có tin đồn rằng Cao Tông đã bị Nhật Bản đầu độc. Cái chết của ông là chất xúc tác trực tiếp cho [[Phong trào 1 tháng 3]], từ đó thúc đẩy [[Phong trào độc lập của Triều Tiên|phong trào giành độc lập của Triều Tiên]].<hr> | |||
VIÊN THẾ KHẢI TẠI TRIỀU TIÊN: | |||
* Theo [[Điều ước Nhật–Triều 1876|Hiệp ước Ganghwa]] mà người Triều Tiên ký một cách miễn cưỡng vào năm 1876, Nhật Bản được phép cử phái đoàn ngoại giao đến [[Seoul|Hanseong]] và mở các điểm giao thương ở [[Incheon]] và [[Wonsan]]. Trước tình hình đó, [[Trực Lệ Tổng đốc]] là [[Lý Hồng Chương]], đã phái 3.000 quân Thanh với đầy đủ trang bị tiến vào Triều Tiên. Vua Triều Tiên đề xuất Nhà Thanh giúp họ đào tạo 500 quân về nghệ thuật chiến tranh hiện đại, và '''[[Viên Thế Khải]]''' được bổ nhiệm giữ trọng trách này ở Triều Tiên. | |||
* Sau khi đàn áp cuộc [[đảo chính Gapsin]]. Năm 1885, Viên được bổ nhiệm làm Trú sứ của Đế quốc Đại Thanh tại kinh thành Hanseong. Bề ngoài, chức vụ này ngang bằng với chức vụ đại sứ nhưng trên thực tế, với tư cách là quan chức đứng đầu của thiên triều trên lãnh thổ Triều Tiên nên Viên Thế Khải đã trở thành cố vấn tối cao về mọi chính sách của chính phủ Triều Tiên. | |||
* Trong [[Phong trào nông dân Đông Học]], Viên Thế Khải và Lý Hồng Chương gửi quân vào Triều Tiên để bảo vệ lợi ích của triều đình Joseon và Nhà Thanh, còn Nhật Bản cũng làm như vậy với lý do bảo vệ các điểm giao thương của Nhật Bản. Căng thẳng giữa Nhật Bản và Trung Quốc sôi sục khi Nhật Bản không chịu rút quân và phong tỏa ở [[Vĩ tuyến 38 Bắc|vĩ tuyến 38]]. Lý Hồng Chương muốn bằng mọi giá tránh chiến tranh với Nhật Bản và cố gắng thực hiện điều này bằng cách yêu cầu gây áp lực quốc tế để Nhật Bản rút quân. Nhật Bản từ chối và chiến tranh nổ ra. Viên Thế Khải, bị đưa vào tình thế bất khả kháng, được triệu hồi về Thiên Tân vào tháng 7 năm 1894, trước khi [[Chiến tranh Nhật–Thanh]] chính thức bùng nổ. | |||
* '''''Viên Thế Khải có 3 người vợ lẽ [[người Triều Tiên]]''''', một trong số họ là họ hàng của Công chúa Lee, vợ lẽ của Kim. 15 người con của Viên là con của ba người phụ nữ Triều Tiên này. | |||
|} | |||
|} | |||
==📕 ĐẾ CHẾ ĐẠI THANH== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#ccf"|[[File:Seal of Qing dynasty.svg|70px]] | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|HOÀNG TỘC ÁI TÂN GIÁC LA | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
[[File:Qing Empire circa 1820 EN.svg|thumb|250px|Lãnh thổ rộng nhất của Nhà Thanh]] | |||
[[Ái Tân Giác La]] là một hoàng tộc [[Mãn Châu]] cai trị các triều đại Hậu Kim (1616-1636), [[Nhà Thanh|Đế chế Đại Thanh]] (1636-1912) và [[Mãn Châu Quốc]] (1932-1945). Nó được lập ra bởi [[Nỗ Nhĩ Cáp Xích]] (Nurhaci) như một phần của quá trình tái tổ chức xã hội [[người Nữ Chân]] do ông khởi xướng vào năm 1601. Ông chia [[Giác La thị |Thị tộc Giác La (Gioro)]] ra làm nhiều họ, trong đó, anh em của ông (các con của [[Tháp Khắc Thế]]) sẽ mang họ Ái Tân Giác La (Aisin Gioro). Các dòng họ khác của bộ tộc Giác La bao gồm [[Y Nhĩ Căn Giác La]] (Irgen Gioro), hậu duệ của [[Tống Huy Tông]] và [[Tống Khâm Tông]] thời [[Nhà Kim]]; [[Thư Thư Giác La]] (Susu Gioro); [[Tây Lâm Giác La]] (Sirin Gioro) và một số dòng họ khác. Những người đầu tiên mang họ Ái Tân Giác La chính là Nỗ Nhĩ Cáp Xích và các em của ông, gồm có: [[Mục Nhĩ Cáp Tề]], [[Thư Nhĩ Cáp Tề]], [[Nhã Nhĩ Cáp Tề]] và hai em gái. <hr> | |||
Thuật ngữ "người Mãn Châu" không thể hiện rõ ràng về nguồn gốc mang tính chủng tộc. Vì những người sống tại vùng Mãn Châu do dòng họ Ai Tân Giác La cai trị có sự pha trộn về sắc tộc (gồm cả gốc Hán, Nữ Chân, Triều Tiên...), nhưng toàn bộ dân số đó đã được chỉ định và gọi là "người Mãn Châu" vào năm 1635 dưới thời Đại Hãn [[Hoàng Thái Cực]].<hr> | |||
Từ '''Ái Tân''' (aisin) có nghĩa là vàng trong [[tiếng Mãn]] (điều này lý giải việc một số hậu duệ nhà Thanh sau này đã đổi thành họ Kim), và từ '''Giác La''' (gioro) là tên của một địa danh mà nay là [[Y Lan]] thuộc [[Hắc Long Giang]].<hr> | |||
Người Nhà '''''Ái Tân Giác La xem mình là hậu duệ của [[Bố Khố Ung Thuận]], một chiến binh huyền thoại ở thế kỷ XIII'''''. Nguồn gốc của ông mang tính truyền thuyết, thoe đó: Ba tiên nữ là Ân Cổ Luân, Chính Cổ Luân và Phất Khố Luân, đang tắm tại một hồ nước tên là Bulhūri Omo gần [[Dãy núi Trường Bạch]]. Một con [[chim ác là]] đã đánh rơi một miếng trái cây màu đỏ gần Phất Khố Luân, người đã ăn nó. Sau đó cô có thai Bố Khố Lý Ung Thuận.<hr> | |||
Dưới triều đại nhà Minh, các thành viên của gia tộc Ái Tân Giác La từng là tù trưởng của [[Kiến Châu Nữ Chân]], một trong ba bộ Người Nữ Chân lớn vào thời điểm này. Hai bộ còn lại là [[Dã Nhân Nữ Chân]] và [[Hải Tây Nữ Chân]]. '''''Mỗi bộ sẽ bao ngồn nhiều bộ tộc, trong đó, gia tộc [[Ái Tân Giác La]] thuộc bộ tộc [[Tô Khắc Tố Hộ]] của [[Kiến Châu Nữ Chân]]'''''.<hr> | |||
Dòng dõi của Nỗ Nhĩ Cáp Xích vốn là '''''hậu duệ của Tả vệ chỉ huy sứ Kiến Châu Nữ Chân [[Mang Ca Thiếp Mộc Nhi]] (Möngke Temür), vì thế người Nhà Ái Tân Giác La có trong người hai dòng máu Mông-Mãn'''''. Ông nội ông là [[Giác Xương An]] (Giocangga) được kế thừa chức vụ [Tả vệ chỉ huy sứ Kiến Châu Nữ Chân], cùng với con trai [[Tháp Khắc Thế]], tham gia đội quân địa phương của tổng binh [[Lý Thành Lương]] của [[Nhà Minh]]. Vì thế, gia đình ông rất có uy tín trong bộ tộc. | |||
Vào năm 1912, ngay khi Nhà Thanh xụp đổ, ước tính chỉ khoảng 29.000 người mang họ Ái Tân Giác La. Số lượng này ít hơn rất nhiều so với hoàng tộc Nhà Minh, ngay khi Nhà Minh sụp đổ, ước tính có khoảng 200.000 người mang họ Chu có nguồn gốc từ hoàng tộc. Nhà Minh thường có chi tiêu cho hậu cung lớn hơn các vua Nhà Thanh gấp nhiều lần, điển hình như hoàng đế Vạn Lịch chi tiêu 1 ngày cho hậu cung bằng hoàng đế [[Ung Chính]] chi tiệu cho hậu cung trong 1 năm. | |||
Có 6 thế hệ [[Ái Tân Giác La]] trước triều đại của Hoàng đế [[Thuận Trị]] kể từ ông nội của Nỗ Nhĩ Cáp Xích. Theo ước tính thấp nhất về khả năng sinh sản của tù trưởng bộ lạc, mỗi nam giới sinh ra 5 hậu duệ nam, số lượng của nhà Ái Tân Giác La phải là 3.000 hoặc 3.125 vào đầu thời nhà Thanh. Năm 1660, nhánh cốt lõi của Ái Tân Giác La có 378 người trong khi năm 1915 có 29.292 người.<hr> | |||
Hiện nay, ở Trung Quốc có khoảng 300.000 đến 400.000 người Mãn Châu có họ là Ái Tân Giác La, trong khi 3,8 triệu người khác có họ là Kim (金), dạng Hán hóa phổ biến nhất, được các thành viên cốt cán của gia đình hoàng gia sử dụng, bắt đầu từ [[Kim Hữu Chi|Phổ Nhậm]], con trai của Thuần Thân vương [[Tải Phong]] với tên Kim Hữu Chi. Con số này đưa ra giới hạn trên là 4,2 triệu người có khả năng là hậu duệ theo dòng dõi cha của [[Nỗ Nhĩ Cáp Xích]], nhưng con số này phải được sử dụng thận trọng vì có những nhóm dân tộc không phải người Mãn Châu (đáng chú ý là người Triều Tiên) cũng sử dụng họ Kim. | |||
|- | |||
!style="background-color:#bfc;"|Thống nhất các tộc Nữ Chân và lập ra nước Đại Kim | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
Năm 1582, tướng [[Lý Thành Lương]] của Nhà Minh sợ các bộ lạc Nữ Chân sẽ thống nhất dưới quyền của tộc trưởng Kiến Châu Nữ Chân là [[Giác Xương An]] - ông nội của Nỗ Nhĩ Cáp Xích, nên đã liên kết với [[Ni Kham Ngoại Lan]], thành chủ của Thành Đồ Luân lập kế giết chết cha và ông nội của Nỗ Nhĩ Cáp Xích. Sau khi cha và ông nội chết, Nỗ Nhĩ Cáp Xích đã trở về bộ lạc nắm quyền thủ lĩnh và cho sứ giả đến chất vấn triều Minh tại sao giết hại người nhà của mình. Để xoa dịu sự bất mãn của bộ tộc Tô Khắc Tố Hộ, Minh triều trả lại thi thể của ông và cha của Nỗ Nhĩ Cáp Xích, đồng thời sắc phong cho ông chức Long Hổ tướng quân, hàm Đô đốc thiêm sự. | |||
Nỗ Nhĩ Cáp Xích với danh nghĩ Long Hổ Tướng quân của Nhà Minh đã khởi binh ở [[Hưng Kinh|Hách Đồ A Lạp]] vào năm 1584, tấn công [[Ni Kham Ngoại Lan]] ở thành Đồ Luân và sau khi người này chạy trốn đến lãnh thổ của tướng Lý Thành Lương, Nỗ Nhĩ Cáp Xích đã ép Lý phải giao trả Ni Kham Ngoại Lan cho mình, rồi đem xử tử để tế ông nội và cha. | |||
Sau trận chiến tiêu diệt Ni Kham Ngoại Lan, danh tiếng của Nỗ Nhĩ Cáp Xích trong các bộ lạc Nữ Chân Kiến Châu trở nên vang dội. Với tư cách kế thừa chức vị Tả hữu vệ Chỉ huy sứ Nữ Chân Kiến Châu, Long Hổ tướng quân, Đô đốc Thiêm sự, ông thực hiện nhiều cuộc chinh phạt để thu phục các bộ lạc Kiến Châu khác. Một số bộ lạc khác chấp nhận quy phục. '''''Năm 1588, các bộ lạc Kiến Châu Nữ Chân hầu hết đều dưới quyền lãnh đạo của ông'''''. | |||
Năm 1593, liên minh 9 bộ tộc [[Hải Tây Nữ Chân]] tấn công Kiến Châu Nữ Chân. Tuy nhiên, với tài năng quân sự của mình, Nỗ Nhĩ Cáp Xích đã đánh tan lực lượng liên minh Hải Tây tại trận Gure, tiếp tục củng cố Kiến Châu. Sau đó, trong vòng 10 năm, Nỗ Nhĩ Cáp Xích lần lượt chinh phục các bộ tộc lớn của Hải Tây Nữ Chân. Năm 1599, bộ tộc Cáp Đạt bị tấn công và bị chinh phục năm 1603. Năm 1607, bộ tộc Huy Phát bị chinh phục, và bộ tộc Ô Lạp vào năm 1613. Các bộ tộc nhỏ khác của Hải Tây Nữ Chân và Dã Chân Nữ Chân cũng lần lượt quy phục. Chỉ còn bộ tộc Diệp Hách mãi đến năm 1619 mới hoàn toàn bị khuất phục sau [[Chiến tranh Minh – Thanh|trận Sa Nhĩ Hử]] (Sarhu). | |||
Năm 1599, ông ra lệnh cho văn thần của mình phỏng theo chữ Mông Cổ và áp dụng quy tắc văn tự Nữ Chân cổ để xây dựng lại văn tự Nữ Chân mới. Từ thế kỷ thứ XII, người Nữ Chân đã xây dựng cho mình một dạng văn tự riêng, phỏng theo chữ Khải của người Hán nhưng theo các quy tắc chữ của người Khiết Đan. Tuy nhiên, khi người Mông Cổ tiêu diệt chính quyền Kim quốc, đã buộc người Nữ Chân phải tiến hành đồng hóa với người Mông Cổ nên văn tự Nữ Chân dần bị thất truyền trong 300 năm. Việc thống nhất văn tự một lần nữa đã tạo nên sự thống nhất một lần nữa cho các bộ tộc Nữ Chân, giúp Nỗ Nhĩ Cáp Xích có thể huy động sức mạnh của dân tộc Nữ Chân trở nên hùng mạnh. | |||
Nỗ Nhĩ Cáp Xích tổ chức người Nữ Chân theo Chế độ [[Bát kỳ]], theo đó, mọi người Nữ Chân đều thuộc một trong 8 nhóm bộ lạc, được gọi là các "Kỳ" (gūsa). Mỗi kỳ là tập hợp của các bộ lạc, vừa là các đơn vị quân đội vừa mang tính chất dân sự. Ban đầu, mỗi Kỳ kỳ có 7.500 quân, tổng cộng 8 kỳ có 6 vạn quân. Về sau, thông qua việc chinh phục các bộ lạc, số lượng binh sĩ trong các Kỳ tăng dần lên. Khi Nỗ Nhĩ Cáp Xích đánh thành Ninh Viễn, tổng binh lực quân Bát Kỳ huy động đã lên đến 13 vạn. | |||
* Cứ 300 nam giới được tổ chức thành một [[Ngưu lộc]] (Niru), người đứng đầu được gọi là [[Tá Lĩnh]] (Niru-i Ejen). | |||
* 5 Ngưu lộc tập hợp lại thành [[Giáp lạt]] (Jalan) do một [[Tham Lĩnh]] (Jalan-i Ejen) đứng đầu. | |||
* 5 Giáp lạt tập hợp lại thành một Kỳ (Gusa), chỉ huy của Kỳ là [[Đô thống]] (Gusa Ejen). | |||
* Thông thường, các Gūsa còn được đặt dưới quyền quản lý của các bối lặc (tù trưởng) thân tín của Nỗ Nhĩ Cáp Xích. Các [[Bối lặc]] này được xem là có địa vị cao hơn các bối lặc khác, nên còn được gọi là các [[Hòa thạc Bối lặc]]. | |||
* Nỗ Nhĩ Cáp Xích là thống soái tối cao của Bát Kỳ. Con cháu của ông ta là thủ lĩnh của mỗi một Kỳ. Mỗi Kỳ Chủ phải trực tiếp nghe theo mệnh lệnh của Đại Hãn, quyền lực và địa vị chỉ thấp hơn Đại Hãn mà cao hơn tất cả mọi người. Điều đặc biệt là những vị tướng lãnh đạo dưới trướng của ông không phải theo kiểu cha truyền con nối một cách đương nhiên (mặc dù tất cả đều là con cháu của ông) mà do chính ông bổ nhiệm trên cơ sở tài năng và chiến công. | |||
Bên cạnh việc chinh phục các bộ tộc Nữ Chân, Nỗ Nhĩ Cáp Xích còn mở rộng việc quy phục các bộ tộc Mông Cổ. Bấy giờ, Mông Cổ hoàn toàn tan rã thành các bộ lạc, và thường xuyên bị Nhà Minh đánh phá, dù họ vẫn duy trì danh nghĩa hoàng đế Nguyên. Với tư cách là hậu duệ của Möngke Temür, mang dòng máu Mông - Mãn, cộng với chiến tích chinh phục, Nỗ Nhĩ Cáp Xích dễ dàng được nhiều bộ tộc Mông Cổ quy phục. Năm 1606, ông được người Mông Cổ tôn xưng danh hiệu Kundulun Khan (Côn Đô Luân Hãn). | |||
Năm 1615, [[Lý Thành Lương]] chết. Cả một vùng Liêu Đông, một phần Mông Cổ lọt vào tầm khống chế của ông. '''''Năm 1616, khi 57 tuổi, Nỗ Nhĩ Cáp Xích lên ngôi Đại Hãn ở thành [[Hưng Kinh|Hách Đồ A Lạp]] (nay là [[Tân Tân, Phủ Thuận]], [[Liêu Ninh]]), tuyên bố dựng nước, lấy quốc hiệu Đại Kim, mà sử Trung Quốc gọi là Hậu Kim'''''. Ông cũng tự đặt họ cho mình là Ái Tân Giác La, trong tiếng Nữ Chân cổ có nghĩa là Kim, hàm ý ông kế thừa chính thống đế chế Kim quốc. Từ đây, con cháu trực hệ của ông đều lấy họ Ái Tân Giác La. Ông theo phép Nhà Minh, '''''đặt niên hiệu là Thiên Mệnh'''''. | |||
|- | |||
!style="background-color:#bfc;"|Tấn công Đế chế Đại Minh | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
Năm 1618, Nỗ Nhĩ Cáp Xích ban bố "[[Thất đại hận]]" (Bảy mối hận lớn) làm cớ khởi binh phản Minh. Điều đầu tiên khẳng định thủ phạm giết cha và ông nội ông chính là triều đình [[Nhà Minh]]. Những điều còn lại xoáy vào sự bất bình đẳng, thiên vị của Nhà Minh với bộ tộc [[Diệp Hách]] mà áp bức các bộ tộc Kiến Châu. | |||
Trong vòng 3 tháng, từ tháng 4 đến tháng 7, quân Kiến Châu liên tục công hạ nhiều thành trì ở Liêu Đông như [[Phủ Thuận]], [[Thanh Hà]], [[Đông Châu]]..., khiến quân Minh khiếp sợ, Tổng binh Phủ Thuận là [[Lý Vĩnh Phương]] đầu hàng, Phó tướng Vương Mãng Ân tử trận, Tổng binh Quảng Ninh Trương Thừa Âm, Phó tướng Phó Đình Tương bị giết chết. Đến cuối năm 1618, quân Nữ Chân đã áp sát [[Sơn Hải quan]]. | |||
Đầu năm 1619, vua [[Minh Thần Tông]] vội sai Binh bộ Thị lang [[Dương Cảo]] làm Liêu Đông Kinh lược sứ, chỉ huy đại quân kết hợp với các đồng tộc Nữ Chân và Mông Cổ chống Nỗ Nhĩ Cáp Xích, bao gồm: bộ tộc Diệp Hách, Triều Tiên, xưng là 47 vạn (thực tế là 14 vạn), chia 4 đường đánh dẹp Hậu Kim. Chỉ trong 6 ngày tác chiến, 6 vạn quân Nữ Chân đã đánh tan 14 vạn liên quân Minh - Triều Tiên - Diệp Hách, làm rúng động Minh triều. Danh tiếng Nỗ Nhĩ Cáp Xích vang dội toàn mạn Bắc Trung Hoa. Toàn bộ các bộ tộc Nữ Chân giờ đây hoàn toàn quy phục ông. '''''Trận đánh còn được xem như một trong những trận đánh kinh điển trong nghệ thuật quân sự thế giới khi vận dụng nguyên tắc tập trung binh lực và sức cơ động chiến thuật''''', thể hiện tài năng quân sự của Nỗ Nhĩ Cáp Xích. | |||
* Mùa hạ năm 1618, Triều Tiên nhận được 3 bức thư từ Chỉ huy sứ Liêu Đông Khâu Thản và Chỉ huy sứ Quảng Ninh Uông Khả Thụ yêu cầu chi viện quân lính chống Kim, đại đa số quan viên đề nghị lập tức xuất binh, nhưng Vua [[Quang Hải Quân]] phản đối vì hiểu rõ được thế mạnh của người Mãn Thanh. Quang Hải Quân liên tiếp tìm cớ trì hoãn cho đến khi Hoàng đế Vạn Lịch gửi thư trách cứ thì ông mới miễn cưỡng xuất binh. | |||
* Sau khi liên quân Minh - Triều Tiên bại trận, Nỗ Nhĩ Cáp Xích không có ý định chiến tranh với Triều Tiên nên ông đã thuyết phục Quang Hải Quân giữ thế trung hoà, không ủng hộ phe nào. Nhiều nhà Nho ở Triều Tiên xem hành động bỏ mặt Nhà Minh của Quang Hải Quân là vô ơn, nên đã bất mãn và trở thành một trong những cái cớ quan trọng khiến Quang Hải Quân bị lật đổ sau đó. | |||
* Vị vua mới là [[Triều Tiên Nhân Tổ]] đã tìm cách chống lại người Mãn Châu nên đã bị Hoàng Thái Cực dẫn quân chinh phạt, kết quả là Triều Tiên đã thất bại thảm hại, xin đầu hàng và thuần phục nhục nhã. Hậu thế đã đánh giá cao sự nhạy bén của Quang Hải Quân và chê bai Triều Tiên Nhân Tổ trong chiến lược ngoại giao với người Mãn Châu. | |||
Thừa thế chiến thắng, quân Bát kỳ nhanh chóng tiến xuống phía Nam, chiếm luôn Khai Nguyên, Thiết Lăng. Năm 1621, quân Bát kỳ tiếp tục đánh chiếm Liêu Dương, Trung Trấn, Thẩm Dương, khống chế toàn bộ vùng đất phía đông Liên Hà. Cũng trong năm này, Nỗ Nhĩ Cáp Xích thiên đô về [[Liêu Dương]] và đổi tên thành Thịnh Kinh, với mục đích khống chế vùng Liêu Đông. Năm 1622, Nỗ Nhĩ Cáp Xích đánh bại đội quân của Kinh lược Liêu Đông Phùng Đình Bản và Tuần phủ Liêu Đông Vương Hóa Trinh, chiếm giữ trọng trấn Liêu Tây là Quảng Ninh. | |||
Sau 1 năm nghỉ ngơi chỉnh đốn, tháng 1 năm 1626, Nỗ Nhĩ Cáp Xích dẫn 13 vạn kỵ binh tiến công Sơn Hải quan. Nhưng ngờ có tướng [[Viên Sùng Hoán]] tài năng nên quân Minh đã đánh bại quân Kim, Nỗ Nhĩ Cáp Xích cũng bị thương trong trận này. Do lao lực và uất ức, chỉ 3 tháng sau [[trận Ninh Viễn]], ông đã qua đời ở tuổi 68, sau được con cháu truy tôn là Thanh Thái tổ. | |||
Nỗ Nhĩ Cáp Xích có 16 hoàng nam và 8 hoàng nữ, sau cái chết của ông, các con cái của ông đã cốt nhục tương tàng để tranh giành quyền lực, cuối cùng thì người con trai thứ 8 là [[Hoàng Thái Cực]] đã chiến thắng và lên ngôi Đại Hãn vào 20 tháng 10 năm 1626. | |||
|- | |||
!style="background-color:#bfc;"|Lập ra nhà Thanh - chinh phục Triều Tiên và Mông Cổ | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
Sau khi lên nối ngôi, [[Hoàng Thái Cực]] đã thay đổi nhiều chính sách quan trọng, góp phần hóa giải được mối mâu thuẫn giữa hai dân tộc Mãn và Hán, khiến thần dân của Hán tộc trong khu vực cai trị của họ dần dần thay đổi thái độ thù địch để phục tùng triều đình một cách tự nguyện. Cũng qua những chính sách cởi mở đó đã giúp cho ông nhận được sự góp sức của nhiều nhân tài có xuất thân khác nhau. Chính Hoàng Thái Cực đã đổi tên của tộc người của mình từ Nữ Chân thành Mãn Châu năm 1635, đồng thời đổi tên quốc hiệu từ nhà [[Hậu Kim|Đại Kim quốc]] thành [[Nhà Thanh|Đại Thanh quốc]] vào năm 1636, sau khi xưng Hoàng đế. | |||
Dưới sự thống lĩnh của ông, nhà Hậu Kim và là Nhà Thanh sau đó đã chinh phục [[Bán đảo Triều Tiên]]. '''''Năm 1636, Triều Tiên đầu hàng và ký kết [[Hòa ước Tam Điền Độ]], Vua [[Triều Tiên Nhân Tổ]] đã phải quỳ lạy tới 9 lần trước [[Hoàng Thái Cực]]''''', Triều Tiên quốc phải quy phục [[Nhà Thanh]]. Điều này trở thành một '''''sự nhục nhã lớn nhất trong lịch sử Triều Tiên'''''. Hai người con trai lớn nhất của Nhân Tổ phải sang kinh đô Mãn Châu làm con tin, đến năm 1646 mới được thả về. | |||
Tiếp đến, trong một loạt những chiến dịch quân sự, ông đã khuất phục được vùng [[Nội Mông]] trước khi tiếp tục chiếm quyền kiểm soát vùng [[Hắc Long Giang]] (sông Amur) miền Đông Bắc của Nhà Minh. Hoàng Thái Cực đã hợp nhất lãnh thổ Mãn Châu dưới quyền cai trị của ông và đến năm 1644, triều đại nhà Minh kết thúc và chuyển sang nhà Thanh sau khi người Mãn Châu chiếm được Bắc Kinh và chinh phục phần còn lại của Trung Quốc trong vòng 40 năm và thống trị nước này đến năm 1912. | |||
Mặc dù Hoàng Thái Cực đã qua đời vào năm 1643, không thể thấy được người Mãn Châu vượt Sơn Hải quan để tiến vào Trung Nguyên, nhưng chính thành tựu của ông và cha là Nỗ Nhĩ Cáp Xích đã giúp [[Ái Tân Giác La]] trở thành một triều đại cại trị Trung Quốc trong suốt 268 năm với 10 vị Hoàng đế, nếu tính cả Hoàng Thái Cực và Nổ Nhĩ Cáp Xích thì có tổng cộng 12 đời quân chủ. | |||
|- | |||
!style="background-color:#bfc;"|Tiến vào Trung Nguyên và cai trị Trung Quốc | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
[[Hoàng Thái Cực]] qua đời đột ngột vào năm 1643, ông không để lại di chúc nhường ngôi nên đã xảy ra một cuộc xung đột quyền kế vị giữa các em trai của Hoàng Thái Cực với các con ruột của ông. Hội đồng Nghị chính Vương đại thần được triệu tập, [[Đa Nhĩ Cổn]] cùng các vương đã thống nhất đưa người con trai thứ 8 của Hoàng Thái Cực là [[Thuận Trị|Phúc Lâm]] lên ngôi, lúc đó mới 6 tuổi, lấy niên hiệu Thuận Trị. [[Đa Nhĩ Cổn]] và [[Tế Nhĩ Cáp Lãng]] trở thành nhiếp chính cho tiểu hoàng đế. Tuy nhiên, do Tế Nhĩ Cáp Lãng chỉ đơn thuần là một vị tướng giỏi chứ không am hiểu về chính trị, nên quyền hành dường như nằm hoàn toàn trong tay của Đa Nhĩ Cổn. | |||
Đầu năm 1644, Đa Nhĩ Cổn và các cộng sự bàn kế xâm lược [[nhà Minh|Đại Minh]], giữa lúc cuộc khởi nghĩa nông dân sắp đánh vào Bắc Kinh. Ngày 24 tháng 4 năm đó, lãnh tụ quân khởi nghĩa là [[Lý Tự Thành]] chiếm được kinh thành, [[Sùng Trinh Đế|Sùng Trinh hoàng đế]] tự vẫn trên núi Môi Sơn phía sau [[Cố Cung (Bắc Kinh)|Tử Cấm Thành]]. Nhận được tin tức, các mưu thần người Hán của Đa Nhĩ Cổn là [[Hồng Thừa Trù]] và [[Phạm Văn Trình]] khuyên ông nên chớp cơ hội để tiến vào Trung Quốc và đoạt lấy [[Thiên mệnh]] về cho [[nhà Thanh]]. Tướng trấn thủ Sơn Hải Quan là [[Ngô Tam Quế]] đã quy phục Nhà Thanh, Đa Nhĩ Cổn đã đưa quân xâm nhập thành công vào Trung Nguyên, mở đường cho việc Nhà Thanh cai trị Trung Quốc trong 286 năm. | |||
Đa Nhĩ Cổn cho dời đô của Nhà Thanh về Bắc Kinh, cho tổ chức các khoa thi nho học để tuyển người Hán ra làm quan, cho các tướng Hán đi đánh dẹp các cuộc khởi nghĩa nông dân và Nhà Nam Minh. Tháng 2 năm 1645, quân Thanh chiếm được [[Tây An]] của Lý Tự Thành, tháng 4 năm 1645, quân Thanh mở chiến dịch thu phục vùng Giang Nam (phía Nam sông Dương Tử). Sau khi [[Đa Đạc]] hạ lệnh [[Mười ngày Dương Châu|đồ sát toàn bộ dân chúng ở thành Dương Châu]] vì kháng cự quá quyết liệt... kể từ đó các thành khác ở Giang Nam rất sợ quân Thanh và thường mở cửa đầu hàng chứ không kháng cự. | |||
Tháng 7 năm 1645, sau khi chinh phạt hầu hết đất Giang Nam, Đa Nhĩ Cổn ban lệnh cho tất cả đàn ông Trung Quốc phải cạo nửa đầu và thắt phần tóc còn lại thành đuôi sam theo như phong tục của người Mãn Châu. Chính lệnh này đã khiến cho các vùng chưa chinh phục ở Giang Nam kháng cự quyết liệt với quân Thanh, điển hình như Thành [[Giang Âm]] cố thủ trong 83 ngày trước 10.000 quân Thanh, sau khi thành thất thủ, cựu tướng Minh là [[Lưu Lương Tá]] đã giết dường như toàn bộ người trong thành, ước tính từ 74.000-100.000 người. | |||
Năm 1662, [[Chu Do Lang]] bị phản tướng Ngô Tam Quế bắt giết, ông là vị hoàng đế người Hán cuối cùng trong lịch sử, cái chết của ông đã chính thức chấm dứt sự kháng cự của Nhà Nam Minh. | |||
<hr> | |||
{{center|'''[[Khang - Càn thịnh thế]]'''}} | |||
* Ngày 2 tháng 2 năm 1661, [[Thuận Trị]] mắc bệnh [[đậu mùa]], chỉ sau 3 ngày thì hoàng đế băng hà. Người con trai thứ 3 của Thuận Trị là Huyền Diệp được đưa lên kế vị tức Hoàng đế [[Khang Hi]], lúc đó ông mới 7 tuổi (ông cũng mắc bệnh đậu mùa nhưng đã qua khỏi, có lẽ chính vì điều này mà ông được chọn làm người thừa kế). Hội đồng nhiếp chính gồm 4 vị phụ chính đại thần: [[Ngao Bái]], [[Sách Ni]], [[Át Tất Long]] và [[Tô Khắc Tát Cáp]]. Khang Hi trở thành vị hoàng đế tại vị lâu nhất trong lịch sử Trung Quốc, với 61 năm 318 ngày, ông qua đời ở tuổi 68. Về võ công, Khang Hi đã thực hiện 3. bước đi quan trọng, bao gồm: Diệt trừ Ngao Bái, dẹp [[loạn Tam Vương]], chiếm đảo Đài Loan. Dưới thời trị vì của ông, lãnh thổ Trung Quốc chưa từng có thời kỳ nào rộng lớn như thế, kỷ lục này sẽ được phá vỡ dưới thời trị vị của cháu nội ông là Hoàng đế [[Càn Long]]. | |||
'''[[Gia - Đạo trung suy]]''' | |||
'''[[Suy vong và xụp đổ]]''' | |||
'''[[Xưng đế và lập ra Đại Thanh tiến vào Trung Nguyên]]:''' | |||
'''[[Số lượng người thuộc hoàng tộc Ái Tân Giác La]]:''' | |||
===Quang Tự=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Tỷ lệ | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Nhà Thanh|ĐẾ CHẾ ĐẠI THANH]]<br/> (1644 - 1912)<hr>[[Ái Tân Giác La|Triều đại Ái Tân Giác La]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of China (1889–1912).svg|center|133px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Seal of Qing dynasty.svg|center|90px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="3"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="3"|{{center|'''[[Quang Tự|Hoàng đế Quang Tự]]<br>(1875 - 1908)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="3"|{{center|Vị hoàng đế thứ 11 và áp chót của Nhà Thanh}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="3"| | |||
|- | |||
| [[File:1 yuan Guanxu - Kian Nan 1904.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 yuan [[Quang Tự|Hoàng đế Quang Tự]]_[[Tỉnh Giang Nam]] - 1904<hr>121 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Emperor Guangxu.jpg|120px]]<br>1899 - 1905<hr>'''[[AU|AU-50]]'''}} || style="background:#ceb"colspan="1"|{{center|'''Đường kính'''<br>[[39,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[26,9 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,21 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[44.725.000]]<hr>13.000.000<br>[[(535,8$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="3"| | |||
|- | |||
| [[File:1 Đô la Quang Tự, Hồ Bắc.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 yuan [[Quang Tự|Hoàng đế Quang Tự]]_[[Tỉnh Hồ Bắc]] (1895 - 1907)'''}}||{{center|[[File:Emperor Guangxu.jpg|120px]]<br>1895 - 1907<hr>'''[[XF]]'''}} ||style="background:#ceb"colspan="1"|{{center|'''Đường kính'''<br>[[40,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[26,7 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,03 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[19.935.000]]<hr>11.500.000<br>[[(500,0$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="3"|<hr/> | |||
|} | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#fbd"|QUANG TỰ ĐẾ | |||
|- | |||
|style="background:LemonChiffon;"| | |||
[[Tập tin:Guangxu Emperor-Style Machu Ruler.jpg|thumb|200px|Hoàng đế Quang Tự và các cận thần]] | |||
'''[[Chiến tranh Nhật-Thanh|Chiến tranh Thanh-Nhật lần 1]]''' và '''[[Hiệp ước Shimonoseki|Hòa ước Mã Quang]]'''; '''[[Bách nhật duy tân]]'''; '''[[Chiến tranh Pháp-Thanh]]''' và '''[[Hòa ước Thiên Tân (1885)|Hòa ước Thiên Tân]]'''; '''[[Phong trào Nghĩa Hòa đoàn]]''' và '''[[Hiệp ước Tân Sửu]]'''; Công ước cho Anh thuê Tân Giới; Hiệp ước nhượng lại Macao cho BĐN | |||
'''Quang Tự đế Ái Tân Giác La Tải Điểm''' (1871 - 1908), là vị Hoàng đế thứ 11 của [[Nhà Thanh]], tại vị từ năm 1875 đến năm 1908. Tuy nhiên, sau khi [[Bách nhật duy tân]] thất bại vào năm 1898, ông bị [[Từ Hy Thái hậu]] giam lỏng tại [[Di Hòa viên]] cho đến khi bị ám hại vào năm 1908. Người ta cho rằng chính Từ Hy Thái Hậu đã ra lệnh cho [[Dịch Khuông|Khánh Mật Thân vương Dịch Khuông]] và [[Viên Thế Khải]] đầu độc nhà vua. Từ Hy chỉ qua đời sau Quang Tự đúng một ngày.<hr> | |||
Ông là trai của Thuần Hiền Thân vương [[Dịch Hoàn]] (1840-1891), em cùng cha khác mẹ với [[Hàm Phong|Hàm Phong đế Ái Tân Giác La Dịch Trữ]] (1831-1861), và là con trai thứ 7 của [[Đạo Quang|Đạo Quang đế Ái Tân Giác La Miên Ninh]] (1782-1850). Mẹ của ông là [[Uyển Trinh|Diệp Hách Na Lạp Uyển Trinh]] (1841-1896), em gái của Từ Hy Thái Hậu, vì thế ông vừa gọi Từ Hy là bác dâu, vừa là dì ruột, vì thế Hoàng đế [[Đồng Trị]] vừa là đường huynh, vừa là biểu huynh. Quang Tự gọi Hoàng đế [[Đạo Quang]] là ông nội, gọi vua [[Gia Khánh]] (1760-1820) là ông cố và gọi Hoàng đế [[Càn Long]] là ông sơ (cao tổ phụ); Cha của Hoàng đế [[Phổ Nghi]], Nhiếp chính vương [[Tái Phong]] là em cùng cha khác mẹ với Quang Tự, vì thế<hr> | |||
Ngày 1 tháng 6 năm 1875, vua [[Đồng Trị]], con trai duy nhất của Từ Hy Thái hậu và vua Hàm Phong qua đời mà không để lại người thừa tự, [[Từ An Thái hậu]] (1837-1881) và Từ Hy Thái Hậu đã quyết định đưa Tải Điểm vào cung làm con nối nghiệp của vua Hàm Phong đế. Ông lên ngôi vua với niên hiệu Quang Tự, khi đó ông mới 4 tuổi (giống trường hợp của Vua [[Louis XIV của Pháp]]). Ngày 20 tháng 1 năm 1876, ông chính thức đăng quang tại [[Điện Thái Hòa (Bắc Kinh)|Thái Hòa điện]]. Có thông tin cho rằng, ngày từ khi vào cung, Quang Tự đế đã bị Từ Hy Thái hậu ngược đãi, hơi chút là quát tháo. Tuy nhiên, một số ý kiến khác thì cho rằng Từ Hy rất quan tâm và yêu thương ông. <hr> | |||
Dưới thời trị vì của ông, [[Chiến tranh Nhật-Thanh]] (1894-1895) nổ ra, Nhà Thanh đã phải chịu thất bại trước một nước Nhật nhỏ bé. [[Hiệp ước Shimonoseki|Hòa ước Mã Quan]] ký ngày 17 tháng 4 1895 theo đó nhà Thanh công nhận sự độc lập hoàn toàn của Triều Tiên, nhượng lại [[bán đảo Liêu Đông]] (ngày nay là phía Nam tỉnh Liêu Ninh) cho Nhật Bản "vĩnh viễn". Thêm vào đó, Thanh phải trả cho Nhật Bản 200 triệu lượng bạc (tương đương 7.500 tấn bạc - 3,6 tỷ yen) bồi thường chiến phí trong vòng 7 năm. Nhà Thanh cũng ký hiệp ước thương mại cho phép tàu của Nhật tiến vào sông Trường Giang, mở các nhà máy gia công ở các cảng theo điều ước và mở thêm bốn bến cảng nữa cho ngoại thương. Tuy vậy, các nước phương Tây đã can thiệp buộc Nhật phải từ bỏ bán đảo [[Liêu Đông]] để đổi lấy 30 triệu lạng bạc (450 triệu yen). Tổng số tiền mà Nhà Thanh phải trả cho Nhật là 230 triệu lạng bạc, tương đương 5 tỷ USD theo thời gia 2015. Số tiền này tương đương với 6,4 lần thu ngân sách của Nhật và 1/3 tổng thu của Nhà Thanh. Thiên hoàng Minh Trị đã dùng 3,04 tỷ yen cho quân đội, 20 triệu yen còn lại được sung vào ngân khố hoàng gia.<hr> | |||
Sau khi [[Chiến tranh Pháp-Thanh]] (1884-1885) kết thúc, [[Lưu Vĩnh Phúc]] phụng mệnh vua Quang Tự trở về Trung Quốc, ông phải bỏ lại quân Cờ đen. Tại Quảng Châu được giao làm tổng binh. Tại đây ông thường cùng [[Hoàng Phi Hồng]] tập luyện võ thuật. Năm 1894, khi xảy ra cuộc chiến tranh Trung-Nhật lần thứ nhất (Giáp Ngọ chiến tranh) được nhà Thanh phái tới Đài Loan làm tổng binh. Năm 1895, sau khi nhà Thanh ký hòa ước Mã Quan (hòa ước Shimonoseki) thì nhân dân Đài Loan không cam chịu sự thống trị của người Nhật đã tổ chức kháng chiến và thành lập ra nhà nước [[Đài Loan Dân Chủ Quốc]], Lưu Vĩnh Phúc nhậm chức đại tướng quân. Năm Quang Tự thứ 28 (1902), Lưu Vĩnh Phúc nhậm chức Tứ thạch trấn tổng binh tại Quảng Đông. Sau [[Cách mạng Tân Hợi]] (1911), giữ chức Tổng trưởng dân đoàn Quảng Đông. Năm 1915, chính quyền Nhật Bản yêu cầu Viên Thế Khải chấp nhận [[21 yêu sách]], Lưu Vĩnh Phúc là một trong những người chủ chiến. Tháng 1 năm 1917, ông mắc bệnh mà chết.<hr> | |||
Sau thất bại trong [[Chiến tranh Pháp-Thanh]], triều đình vua Quang Tự phải ký [[Hòa ước Thiên Tân (1885)]], theo đó Nhà Thanh phải rút khỏi Bắc Kỳ và công nhận nền bảo hộ của Pháp với Việt Nam. Cũng theo đó thì Hòa ước này chấm dứt lệ triều cống của triều đình Huế ở địa vị phiên quốc đối với nhà Thanh.<hr> | |||
Ngày 9 tháng 6 năm 1898, triều đình Quang Tự đã ký với Vương quốc Anh [[Công ước mở rộng lãnh thổ Hồng Kông]], còn được gọi là Công ước Bắc Kinh lần thứ 2. Theo đó, Nhà Thanh phải cho Anh thuê [[Tân Giới]] và phía Bắc Cửu Long, bao gồm 235 hòn đảo trong 99 năm. Sau công ước này, [[Hồng Kông thuộc Anh]] giữ nguyên lãnh thổ cho đến khi nó được trao trả cho Trung Quốc vào năm 1997.<hr> | |||
Ngày 1 tháng 12 năm 1887, triều đình Quang Tự ký kết với triều đình vua [[Luís I của Bồ Đào Nha]] (1861-1889) [[Hiệp ước Bắc Kinh Trung-Bồ]]. Hiệp ước này trao cho Bồ Đào Nha quyền thuộc địa vĩnh viễn đối với [[Ma Cao]] với điều kiện Bồ Đào Nha sẽ hợp tác trong các nỗ lực chấm dứt nạn buôn lậu thuốc phiện. Trước đó, nó được cho Bồ Đào Nha thuê vào năm 1557, dưới thời [[Minh Mục Tông|Minh Mục Tông Chu Tái Kỵ]] (1567-1572) như một trạm giao dịch để đổi lấy khoản tiền thuê tượng trưng hàng năm là 500 lạng. Mặc dù vẫn nằm dưới chủ quyền và thẩm quyền của Trung Quốc, người Bồ Đào Nha đã coi và quản lý Ma Cao như một thuộc địa trên thực tế.<hr> | |||
Năm Quang Tự thứ 24 (1898), Từ Hy Thái hậu ban cho Dịch Khuông "Thế tập võng thế", trở thành vị [[Thiết mạo tử vương]] thứ 12 và cũng là cuối cùng của Nhà Thanh. Nhiều nguồn đã cho rằng, chính ông và Viên Thế Khải đã nhận ý chỉ của Từ Hy để hạ độc chết vua Quang Tự vào năm 1908.<hr> | |||
Ngày 02/11/1899, dưới triều vua Quang Tự, tại miền Bắc Trung Quốc diễn ra [[Phong trào Nghĩa Hòa Đoàn]], Khẩu hiệu hành động của tổ chức này là "phù Thanh diệt Dương" nghĩa là "ủng hộ Thanh triều, tiêu diệt người Tây". Họ đã giết hại hàng nghìn người, phần lớn là người nước ngoài. Chính quyền của Từ Hy Thái hậu tỏ ra bất lực đối với phong trào này cho đến khi [[Liên quân tám nước]] gửi 2 vạn quân tới giải cứu các toà lãnh sự đang bị quân Nghĩa Hòa đoàn bao vay. Liên quân đánh bại quân chính quy Nhà Thanh, chiếm Bắc Kinh ngày 14/8, giải vây khu lãnh sự, tiếp đó liên quân cướp phá và hành quyết các tù binh Nghĩa Hoà đoàn.<hr> | |||
Sau khi thất bại trước Liên quân tám nước trong sự kiện Nghĩa Hòa đoàn, chính quyền Quang Tự đã bị ép ký kết [[Hiệp ước Tân Sửu]] (1901), còn gọi là Nghị định thư Bắc Kinh hay Boxer Protocol. Phía Trung Quốc coi đây là một trong những Hiệp ước bất bình đẳng mà nhà Thanh ký kết sau Chiến tranh nha phiến lần thứ nhất và là hiệp ước đem lại nhiều tổn thất nhất cho Trung Quốc cả về vật chất lẫn quyền lực của nhà nước và thể diện quốc gia. Nhà Thanh phải bồi thường 450 triệu lạng bạc (khoảng 18.000 tấn, trị giá khoảng 333 triệu USD hoặc 67 triệu bảng Anh theo tỷ giá hối đoái thời đó), sẽ được trả dưới dạng tiền bồi thường trong 39 năm cho tám quốc gia liên quan với lãi suất 4% trên năm. Sau 39 năm, số tiền đã lên tới gần 1 tỷ lạng (982.238) hoặc (37.000 tấn). Trong đó, Nga nhận được 28,97%, Đức 20,02%, Pháp 15,75%, Anh 11,25%, Nhật Bản 7,73%, Mỹ 7,32%, Ý 7,32... Điều ước đã cho phép các nước đế quốc được đặt tuyến đường sắt từ Bắc Kinh tới Sơn Hải Quan và binh lính thuộc các sứ quán được đóng quân ở Bắc Kinh, phá hủy pháo đài Đại Cô và pháo đài nằm giữa Bắc Kinh và Thiên Tân. Trung Quốc đã trả 668.661.220 lạng bạc từ năm 1901 đến năm 1939 – tương đương khoảng 61 tỷ đô la Mỹ vào năm 2010 theo cơ sở sức mua tương đương. | |||
|} | |||
===Phổ Nghi=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Tỷ lệ | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Nhà Thanh|ĐẾ CHẾ ĐẠI THANH]]<br/> (1644 - 1912)<hr>[[Ái Tân Giác La|Triều đại Ái Tân Giác La]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of China (1889–1912).svg|center|133px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Seal of Qing dynasty.svg|center|90px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="3"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="3"|{{center|'''[[Phổ Nghi|Tuyên Thống Đế]]<br>(1908 - 1912)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="3"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="3"|{{center|Vị hoàng đế thứ 12 và cuối cùng của Nhà Thanh}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="3"| | |||
|- | |||
| [[File:1 dragon dollar Qing dynasty - 1911XF.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 yuan/Dragon dollar [[Phổ Nghi|Tuyên Thống năm thứ 3]] - 1911<hr> 114 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Xuantong.jpg|120px]]<br>1911<hr/>'''[[XF|XF<small>-cleaned<small/>]]'''}} || style="background:#ceb"colspan="1"|{{center|'''Đường kính'''<br>[[39,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[26,9 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,21 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[75.609.000]]<hr>34.050.000<br>[[(1.400$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="3"| | |||
|- | |||
| [[File:1 yuan-Dragon dollar of Qing dynasty - Phổ Nghi 3 - 1911.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 yuan/Dragon dollar [[Phổ Nghi|Tuyên Thống năm thứ 3]] - 1911'''}}||{{center|[[File:Xuantong.jpg|120px]]<br>1911<hr/>'''[[VF|VF<small>-cleaned<small/>]]'''}} || style="background:#ceb"colspan="1"|{{center|'''Đường kính'''<br>[[39,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[26,9 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,21 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[30.000.000]]<hr>30.000.000<br>[[(1.200$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="3"|<hr/> | |||
|} | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#fbd"|PHỔ NGHI | |||
|- | |||
|style="background:LemonChiffon;"| | |||
[[Phổ Nghi|Ái Tân Giác la Phổ Nghi]] (1906-1967) là hoàng đế thứ 12 và cuối cùng của [[Nhà Thanh]] (1908-1912), và là Hoàng đế duy nhất của [[Mãn Châu quốc|Đại Mãn Châu Đế quốc]] (1934-1945). Ông là con trai của [[Tải Phong|Thuần hiền Thân vương Tải Phong]] (1883-1951), vì thế ông gọi hoàng đế tiềm nhiệm [[Quang Tự]] (1875-1908) là bác, gọi Thuần hiền Thân vương [[Dịch Hoàn]] là ông nội, gọi hoàng đế [[Đạo Quang]] (1820-1850) là ông cố và hoàng đế [[Gia Khánh]] (1876-1820) là ông sơ, vì thế là hậu duệ đời thứ 5 của Hoàng đế [[Càn Long]]. Cha của ông là em cùng cha khác mẹ với hoàng đế Quang Tự, vì Quang Tự trở thành hoàng đế nên cha ông mới được tập tước Thuần hiền thân vương. Dòng máu của cha ông không thuần chủng Mãn châu, vì bà ngoại của ông là Trắc phục tấn Lưu Giai thị Thuý Nghiêm - một người Hán, vốn là con gái của một vị quang nhỏ, tước ngũ phẩm. | |||
Hoàng đế Quang Tự qua đời chỉ trước [[Từ Hy Thái hậu]] đúng 1 ngày, vì thế Phổ Nghi được chọn lên ngôi kế vị Quang Tự trong lúc Từ Hy đang hấp hối, lúc đó Phổ Nghi chỉ mới '''''2 tuổi (tính tuổi mụ là 3 tuổi)'''''. Từ Hy qua đời vào buổi trưa ngày 15/11/1908, các quan chức triều đình đã theo di mệnh của Từ Hi Thái hậu, đem đến nhà và đưa Phổ Nghi đi. Khi ấy, Phổ Nghi đã khóc và chống cự khi các quan triều đình ra lệnh cho các thái giám bế ông lên. Bà vú em của Phổ Nghi là Vương Tiều thị, khi ấy là người duy nhất có thể dỗ được ông và do đó được theo vào Tử Cấm Thành. Phổ Nghi sau đó không được gặp mẹ mình trong 6 năm. Theo di chiếu của Từ Hi Thái hậu, cha ruột của Phổ Nghi là [[Tái Phong]] được mệnh làm Đại Thanh Nhiếp chính vương, quản lý tất cả sự vụ trong triều đình đến khi Phổ Nghi trưởng thành. Và dù không có thân thích gì, Phổ Nghi vẫn phải tôn Hoàng hậu của [[Quang Tự|Quang Tự Đế]] là Na Lạp thị làm [[Long Dụ Hoàng thái hậu]] và gọi bà là ["Kiêm thiêu Mẫu hậu"], do Phổ Nghi đã là con của cả Quang Tự Đế và Đồng Trị Đế. | |||
Trước áp lực của dư luận, cũng như bị lừa gạt từ [[Viên Thế Khải]], Long Dụ Thái hậu đã ký '''''Thanh đế thoái vị chiếu thư''''' (清帝退位詔書) vào ngày 12 tháng 2 năm 1912. Sau [[Cách mạng Tân Hợi]], theo một thỏa thuận do Viên Thế Khải làm môi giới trung gian với Triều đình ở Bắc Kinh và những người Cộng hòa ở Nam Trung Hoa, thì các "Điều kiện ưu đãi của Hoàng đế nhà Thanh" (清帝退位優待條件) ký với Trung Hoa Dân Quốc mới đã được thông qua và chấp thuận, Phổ Nghi được giữ lại tước vị Hoàng đế và được chính quyền Cộng hòa đối xử với danh nghĩa như một Hoàng đế ngoại quốc sống ở Trung Hoa Dân Quốc. '''''Điều này tương tự như [[Luật Bảo đảm]] của [[Vương quốc Ý]] năm 1870 ban cho [[Giáo hoàng Piô IX]] một số đặc quyền và danh dự nhất định như đối với Vua Ý.''''' Phổ Nghi và triều đình được phép ở lại trong [[Tử Cấm Thành]], các cung điện riêng như Dưỡng Tâm điện cũng như được ở lại trong [[Di Hoà Viên]], hằng năm Chính phủ Cộng Hoà sẽ trợ cấp cho hoàng gia 4 triệu lượng bạc, nhưng cuối cùng thì chính phủ dân quốc đã không giữ đúng cam kết, đơn phương huỷ bỏ cam kết. | |||
Năm 1917, quân phiệt [[Trương Huân (tướng đuôi sam)|Trương Huân]] vốn là người trung thành với nhà Thanh nên '''''đã phục hồi đế vị cho Phổ Nghi trong 12 ngày, từ ngày 1 tháng 7 đến 12 tháng 7 năm ấy'''''. Những công dân nam của Bắc Kinh lúc đó đã phải nhanh chóng đội tóc đuôi sam giả để tránh bị phạt do đã cắt bỏ chúng vào năm 1912. '''''Trong 12 ngày này, một quả bom nhỏ đã được một máy bay của quân Cộng hòa Trung Hoa thả xuống Tử Cấm Thành và gây ra hư hại nhỏ. Sự kiện này được xem như cuộc không kích đầu tiên ở Đông Á'''''. Sự phục hồi đế vị này đã thất bại do làn sóng phản đối khắp Trung Hoa và một sự can thiệp đúng lúc của một quân phiệt khác là [[Đoàn Kỳ Thụy]]. Giữa tháng 7 năm ấy, quân Trương Huân thất bại, các đường phố Bắc Kinh đã tràn ngập các đuôi sam giả đã bị các chủ nhân của nó nhanh chóng vứt đi cũng như chúng được vội vã mua để đội lên đầu vậy.<hr> | |||
Tháng 10 năm 1924, Phổ Nghi bị chính phủ Trung Hoa Dân Quốc do quân phiệt [[Phùng Ngọc Tường]] đã đơn phương xé bỏ cam kết đãi ngộ cho hoàng gia Nhà Thanh mà chính phủ cách mạng trước đó đã ký, gây sức ép buộc phải rời khỏi Tử Cấm Thành. Ngày 5 tháng 11 năm đó, gia đình Phổ Nghi đã chính thức rời khỏi Tử Cấm Thành, đem theo [[Uyển Dung]] và [[Văn Tú]]. Họ sống như những người dân thường trong xã hội tại một ngôi làng ở Thiên Tân, nơi đã chịu sự quản lý bởi Nhật Bản. Phổ Nghi từ đó đổi tên thành '''''Phổ Hạo Nhiên'''''. | |||
Năm 1928, quân phiệt [[Tôn Điện Anh]] đã đem quân vào khu vực lăng tẩm Nhà Thanh ở Sơn Đông, quật mộ của [[Càn Long|Càn Long Đế]] và [[Từ Hi Thái hậu]]. Chỉ có lăng của [[Khang Hi|Khang Hi Đế]] là còn tương đối toàn vẹn, vì khi cậy mở được cửa lăng thì một khối nước màu vàng khè từ bên trong tuôn tràn ra rất mạnh, quân sĩ sợ hãi quá phải bỏ chạy. Ông Johnston, thầy dạy tiếng Anh của Phổ Nghi kể lại: '''''["Chỉ qua một vài ngày Phổ Nghi đã già đi rất nhiều. Chỉ những ai hiểu lòng tôn thờ tổ tiên của người Trung Hoa và người Mãn Châu mới hiểu nỗi đau đớn của Phổ Nghi"]'''''. Sau đó. Phổ Nghi gửi một điện văn cho Tưởng Giới Thạch và yêu cầu trừng trị những kẻ xâm phạm các lăng tẩm. Tưởng sau đó liền cho mở một cuộc điều tra, nhưng cuối cùng cũng ỉm đi luôn. Chính phủ Cộng hoà cũng không gửi một lời chia buồn đến cho Phổ Nghi. Biến cố này càng khiến Phổ Nghi nung nấu quyết tâm khôi phục ngai vàng nhà Mãn Thanh bằng bất cứ giá nào, cho dù có phải nhờ vào sự trợ giúp của Đế quốc Nhật Bản - kẻ thù của nước Trung Hoa khi đó.<hr> | |||
Ngày 1 tháng 3 năm 1932, '''''Phổ Nghi đã được Nhật Bản dựng lên làm Quốc trưởng [[Mãn Châu Quốc]]''''', một vị trí bị nhiều nhà sử học coi là nhà nước bù nhìn của Đế quốc Nhật Bản, dưới niên hiệu là Đại Đồng. Năm 1934, '''''Phổ Nghi đã chính thức đăng quang Hoàng đế Đại Mãn Châu Đế quốc với niên hiệu Khang Đức'''''. Ông vẫn bí mật luôn ở thế xung đột với Nhật Bản nhưng bên ngoài vẫn tỏ ra phục tùng. Ông không hài lòng khi trở thành Quốc trưởng Mãn Châu Quốc và sau đó là Hoàng đế Đại Mãn Châu Đế quốc thay vì được phục hồi hoàn toàn làm Hoàng đế Đại Thanh. Em trai Phổ Nghi là [[Phổ Kiệt]] cưới Hiro Saga, một người bà con xa với Nhật Hoàng Hirohito và được phong làm Hoàng tự (người kế vị). | |||
Khi kết thúc Chiến tranh thế giới thứ hai, Phổ Nghi bị Hồng quân Liên Xô bắt năm 1945. Ông được đưa sang Liên Xô và sống ở Siberia, ban đầu ở Chita, sau đó được chuyển về [[Khabarovsk]] Ông đã làm chứng tại một phiên tòa tội ác chiến tranh tại Tokyo năm 1946. Tại phiên tòa này, ông đã kể lể những ngược đãi của Nhật Bản đối với mình. Khi Đảng Cộng sản Trung Quốc dưới sự lãnh đạo của [[Mao Trạch Đông]] lên nắm quyền năm 1949, Phổ Nghi đã viết thư cho Stalin đề nghị không đưa ông trở lại Trung Quốc, nhưng cuối cùng ông cũng bị trả về Trung Quốc.<hr> | |||
Do tội danh bắt tay với quân Nhật, Phổ Nghi phải trải qua 10 năm trong trại cải tạo [[Phủ Thuận]], tỉnh Liêu Ninh cho đến khi được tuyên bố là đã được cải tạo xong. Phổ Nghi đến Bắc Kinh năm 1959, với sự cho phép đặc biệt từ Chủ tịch [[Mao Trạch Đông]] và đã sống 6 tháng tiếp theo trong một căn hộ bình thường ở Bắc Kinh với em gái của mình trước khi bị chuyển đến một khách sạn do Chính phủ tài trợ. Ông lên tiếng ủng hộ những người Cộng sản và làm việc tại Vườn thực vật Bắc Kinh. Ông đã kết hôn với một y tá tên là [[Lý Thục Hiền]] ngày 30 tháng 4 năm 1962 bằng một lễ kết hôn tổ chức tại Phòng Khánh tiết của Đại lễ đường. | |||
Sau đó, Phổ Nghi được bổ nhiệm làm Ủy viên Ủy ban Văn sử, [[Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân Trung Quốc]] gọi tắt là Chính hiệp, đến năm 1964 là Ủy viên Chính Hiệp, nơi ông được trả lương khoảng 100 tệ. Với sự cổ vũ của Mao và sau đó là Thủ tướng [[Chu Ân Lai]] và được Chính phủ công khai tán thành, Phổ Nghi đã viết tự truyện [[Từ Hoàng đế đến thường dân|Nửa cuộc đời trước đây của tôi]] (bản dịch tiếng Anh có tên From Emperor to Citizen - Từ Hoàng đế đến Thường dân) vào thập niên 1960 cùng với Lý Văn Đạt, một biên tập viên của Cục Xuất bản Nhân dân Bắc Kinh. | |||
Mao Trạch Đông bắt đầu tiến hành [[Cách mạng Văn hóa]] năm 1966, và các [[Hồng vệ binh]] xem Phổ Nghi, một biểu tượng của chế độ phong kiến Trung Hoa là một mục tiêu dễ tấn công. Tuy nhiên Phổ Nghi vẫn được bảo vệ bởi lực lượng công an địa phương dù khẩu phần ăn, các vật dụng sang trọng như bàn và ghế bành đã bị cắt bỏ. Khi về già, Phổ Nghi đã chịu ảnh hưởng về mặt thể chất và tình cảm. | |||
Ông đã qua đời ở Bắc Kinh do biến chứng của [[ung thư thận]] và [[bệnh tim]] năm 1967 trong thời kỳ Cách mạng Văn hóa. Theo luật Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, xác ông được hỏa táng thay vì mai táng như tổ tiên của ông. Tro của ông được chôn tại [[Nghĩa trang cách mạng Bát Bảo Sơn]], nơi chôn cất các quan chức của đảng và nhà nước Trung Quốc. Trước khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thành lập, đây là nơi chôn cất các nàng hầu trong các cung phủ và các thái giám. Năm 1995, bà quả phụ Lý Thục Hiền đã di chuyển tro của ông đến [[Thanh Tây lăng]] cách Bắc Kinh 120 km về phía Tây Nam.<hr> | |||
Phổ Nghi cho rằng, [[Viên Thế Khải]] đã bắt tay với chính phủ cách mạng không phải để lật đổ chế độ quân chủ ở Trung Quốc, mà ông ấy có âm mưu riêng, được chia ra làm 3 bước: | |||
* Ép Phổ Nghi thoái vị để bản thân được trở thành Đại tổng thống của Trung Hoa dân quốc như theo thoả thuận với Tôn Dật Tiên. | |||
* Thực hiện các đãi ngộ với Phổ Nghi và hoàng gia để Phổ Nghi giữ Tử Cấm thành cho ông ấy, thu xếp gả con gái của mình cho Phổ Nghi. | |||
* Chời cơ hội thích hợp, Viên Thế Khải sẽ xưng đế và tái lập lại chế độ quân chủ, nhưng lúc này nó sẽ thuộc về họ Viên chứ không phải họ Ái Tân Giác La. | |||
Viên Thế Khải đã xưng đế vào năm 1915, (12 tháng 12 năm 1915 – 22 tháng 3 năm 1916) nhưng chỉ được 101 ngày thì phải thoái vị vì bị phản đối quyết liệt từ tất cả các phe cánh và người dân. | |||
|} | |||
|} | |||
==📕 ĐẾ CHẾ NHẬT== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#ccf"|[[Tập tin:Imperial Seal of Japan.svg|70px]] | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|HOÀNG TỘC YAMATO | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
[[File:Japanese Empire (orthographic projection).svg|thumb|250px|Lãnh thổ thịnh trị nhất của Đế chế Nhật]] | |||
Nhà Yamato của Nhật Bản là Triều đại thừa tập lâu dài nhất trong lịch sử thế giới vẫn còn tồn tại đến tận ngày nay. Hoàng thất công nhận '''''126 vị Thiên hoàng chính thống''''' kể từ Thiên hoàng đầu tiên là [[Thiên hoàng Jimmu|Thần Vũ (Jimmu)]] bắt đầu vào ngày 11 tháng 2 năm 660 TCN cho đến đương kim Thiên hoàng [[Naruhito|Lệnh Hoà (Naruhito)]], '''''tính đến năm 2025, Hoàng tộc Yamato đã làm quân chủ Nhật Bản trong 2.684 năm'''''.<hr> | |||
Tuy nhiên, các học giả đã đồng ý rằng không có bằng chứng nào về sự tồn tại của Thiên hoàng Jimmu, câu chuyện truyền thống về sự thành lập của gia đình hoàng gia là huyền thoại, và Jimmu là một nhân vật huyền thoại. Bằng chứng lịch sử về 25 vị hoàng đế đầu tiên là rất ít, và họ được coi là huyền thoại, nhưng có đủ bằng chứng về một dòng dõi nam thừa kế ngai vàng không bị gián đoạn kể từ đầu thế kỷ thứ VI cho đến ngày nay. Về mặt lịch sử, các vị thiên hoàng có thể xác minh được của Nhật Bản bắt đầu từ năm 539 với [[Thiên hoàng Kimmei|Thiên hoàng Khâm Minh (Kinmei)]], vị thiên hoàng thứ 29. '''''Nếu chỉ tính từ Thiên hoàng Kinmei thì Nhật Bản đã trải qua 1.486 năm với 97 thiên hoàng'''''.<hr> | |||
Trong lịch sử [[Nhật Bản]], ngai vàng thường chỉ được truyền cho dòng nam của Hoàng thất. Trước thời [[Minh Trị Duy tân]], '''''lịch sử Nhật có 8 nữ Thiên Hoàng, tất cả đều là Hoàng nữ trong Hoàng thất''''', không một ai kế vị với tư cách là vợ của vua đã mất, cũng như không có bất cứ vị nữ Thiên Hoàng nào kết hôn hoặc sinh con sau khi lên ngôi (để tránh nguy cơ ngai vàng chuyển sang dòng họ khác). Sau khi nữ Thiên Hoàng thoái vị hoặc qua đời, ngai vàng sẽ được trao lại cho một thành viên nam trong hoàng tộc.<hr> | |||
{{center|'''[[Các chi nhánh hoàng gia]]'''}} | |||
Trong khi dòng chính của triều đại không có tên và được gọi là [[Hoàng thất Nhật Bản|Kōshitsu (hoàng thất)]], có những chi nhánh thuộc dòng nam đã tách ra trong suốt nhiều thế kỷ và nhận được họ riêng để phân biệt với dòng chính. Họ được coi là một phần của hoàng gia (Kōzoku), với các thành viên mang phong cách ''[[Kính ngữ hoàng gia|Imperial Highness]]'', cho đến khi luật thay đổi vào năm 1947. '''''Các nhánh quan trọng nhất là ''[[Shinnōke]]'' trong đó nhánh cao cấp nhất [[Phục Kiến cung|Fushimi-no-miya]] (Phục Kiến cung) đứng đầu trong thứ tự kế vị'''''. Từ nhánh Fushimi, các nhánh phụ tách ra, bao gồm các gia tộc [[Cửu Nhĩ cung|Kuni-no-miya]] (Cửu Nhĩ cung), [[Kaya-no-miya]], [[Asaka-no-miya]], [[Higashikuni-no-miya]] và [[Takeda-no-miya]] tính đến năm 2024. Ngoài ra, còn có các nhánh được tạo ra từ những người con trai của hoàng đế bị loại khỏi dòng dõi kế vị và bị giáng xuống hàng ngũ quý tộc triều đình ([[kuge]]) hoặc [[Samurai]] (buke). Những gia tộc như vậy là [[Gia tộc Minamoto|Minamoto]] (còn được gọi là Genji), [[Gia tộc Taira|Taira]] (còn được gọi là Heishi) và [[Gia tộc Abe|Abe]], cũng như thông qua thông gia như [[Gia tộc Tachibana]] chẳng hạn. Trong số những gia tộc này, các nhánh khác tách ra thông qua dòng dõi nam giới cũng được coi là gia đình quý tộc Nhật Bản. Do đó, dòng dõi hậu duệ nam giới trực tiếp hợp pháp của thiên hoàng rất nhiều.<hr> | |||
{{center|'''[[Tài sản hoàng gia]]'''}} | |||
'''''Chế độ quân chủ Nhật Bản được coi là một trong những chế độ giàu có nhất thế giới cho đến khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc'''''. Trước năm 1911, không có sự phân biệt giữa các điền trang của Hoàng gia và tài sản cá nhân của Thiên hoàng. Khi Luật Tài sản Hoàng gia được ban hành vào tháng 1 năm 1911, hai loại đã được thiết lập, cụ thể là tài sản thừa kế (điền trang của hoàng gia) và tài sản cá nhân của Hoàng gia. | |||
* Cho đến năm 1921, Khu điền trang của Hoàng gia bao gồm 450.227,18 ha. Năm 1921, do tình hình kinh tế khó khăn ở Nhật Bản, 117.059,07 ha đất của hoàng gia (chiếm 26%) đã được bán hoặc chuyển nhượng cho chính phủ Nhật Bản và khu vực tư nhân. Năm 1930, Cung điện Nagoya ([[Lâu đài Nagoya]]) đã được tặng cho thành phố [[Nagoya]] và 6 biệt thự hoàng gia khác đã được bán hoặc tặng.[23] Năm 1939, [[Lâu đài Nijō]] đã được tặng cho thành phố [[Kyoto]]. Dinh thự cũ của Mạc phủ Tokugawa ở Kyoto, nơi đã trở thành cung điện hoàng gia trong thời kỳ Duy tân Minh Trị, đã được tặng cho thành phố Kyoto. | |||
* Vào cuối năm 1935, Triều đình Đế quốc sở hữu 1.259.368 ha điền trang. Trong số đó, có 1.052.000 halà đất tư nhân của Thiên hoàng. Tổng diện tích đất đai nắm giữ của các điền trang hoàng gia là 207.264 ha. Bao gồm các khu phức hợp cung điện, đất rừng và đất nông nghiệp cùng các bất động sản dân cư và thương mại khác. '''''Tổng giá trị kinh tế của các bất động sản Đế quốc ước tính là 650 triệu Yên vào năm 1935, tương đương khoảng 195 triệu đô la Mỹ theo tỷ giá hối đoái hiện hành và là 19,9 tỷ đô la tính đến năm 2017'''''. | |||
* Sau [[Thế chiến II]], tất cả 11 nhánh phụ của Hoàng gia đều bị bãi bỏ trong thời kỳ Đồng minh chiếm đóng Nhật Bản, và các cải cách hiến pháp tiếp theo được áp dụng dưới sự giám sát của Đồng minh đã buộc các gia đình đó phải bán tài sản của họ cho các chủ sở hữu tư nhân hoặc chính phủ. Số lượng nhân viên của [[Cơ quan nội chính Hoàng gia Nhật Bản]] đã bị cắt giảm từ khoảng 6000 xuống còn khoảng 1000. Các điền trang Hoàng gia và tài sản cá nhân của Nhật hoàng (khi đó ước tính là 17,15 triệu đô la vào năm 1946, hoặc khoảng 270,70 triệu đô la vào năm 2023) đã được chuyển giao cho sở hữu nhà nước hoặc tư nhân, ngoại trừ 2.760 ha đất đai. | |||
* Tài sản của hoàng gia đã giảm thêm kể từ năm 1947 sau nhiều lần bàn giao cho chính phủ. Khi Thiên hoàng Shōwa qua đời, ông để lại khối tài sản cá nhân trị giá 11 triệu bảng Anh vào năm 1989. Năm 2017, Thiên hoàng Akihito có giá trị tài sản ròng ước tính là 40 triệu đô la Mỹ. | |||
<hr> | |||
{{center|'''[[Chi tiêu cho hoàng gia]]'''}} | |||
* Gia đình Hoàng gia Nhật Bản có đội ngũ nhân viên hơn 1.000 người (47 người hầu cho mỗi thành viên hoàng gia). Thiên hoàng có 4 bác sĩ trực 24 giờ một ngày, năm người quản lý tủ quần áo của ngài và 11 người hỗ trợ các nghi lễ Thần đạo. | |||
* Cung điện Hoàng gia ở Tokyo có 160 người hầu bảo trì. Điều này một phần là do các quy tắc phân định, chẳng hạn như người hầu gái lau bàn không được lau sàn. Ngoài ra còn có những người quản lý riêng phụ trách xử lý đồ bạc và pha lê. Cung điện Hoàng gia Kyoto có đội ngũ nhân viên gồm 78 người. Ngoài ra còn có 67 người chăm sóc ngựa tại trang trại Tochigi. Có rất nhiều nhân viên bổ sung cho các cung điện mùa hè ở bãi biển và trên núi. | |||
* Các bất động sản của Hoàng gia bao gồm một trang trại rộng 622 mẫu Anh (252 ha) cung cấp nông sản và thịt cho Hoàng gia. Chi phí trang trại là 3 triệu bảng Anh mỗi năm tính đến năm 2003; Thiên hoàng và gia đình ông có hóa đơn tiền nước hàng tháng khoảng 50.000 bảng Anh, tính đến năm 2003. | |||
* Lực lượng Cận vệ Hoàng gia là lực lượng cảnh sát đặc biệt gồm hơn 900 người, bảo vệ cá nhân cho Thiên hoàng và các thành viên khác của Hoàng gia, bao gồm cả nơi ở của họ với mức phí 48 triệu bảng Anh mỗi năm. | |||
* Mặc dù gia đình hoàng gia chi tiêu xa hoa, nhưng vẫn có hạn chế về chi phí đi lại vì đoàn tùy tùng của Thiên hoàng chỉ trả tối đa 110 bảng Anh một đêm, bất kể chi phí thực tế của khách sạn. Các khách sạn chấp nhận vì họ coi đó là vinh dự khi được tiếp đón Hoàng gia. | |||
<hr> | |||
Một cuộc khảo sát năm 1997 của Asahi Shimbun cho thấy 82% người Nhật ủng hộ việc tiếp tục chế độ quân chủ. Các cuộc thăm dò sau đó cho thấy 1⁄3 số người được hỏi "thờ ơ" với chế độ này. Hệ thống đế quốc được coi là biểu tượng của đất nước, nó mang lại cảm giác gắn kết, mục đích, cốt lõi tinh thần, vai trò ngoại giao với tư cách là đại sứ và là nguồn gốc của truyền thống và sự ổn định. Một tỷ lệ nhỏ cho rằng hệ thống đế quốc đã lỗi thời, không đồng bộ với thời đại đương thời. | |||
|- | |||
! style="background:#ccf"| | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|[[Kazoku|Hoa tộc - Hệ thống quý tộc Đế chế Nhật Bản]]<br> (1868 - 1947) | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
[[Kazoku]] là tầng lớp quý tộc của Đế chế Nhật Bản, bao gồm những [[Kuge]] (Công gia) - tức những gia đình công khanh triều đình Thiên hoàng ở kinh đô Kyoto và các [[Daimyō]] (Đại danh) - những lãnh chúa phong kiến. Sau [[Minh Trị Duy tân]], các [[phiên phiệt]] nhanh chóng tiến hành các cải cách theo lối Âu hóa, họ gộp chung địa vị của các công gia với các lãnh chúa [[daimyō|đại danh]] cũ thành một giai cấp quý tộc mang tên là '''Hoa tộc''' (Kazoku) vào ngày [[25 tháng 7]] năm [[1869]], công nhận rằng các công gia và các cựu đại danh là một tầng lớp xã hội khác biệt so với các tầng lớp xã hội khác như sĩ tộc ([[samurai]]) và bình dân (''heimin''). [[Itō Hirobumi]] (''Y Đằng Bác Văn''), một trong những tác giả chính của bản [[Hiến pháp Đế quốc Nhật Bản]] dự định lấy các quý tộc mới này làm bức tường chính trị và xã hội cho việc "phục hồi" uy quyền của Hoàng gia và thể chế triều đình Nhật Bản. Vào lúc đó, tổng cộng các công gia và cựu lãnh chúa đại danh bao gồm 427 gia đình. | |||
|- | |||
! style="background:#ccf"| | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|[[Mạc phủ|Chế độ Mạc phủ]]<br> (1192 - 1868) | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
<hr> | |||
===🛑 Minh Trị (122)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Tỷ lệ bạc | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đế quốc Nhật Bản|ĐẾ QUỐC NHẬT BẢN]] <br> (1868 - 1947) <hr/> [[Nhà Yamato]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Japan (1870–1999).svg|center|120px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Imperial Seal of Japan.svg|center|90px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Thiên hoàng Minh Trị]]<br> (1867 - 1912)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị Thiên hoàng thứ 122 của Nhật Bản}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="3"| | |||
|- | |||
|[[File:1 dollar Japen Empire - Meiji 9 - 1876.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 trader dollar [[Thiên hoàng Minh Trị|Meiji 9]] - 1876<hr> 149 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Meiji emperor color.jpg|110px]]<br>1875 - 1877<hr/>'''[[AU|AU<small>-cleaned<small/>]]'''}} ||style="background:#ceb"colspan="1"|{{center|'''Đường kính'''<br>[[38,58 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,22 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,498 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[2.416.877]]<hr>22.000.000<br>[[(928,27$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|[[File:1 trade dollar Japan - 1876XF.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 trader dollar [[Thiên hoàng Minh Trị|Meiji 9]] - 1876'''}}||{{center|[[File:Meiji emperor color.jpg|110px]]<br>1875 - 1877<hr/>'''[[XF]]'''}} ||style="background:#ceb"colspan="1"|{{center|'''Đường kính'''<br>[[38,58 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,22 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,498 gr]] <hr>'''Số lượng'''<br>[[2.416.877]]<hr>19.000.000<br>[[(822,51$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|[[File:1 trader dollar of Japan Meiji 10 - 1877.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 trader dollar [[Thiên hoàng Minh Trị|Meiji 10]] - 1877'''}}||{{center|[[File:Meiji emperor color.jpg|110px]]<br>1875 - 1877<hr/>[[AU]]'''}} ||{{center|'''Đường kính'''<br>[[38,58 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,22 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,498 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[2.772.300]]<hr>14.300.000<br>[[(608,51$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|[[File:1 yen of Japan, Meiji 3 - 1870.png|center|700px]]{{center|'''1 yen [[Thiên hoàng Minh Trị|Meiji 3]] - 1870<hr> 155 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Meiji emperor color.jpg|110px]]<br>1870<hr/>'''[[AU]]'''}} ||style="background:#ceb"colspan="1"|{{center|'''Đường kính'''<br>[[38,58 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[26,96 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,264 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[3.685.049]]<hr>5.500.000<br>[[223,2$]]}} | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 yen of Japan, Meiji 1903.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 yen [[Thiên hoàng Minh Trị|Minh Trị]]_[[Meiji 36]] - 1903<hr>122 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Meiji emperor color.jpg|110px]]<br>1887 - 1912<hr>'''[[MS|MS-62]]'''}} || style="background:#ceb"colspan="1"|{{center|'''Đường kính'''<br>[[38,1 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[26,96 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,264 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[6.970.843]]<hr>5.200.000<br>[[211,04$]]}} | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 yen Minh Trị Meiji 37 - 1904.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 yen [[Thiên hoàng Minh Trị|Minh Trị]]_[[Meiji 37]] - 1904<hr>121 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Meiji emperor color.jpg|110px]]<br>1887 - 1912<hr>'''[[AU]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[38,1 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[26,96 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,264 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[5.131.096]]<hr>1.900.000<br>[[(82,25$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#fbd"|Thiên hoàng Minh Trị | |||
|- | |||
|style="background:LemonChiffon;"| | |||
Tên húy của Minh Trị là '''Mutsuhito''', ông là Thiên hoàng thứ 122 của Nhật Bản theo [[danh sách Thiên hoàng]] truyền thống, trị vì từ 13/2/1867 đến khi qua đời vào ngày 30/7/1912, ở ngôi trong '''45 năm 168 ngày''' và sống thọ '''59 tuổi'''. Ông lên kế vị ngai vàng khi mới 15 tuổi, sau khi cha của ông là '''''[[Thiên hoàng Kōmei]] (Hiếu Minh) qua đời vì bệnh [[đậu mùa]]'''''. Trước khi qua đời 5 tháng, ông đã chứng kiến Cách mạng Tân Hợi ở Trung Quốc, sự xụp đổ và thoái vị của Hoàng đế Phổ Nghi của Nhà Thanh. Ông kế vị sau [[Đồng Trị]], hoàng đế thứ 10 của Nhà Thanh 6 năm, ông chứng kiến toàn bộ thời gian trị vì của [[Quang Tự]] dưới quyền của [[Từ Hy Thái hậu]] và vị hoàng đế cuối cùng, [[Phổ Nghi]] => Chứng kiến giai đoạn suy vị và đen tối nhất của Đế chế Đại Thanh, Triều Tiên và Đại Nam. | |||
Ông được coi là một vị minh quân có công lớn nhất trong [[lịch sử Nhật Bản]], tiêu diệt chế độ [[Mạc phủ Tokugawa]], thống nhất Nhật Bản dưới hoàng quyền của Thiên hoàng vào năm 1867, kết thúc 676 năm các thiên hoàng chỉ là bù nhìn trong đất nước của mình (1192 - 1867). Minh Trị đã canh tân và đưa Nhật Bản trở thành một quốc gia hiện đại, thoát khỏi nguy cơ trở thành thuộc địa của các nước đế quốc phương Tây giữa lúc chủ nghĩa thực dân đang phát triển mạnh.<hr> | |||
Được sự hỗ trợ của các lãnh chúa ([[daimyō]]) và [[giai cấp tư sản]], Minh Trị ép [[Shōgun]] [[Tokugawa Keiki]] phải nhượng lại quyền bính cho [[Hoàng gia Nhật Bản|hoàng gia]]. Tuy nhiên, [[Tokugawa Keiki|Tướng quân Keiki]] lại tập hợp phe cánh [[Chiến tranh Boshin|dấy binh]] chống [[Thiên hoàng]]. Quân các lãnh chúa phiên [[Phiên Satsuma|Satsuma]] hay Chōshū đã đánh bại được Mạc phủ. Có điều, trong suốt thời gian chiến tranh, Minh Trị không có khả năng cầm quyền, chỉ là vua bù nhìn của phe chống [[Mạc phủ Tokugawa|Mạc phủ]]. Sau chiến thắng, các công thần của cuộc chiến nắm giữ thực quyền, thực hiện cải cách theo xu hướng [[Chủ nghĩa tư bản|tư bản chủ nghĩa]]. Sự chuyển biến về [[tính cách]] của Minh Trị trong thời gian đó đã đặt nền tảng cho quá trình đích thân chấp chính sau nhiều biến động trong các năm 1877 - 1878. | |||
Minh Trị đã thực hiện cuộc [[Minh Trị duy tân]] theo xu hướng Chủ nghĩa tư bản, dời đô từ [[Kyōto]] về [[Tōkyō]], bóp chết phong trào ''Tự do Dân quyền'' và '''''ban hành bản [[Hiến pháp Minh Trị|Hiến pháp]] đầu tiên trong [[lịch sử Nhật Bản]] (1889)''''', Nhật Bản trở thành một nhà nước [[quân chủ lập hiến]]. Dù là cuộc [[cách mạng tư sản]] không triệt để, [[Minh Trị Duy Tân]] đã tạo điều kiện cho [[Nhật Bản|nước Nhật]] phát triển theo đường lối [[chủ nghĩa tư bản|tư bản chủ nghĩa]] và [[chủ nghĩa đế quốc|đế quốc chủ nghĩa]], rồi còn bành trướng ra nước ngoài. Với chiến thắng trước [[Trung Quốc]] thời [[Mãn Thanh]] trong [[Chiến tranh Thanh-Nhật]], và [[đế quốc Nga]] trong [[Chiến tranh Nga-Nhật]], Nhật Bản vươn lên đứng hàng ngũ các [[cường quốc]] trên thế giới. Ngoài ra, giáo dục cũng là một lĩnh vực mà Thiên hoàng Minh Trị quan tâm đến.<hr> | |||
Khi Thiên hoàng Minh Trị mới lên ngôi, người ta không chắc chắn chế độ quân chủ Nhật sẽ được duy trì; một lãnh đạo trong phong trào Tự do Dân quyền là [[Gotō Shōjirō]] (Hậu Đằng Tượng Nhị Lang, 1838 - 1897) về sau nói một số quan đại thần trong chính phủ đã "lo sợ rằng hoạt động của những người quá khích sẽ ngày càng mạnh và chế độ quân chủ bị bãi bỏ". | |||
Những nhà lãnh đạo mới của Nhật Bản đã cố gắng cải tổ hệ thống các phiên do lãnh chúa đại danh đứng đầu. Năm 1869, một số đại danh - vốn là những người ủng hộ cuộc Duy tân - đã giao đất đai của họ cho Thiên hoàng. Họ được tái bổ nhiệm làm thống đốc ở các tỉnh, với mức lương không nhỏ. Vào năm sau, tất cả những đại danh khác cũng tiếp bước họ. '''''Năm 1871, Thiên hoàng tuyên bố rằng [[Phế phiên, lập huyện|các phiên hoàn toàn bị xóa bỏ]] (Phế phiên, lập huyện) sau lập tỉnh, và Nhật Bản được chia làm 72 đô đạo phủ huyện'''''. Bù lại, những lãnh chúa đại danh nhận được với mức lương hàng năm bằng 10% thu nhập trước đây của họ và được phong Công tước cha truyền con nối trong hệ thống tước phong mới, nhưng bị buộc phải chuyển đến kinh đô Tōkyō. Phần lớn đại danh rút khỏi chính trường. | |||
Theo Hiến pháp 1889 - Hiến pháp đầu tiên của Nhật Bản, Thiên hoàng có quyền hành "thiêng liêng bất khả xâm phạm", là Nguyên thủ quốc gia, nắm trọn quyền thống trị. Về mặt đối nội, Thiên hoàng có thể dựa vào Hiến pháp để triệu tập hoặc giải tán nghị hội, bổ nhiệm hoặc bãi miễn quan lại và chỉ huy Lục quân, Hải quân và Không quân của Đế quốc Nhật Bản. Về mặt đối ngoại, Thiên hoàng có quyền tuyên chiến, giảng hòa, ký kết hòa ước. Các cơ cấu của quốc gia được hành xử chức năng và quyền hạn bên dưới Thiên hoàng.<hr> | |||
Sau khi Mạc phủ Tokugawa bị tiêu diệt, tàn dư của nó đã rút lui về phía bắc [[Đảo Honshu|Honshū]] rồi sau đó là [[Hokkaidō]], tại đây họ thành lập nước [[Cộng hòa Ezo]] (''Hà Di'') - nước Cộng hòa duy nhất trong lịch sử Nhật Bản. Quân đội triều đình sớm củng cố vị trí của mình trong nội địa Nhật Bản, và vào tháng 4 năm 1869, phái đi một hạm đội và 7.000 lục quân đến Ezo, đánh tan tác đối phương tại [[trận Hakodate]]. Thất bại này khiến quân Ezo mất đi căn cứ địa cuối cùng và phái chống Mạc phủ chính thức nắm quyền lực tuyệt đối trên toàn nước Nhật, hoàn thành giai đoạn quân sự trong cuộc [[Minh Trị Duy Tân]]. Ngày 18 tháng 5 năm 1869, Tổng tài (tương đương với [[Tổng thống]]) nước Cộng hòa Ezo là [[Enomoto Takeaki]] (''Giá Bản Võ Dương'') đầu hàng và chấp nhận quyền thống trị của Thiên hoàng Minh Trị. Khoảng 12 vạn binh sĩ được huy động trong cuộc chiến, và có khoảng 3.500 người thiệt mạng. | |||
Tại Nhật Bản từ khi lập quốc, '''''[[Phật giáo|đạo Phật]] chỉ bị trấn áp một cách dữ dội dưới triều Minh Trị'''''. Sau thắng lợi của quân đội Thiên hoàng trong [[chiến tranh Boshin]], Phật giáo suy yếu, bởi lẽ tôn giáo này là một yếu tố nền tảng của chính quyền Mạc phủ Tokugawa - một chế độ đã thao túng triều đình Thiên hoàng trong nhiều thế kỷ. Chính vì thế mà sau khi lên ngôi Thiên hoàng Minh Trị đã tỏ ra thái độ phản cảm đối với tôn giáo này. Bước sang thời Minh Trị, người ta xem Phật giáo là một "tôn giáo ngoại lai". Thiên hoàng bắt các sư phải để tóc, ăn mặn, lập gia đình và lấy theo họ của cha mẹ chứ không dùng từ "Thích" như chư tăng ở các nước khác. Thần đạo trở thành quốc giáo của Đế chế Nhật, chấm dứt trấn áp Kito giáo. Nhưng sau khi bị phản đối quyết liệt thì Minh Trị đã cho phép "tự do tôn giáo" và điều này được thể hiện rõ trong điều 28 của Hiến pháp 1889.<hr> | |||
* Ba năm sau khi cuộc Duy Tân được khởi xướng, năm 1870 người ta đã hoàn tất việc xây dựng đường sắt đầu tiên trong lịch sử Nhật Bản, đường ray có độ dài 28 km, nối liền [[Tōkyō]] và [[Yokohama]]. | |||
* Trong [[Chiến tranh Nga-Nhật]], chính phủ Nhật Bản dưới thời Thiên hoàng Minh Trị đã tiếp cận '''[[Gia tộc Rothschild]]''' ở London và Paris để xin tài trợ. Việc phát hành trái phiếu chiến tranh Nhật Bản của tập đoàn London có tổng trị giá 11,5 triệu bảng Anh (theo tỷ giá tiền tệ năm 1907; 1,08 tỷ bảng Anh theo tỷ giá tiền tệ năm 2012) đã giúp người Nhật củng cố sức mạnh hải quân của mình. | |||
* Ngày [[4 tháng 9]] năm [[1869]], [[Alfred xứ Sachsen‑Coburg và Gotha|Alfred, Công tước xứ Edinburgh]] (tên thật là Alfred Ernest Herbert, con trai của [[Nữ hoàng Victoria]]) viếng thăm Nhật Bản, được Thiên hoàng Minh Trị tiếp đón, điều này chưa từng có tiền lệ, vì một thiên hoàng lại đón tiếp một Công tước châu Âu một cách ngang hàng. | |||
* Ngày 12 tháng 10 năm 1868, Thiên hoàng chính thức làm lễ đăng quang tại Tử Thần điện ở cố đô Kyōto. Theo đề nghị của các đại thần, ông đặt niên hiệu là '''Minh Trị''', dựa theo câu '''''"Thánh nhân nam diện thính thiên hạ, hướng minh nhi trị"''''' trong chương Thuyết Quái của [[Kinh Dịch]]. Đây cũng là thụy hiệu của Thiên hoàng. Điều này đã mở đầu một truyền thống mới: Thiên hoàng chỉ đặt duy nhất một niên hiệu trong thời gian trị vì, khác với trước kia các Thiên hoàng thường thay đổi niên hiệu. Ngoài ra, sau khi ông qua đời, niên hiệu này cũng trở thành thụy hiệu của ông. | |||
* Ông đặc biệt rất hâm mộ hoàng đế [[Napoléon Bonaparte]] của Pháp, ông từng hỏi Shigeki rất kỹ lưỡng về thân thế, tính tình, sự nghiệp xưng bá của Napoléon và không ngớt lời khen ngợi việc Napoléon đã từng lập nên một đế chế hùng mạnh trong lịch sử Pháp. | |||
* Thiên hoàng Minh Trị đã tăng tài sản của mình thông qua cách vơ vét tài chình như Mạc phủ Togugawa trước đây. Trước tiên, ông tiến hành thu gom ruống đất, từ 16.500 mẫu năm 1882, tăng lên 46.042.995 mẫu vào năm 1890. Kể từ năm 1882, Thiên hoàng cũng sở hữu một lượng lớn chứng khoán, giá trị 5 triệu yên trong cổ phần Ngân hàng Nhà nước Nhật Bản, 1 triệu yên trong Ngân hàng Yokohama, 2,06 triệu yên trong cổ phần công ty du thuyền Nhật Bản. Số tiền này là rất lớn vào thời đó, vì tiền thừa kế ông nhận được tử vua cha Hiếu Minh chỉ có 10.000 yên. Như vậy Thiên hoàng Minh Trị đã trở thành một địa chủ và tài phiệt lớn nhất của Nhật Bản, điều này đã xác lập nền tảng tài chính vững chắc cho sự thống trị của Thiên hoàng. | |||
* Vào tháng 6 năm 1869, theo yêu cầu của Thiên hoàng, một ngôi miếu mang tên "[[Đền Yasukuni|Tōkyō Shōkonsha]]" (''Đông Kinh Chiêu Hồn xã'') được xây dựng trên đường Cửu Đoạn Bản ở kinh thành Tōkyō, nhằm vinh danh các chí sĩ đã chiến đấu và hy sinh cho công cuộc cải cách Duy Tân và sự nghiệp lật đổ Mạc phủ Tokugawa. Năm 1879, triều đình đổi tên ngôi miếu thờ cô hồn này thành '''[[Đền Yasukuni]]''' (''Yasukuni Jinja''), tức là "Tĩnh Quốc Thần xã". Về sau, theo đà phát triển của chủ nghĩa quân quốc Nhật Bản, tất cả những ai chết vì Thiên hoàng - kể cả những tướng sĩ chết trong các cuộc chiến tranh xâm lược, trong đó có những tội phạm chiến tranh - đều được thờ trong ngôi đền Yasukani này. | |||
* Năm 1869, Minh Trị cho lập ra Hệ thống tước hiệu quý tộc [[Kazoku]] (Hoa gia), mô phỏng theo châu Âu, đây là tầng lớp quý tộc của Đế chế Nhật Bản, bao gồm những [[Kuge]] (Công gia) - tức những gia đình công khanh triều đình Thiên hoàng ở kinh đô Kyoto và các [[Daimyō]] (Đại danh) - những lãnh chúa phong kiến. Vào thời điểm thành lập, tổng cộng các công gia và cựu lãnh chúa đại danh bao gồm 427 gia đình. Đây là tước vị cha truyền con nối theo phong cách quý tộc châu Âu. | |||
* Năm 1903, niên hiệu Minh Trị thứ 35, Cựu chinh di tướng quân [[Tokugawa Keiki]] đã vào triều yết kiến nhà vua, được nhà vua phong cho tước Công. | |||
* Ngày 10 tháng 2 năm 1904, Thiên hoàng xuống chiếu thư tuyên chiến với nước Nga, [[Chiến tranh Nga-Nhật]] bùng nổ. Thiên hoàng Minh Trị đã phong [[Ōyama Iwao]] (Đại Sơn Nham) làm Tổng tư lệnh Lục quân Nhật còn [[Tōgō Heihachirō]] (Đông Hương Bình Bát Lang) làm Tổng tư lệnh Hải quân Nhật. Quân Nhật đã thắng Nga trên cả đất liền và trên biển. [[Hải chiến Tsushima|Trận hải chiến Tsushima]] vào ngày 27–28 tháng 5 năm 1905, quân Nhật toàn thắng và Hạm đội Nga bị phá tan tành. Trận hải chiến quyết định này đã buộc Nga phải ký [[Hòa ước Portsmouth]], nhượng lại cho Nhật Bản các quyền lợi ở châu Á và khẳng định vai trò bá chủ của Nhật Bản ở Đông Á, công nhận quyền bá chủ của Nhật trên bán đảo Triều Tiên và Nhật có được vùng Nam đảo [[Sakhalin]]. | |||
* [[Enomoto Takeaki]] là một tướng hải quân trung thành với gia tộc tướng quân Tokugawa, ông đã dẫn hạm đội 8 tàu chiến chạy về Hokkaido cùng với tàn quân của Mạc Phủ để lập ra [[Cộng hòa Ezo]], những chiếc tàu chiến hơi nước của ông là hiện đại nhất của Nhật Bản thời đó. Sau trận [[Hải chiến vịnh Hakodate]], nền cộng hoà xụp đổ, với vai trò là Tổng tài, ông bị khép vào tội phản quốc và bị tóng giam. Nhưng chính quyền Meiji, đứng đầu là [[Kuroda Kiyotaka]] đã ân xá cho Enomoto, ông đã nhanh chống thể hiện tài năng và thăng tiến liên tục trong chính quyền của Thiên hoàng Minh Trị. Năm 1887, Enomoto được phong làm tử tước dưới hệ thống quý tộc kazoku, và được bầu làm thành viên của [[Xu mật viện]]. Ông từng nắm giữ vị trí bộ trưởng của 5 độ trong chính phủ Đế chế Nhật Bản: Bộ trưởng Bộ Hải quân (1880); Bộ trưởng Thông tin đầu tiên của Nhật Bản (1885-1888) sau khi hệ thống nội các ra đời năm 1885. Bộ trưởng Nông nghiệp và Thương mại năm 1888 và một lần nữa từ 1894 đến năm 1897, Bộ trưởng Giáo dục năm 1889-1890 và Bộ trưởng Ngoại giao năm 1891-1892. | |||
|} | |||
===🛑 Đại Chính (123)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Tỷ lệ bạc | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đế quốc Nhật Bản|ĐẾ QUỐC NHẬT BẢN]] <br> (1868 - 1947) <hr/> [[Nhà Yamato]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Japan (1870–1999).svg|center|120px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Imperial Seal of Japan.svg|center|90px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Thiên hoàng Đại Chính]]<br> (1912 - 1926)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị Thiên hoàng thứ 123 của Nhật Bản}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 Yen Taisho 1914.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 yen [[Thiên hoàng Đại Chính|Taishō]] - 1914<hr>111 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Emperor Taishō (cropped).jpg|110px]]<br>1914<hr>'''[[MS|UNC]]'''}} ||style="background:#ceb"colspan="1"| {{center|'''Đường kính'''<br>[[38,1 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[26,96 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,264 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[11.500.000]]<hr>4.000.000<br>[[(155,29$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
|} | |||
==📕 NHẬT BẢN (HIỆN ĐẠI)== | |||
===🛑 Chiêu Hòa (124)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Tỷ lệ bạc | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Nhật Bản|NHẬT BẢN]] <br> (1947 - Nay) <hr/> [[Nhà Yamato]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Japan (1870–1999).svg|center|124px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Imperial Seal of Japan.svg|center|90px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Hirohito|Thiên hoàng Chiêu Hòa]]<br> (1926 - 1989)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị Thiên hoàng thứ 124 của Nhật Bản}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|[[File:1.000 Yen Shōwa Olympics - 1964.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1.000 Yen [[Hirohito|Shōwa]]_[[Thế vận hội Mùa hè 1964|Thế vận hội Mùa hè Tokyo]] - 1964<hr>61 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Emperor Showa.jpg|100px]]<br>'''1964<hr/>[[AU]]'''}} ||{{center|'''Đường kính'''<br>[[35,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[92,5%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[20,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[18,5 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[15.000.000]]<hr>1.200.000<br>[[(50,63$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
===🛑 Bình Thành (125)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Tỷ lệ bạc | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Nhật Bản|NHẬT BẢN]] <br> (1947 - Nay) <hr/> [[Nhà Yamato]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Japan (1870–1999).svg|center|124px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Imperial Seal of Japan.svg|center|90px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Akihito|Thiên hoàng Bình Thành]]<br> (1989 - 2019)}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị Thiên hoàng thứ 125 của Nhật Bản}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|[[File:1000 yen World Cup 2002.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1.000 Yen [[Heisei]]_[[Giải vô địch bóng đá thế giới 2002]]<hr>23 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Emperor Akihito (2016).jpg|100px]]<br>'''2002<hr/>[[MS]]'''}} ||{{center|'''Đường kính'''<br>[[40,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[99,9%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[31,1 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[31,2687 gr]]<hr>'''Số lượng''' <br> [[100.000]]<hr> 1.750.000<br> [[(71,14$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
===🛑 Lệnh Hòa (126)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Tỷ lệ bạc | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Nhật Bản|NHẬT BẢN]] <br> (1947 - Nay) <hr/> [[Nhà Yamato]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Japan (1870–1999).svg|center|124px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Imperial Seal of Japan.svg|center|90px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Naruhito|Thiên hoàng Lệnh Hòa]]<br> (2019 - Nay)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị Thiên hoàng thứ 126 của Nhật Bản}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|[[File:1.000 Yen Reiwa Olympic Games Tokyo - 2020.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1.000 Yen [[Reiwa]]_[[Thế vận hội Mùa hè 2020|Thế vận hội mùa hè Tokyo]] - 2020'''}}||{{center|[[File:Naruhito and Masako visit Bogor Palace 48 (cropped).jpg|100px]]<br>'''2020<hr/>[[MS]]'''}} ||{{center|'''Đường kính'''<br>[[40,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[99,9%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[31,1 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[31,2687 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[100.000]]<hr>1.250.000<br>[[(50,81$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==📕 TÂY TẠNG QUỐC== | |||
===Tenzin Gyatso (Lạt Ma 14)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Trọng lượng | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Tây Tạng (1912–1951)|VƯƠNG QUỐC TÂY TẠNG]]<br>1912 – 1951<hr> Quân chủ tuyển cử}}'''||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Tibet (1916-1951).svg|center|135px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Emblem of Tibet.svg|center|95px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="3"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="3"|{{center|'''[[Tenzin Gyatso|Đạt Lai Lạt Ma thứ 14]] <br>(1940 - 1951)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="3"|{{center|Vị Đat Lai Lạt Ma thứ 14 của Tây Tạng}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 Rupee of Tibet - In the name of Guangxu, 1875-1908.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 Rupee [[Tây Tạng]]_[[Quang Tự|Nhân danh Hoàng đế Quang tự]] (1939 - 1942)<hr>86 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Tenzin Gyatso - 14th Dalai Lama (2012).jpg|100px]]<br>'''1902 - 1942<hr>[[AU]]'''}}|| style="background:#ceb"colspan="1"|{{center|'''Đường kính'''<br>[[31,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[50,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[11,40 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[5,70 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[25%]]<hr>6.500.000<br>[[(254,9$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="3"|<hr/> | |||
|} | |||
* Chân dung mặt trước xu chính là Hoàng đế [[Quang Tự]], dường như đây là hoàng đế duy nhất trong lịch sử Trung Quốc xuất hiện chân dung trên đồng xu. Xu bạc này được đúc lần đầu tiên vào năm 1902, nhưng vẫn tiếp tục được đúc cho đến năm 1942, dù trên thực tế [[Nhà Thanh]] đã xụp đổ vào năm 1912. | |||
==[[File:Republic of China Map Flag (1912).svg|100px]]📕 TRUNG HOA DÂN QUỐC== | |||
===Tôn Trung Sơn=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Tỷ lệ | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Trung Hoa Dân Quốc (1912–1949)|TRUNG HOA DÂN QUỐC]]<br>(1912 - 1949)<hr>[[Chính phủ lâm thời]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of China (1912–1928).svg|center|140px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Twelve Symbols national emblem of China.svg|center|87px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="3"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="3"|{{center|'''[[Tôn Trung Sơn|Đại Tổng thống Tôn Trung Sơn]]<br>(1/1/1912 - 10/3/1912)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="3"|{{center|Đại Tổng thống đầu tiên của Trung Hoa Dân quốc}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 Yuan of Szechuan (China) 1912.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 yuan_[[Tứ Xuyên|Tỉnh Tứ Xuyên]] - 1912<hr>113 năm (2025)'''}}||{{center|[[Tập tin:孙中山肖像.jpg|120px]]<br>1912 - 1913<hr>'''[[AU]]'''}}||style="background:#ceb"colspan="1"| {{center|'''Đường kính'''<hr>[[39,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[?%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[25.60 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[?gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[55.670.000]]<hr>8.800.000<br>[[(344,9$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="3"|<hr/> | |||
|} | |||
===Viên Thế Khải=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Tỷ lệ | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Trung Hoa Dân Quốc (1912–1949)|TRUNG HOA DÂN QUỐC]]<br>(1912 - 1949)<hr>[[Chính phủ Bắc Dương]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of China (1912–1928).svg|center|140px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Twelve Symbols national emblem of China.svg|center|87px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Viên Thế Khải|Đại Tổng thống Viên Thế Khải]]<br>(1912 - 1915)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Đại Tổng thống thứ 2 của Trung Hoa Dân quốc & Hoàng đế duy nhất của Hồng Hiến đế chế}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 dollar Yuan Shikai 1921 - III.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 yuan_[[Viên Thế Khải|Fat Man dollar - 3]] - 1914<hr>111 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:YuanShikaiPresidente1915.jpg|120px]]<br>1914 - 1921<hr>'''[[VF]]'''}}|| {{center|'''Đường kính'''<br>[[39,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[89%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[26,4 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[23,496 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[70%]]<hr>5.000.000<br>[[(217,39$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#fbd"|VIÊN THẾ KHẢI | |||
|- | |||
|style="background:LemonChiffon;"| | |||
Viên Thế Khải (1859 - 1916), tự '''Uy Đình''', hiệu '''Dung Am''', là Đại tổng thống thứ 2 của [[Trung Hoa Dân Quốc]] (1912 - 1915), Tự xưng Hoàng đế của [[Đế quốc Trung Hoa (1915–1916)|Hồng Hiến Đế chế]] (12/1915 - 3/1916). Ông là [[Nội các Tổng lý đại thần nhà Thanh]] cuối cùng (11/1911 - 3/1912). <hr> | |||
Thời trẻ, ông muốn thông qua khoa cử để trở thành một quan văn phục vụ dân sự, nhưng sau 2 lần ông thi trượt các kỳ thi của triều đình tổ chức, thông qua gia thế và mối quan hệ của cha, Viên Thế Khải đã có một chỗ đứng trong quân đội Nhà Thanh ở Sơn Đông. Năm 1880, gia đình đã bỏ tiền để mua cho ông một chức quan võ, đây là một phương thức thăng tiến phổ biến vào cuối thời Nhà Thanh.<hr> | |||
Năm 1885, ông được cử làm Trú sứ của Đế quốc Đại Thanh tại Triều Tiên. Bề ngoài, chức vụ này ngang bằng với chức vụ đại sứ nhưng trên thực tế, với tư cách là quan chức đứng đầu của thiên triều trên lãnh thổ Triều Tiên nên Viên Thế Khải đã trở thành cố vấn tối cao về mọi chính sách của chính phủ Triều Tiên. Viên Thế Khải được triệu về Thiên Tân vào tháng 7/1894, trước khi [[Chiến tranh Nhật-Thanh]] (8/1894 - 4/1895) chính thức bùng nổ.<hr> | |||
Trong suốt cuộc đời của mình, Viên Thế Khải có 9 người vợ, trong đó có 3 người vợ là người Triều Tiên, ông lấy trong gần 1 thập kỷ ông làm trú sứ tại Triều đình Joseon. Ba người vớ Triều Tiên sinh cho ông 15 người con.<hr> | |||
Là đồng minh của [[Lý Hồng Chương]], Viên được bổ nhiệm làm chỉ huy của [[Tân quân (nhà Thanh)|Tân quân]] đầu tiên vào năm 1895. Chương trình huấn luyện của Viên đã hiện đại hóa quân đội, tạo ra niềm tự hào to lớn và khiến ông nhận được lòng trung thành của các sĩ quan cấp cao có năng lực. Đến năm 1901, năm trong số bảy tư lệnh sư đoàn của Nhà Thanh và hầu hết các sĩ quan quân sự cấp cao khác ở Thanh triều đều là học trò của ông.<hr> | |||
Hoàng đế [[Quang Tự]] muốn giành lấy quyền bính của [[Từ Hi Thái hậu]] để thực hiện Duy tân, ông đã cho người liên hệ với Viên Thế Khải, lúc đó đang nắm 7.000 quân ở Thiên Tân. Vì thấy phe Thái hậu còn mạnh nên Viên đã bán đứng hoàng đế. Ông đến Bắc Kinh, báo lại mọi việc cho Từ Hi. Kết quả là Hoàng đế Quang Tự bị bắt giam, 6 vị nhân sĩ (trong đó có Đàm Tự Đồng) bị giết, [[Khang Hữu Vi]] cùng [[Lương Khải Siêu]] phải chạy trốn sang Nhật Bản, và cuộc biến pháp bị bãi bỏ...Sử gọi vụ này là [[Bách nhật Duy tân]] (Cải cách trăm ngày), là Chính biến Mậu Tuất (1898). Nhờ công tiết lộ, Viên Thế Khải được Từ Hi phong làm Thống soái [[Quân Bắc Dương]]<hr> | |||
Ngay sau [[Bách nhật Duy tân]], Từ Hy Thái hậu đã bổ nhiệm Viên Thế Khải làm [[Sơn Đông]] Tổng đốc, trong nhiệm kỳ 3 năm của mình, [[Phong trào Nghĩa Hòa Đoàn]] (1899-1901) đã nổ ra. Tổng đốc Sơn Đông Viên Thế Khải, Tổng đốc Hồ Quảng [[Trương Chi Động]], Tổng đốc Lưỡng Quảng [[Lý Hồng Chương]], Tổng đốc Lưỡng Giang [[Lưu Khôn Nhất]]... đã phớt lờ lời tuyên chiến của Thái Hậu Từ Hi chống lại các thế lực ngoại bang dựa trên Phong trào Nghĩa Hòa Đoàn. Họ đã thoả hiệp với các nước ký kết Chương trình Trung Ngoại bảo vệ chung, có tác dụng kiềm chế phong trào Nghĩa Hòa Đoàn không lan xuống phía Nam sông [[Trường Giang]], nhóm này được gọi là [[Đông Nam hỗ bảo]].<hr> | |||
Lực lượng của Viên Thế Khải không chỉ từ chối tham gia chống [[Liên quân tám nước]], ông còn giúp liên quân này đàn áp Nghĩa Hòa Đoàn sau khi họ chiếm được Bắc Kinh vào tháng 8 năm 1900. Lực lượng của Viên đã tàn sát hàng chục nghìn người trong chiến dịch chống lại Nghĩa Hòa Đoàn ở [[Trực Lệ]].<hr> | |||
Năm 1901, Viên Thế Khải thay Lý Hồng Chương làm đại thần nhiếp chính. Năm 1907, Viên Thế Khải được cử làm Thượng thư bộ Ngoại vụ, tham gia vào việc quân cơ.<hr> | |||
Ông đã thành lập một lực lượng cảnh sát gồm 2.000 người để giữ trật tự ở Thiên Tân, đây là lực lượng đầu tiên thuộc loại này trong lịch sử Trung Quốc, do Nghị định thư Bắc Kinh cấm bất kỳ đội quân nào được bố trí gần Thiên Tân.<hr> | |||
Năm 1905, làm theo lời khuyên của Viên Thế Khải, Thái hậu Từ Hi đã ban hành sắc lệnh chấm dứt hệ thống thi cử Nho giáo truyền thống được chính thức hóa vào năm 1906. Bà ra lệnh cho Bộ Giáo dục thực hiện một hệ thống các trường tiểu học, trung học và đại học với chương trình giảng dạy do nhà nước quy định, mô phỏng theo hệ thống giáo dục của Nhật Bản thời Thiên hoàng Minh Trị. <hr> | |||
Năm 1908, Hoàng đế Quang Tự qua đời. Bấy giờ có người tin rằng Quang Tự mất vì bị Khánh Vương Dịch Khuông và Viên Thế Khải đầu độc, để đưa Tái Chấn (con Dịch Khuông) lên nối ngôi, tức Hoàng đế [[Phổ Nghi]].<hr> | |||
[[Cách mạng Tân Hợi]] năm 1911, làm cho triều đình Nhà Thanh lo lắng, vì thế đã mời Viên Thế Khải ra lãnh đạo quân Bắc Dương chống lại cuộc khởi nghĩa sau 3 năm cho thôi chức. Ông nhân cơ hội này ép triều đình trao cho mình chức Tổng lý nội các đại thần (tương đương chức Thủ tướng hiện nay). Ngay sau đó, ông yêu cầu cha của Hoàng đế Phổ Nghi là Tái Phong rút lui khỏi chính trường, điều này buộc Tái Phong phải từ chức Đại Thanh Nhiếp Chính vương.<hr> | |||
Viên biết rằng việc đàn áp hoàn toàn cuộc cách mạng sẽ chấm dứt vai trò của ông đối với chế độ Nhà Thanh. Thay vì tấn công Vũ Xương, ông bắt đầu đàm phán với những người cách mạng. [[Tôn Dật Tiên]] được đại biểu của 17 tỉnh dự họp bầu làm Đại tổng thống lâm thời (Lê Nguyên Hồng làm phó), và lấy ngày 1 tháng 1 năm 1912 làm ngày khai sinh của chính quyền Trung Hoa dân quốc. Được tin, Viên Thế Khải liền tìm mọi cách tấn công vào chính cộng hòa. Tôn đã đàm phán và sẽ trao cho Viên chức Đại tổng thống của mình nếu ông thực hiện 5 điều, trong đó có việc hoàng đế Nhà Thanh phải thoái vị. Viên đồng ý và mật thư cho 40 võ tướng của mình uy hiếp Phổ Nghi thoái vị vào ngày 12/2/1912.<hr> | |||
Tháng 8 năm đó, Thế chiến thứ nhất bùng nổ, các đế quốc phương Tây đều bận chiến tranh. Nhân cơ hội này, Nhật Bản liền xông vào chiếm lấy đất đai của Trung Quốc. Mượn cớ tuyên chiến với Đức, Nhật Bản đưa quân đổ bộ lên Sơn Đông, chiếm vùng Giao Châu Loan và nắm lấy đường sắt Giao Tế. Lúc này, vì Viên Thế Khải đang muốn khôi phục nền đế chế, và muốn được Nhật Bản giúp đỡ nên không hề tỏ thái độ phản đối. Tháng 1 năm 1915, Nhật Bản đề ra 21 yêu sách với Viên Thế Khải và Chính phủ của ông, coi đó là điều kiện để họ thừa nhận Viên Thế Khải lên ngôi Hoàng đế.<hr> | |||
Theo cựu hoàng Phổ Nghi, Viên Thế Khải định gả con gái cho ông, nhưng việc chưa đi đến đâu thì Viên Thế Khải đã chết vì "tức giận" sau khi làm Hoàng đế 83 ngày. Theo Nguyễn Hiến Lê, thì Viên Thế Khải thấy mình bị nhiều tướng lĩnh phản đối nên vội vàng bỏ ý xưng đế, chỉ giữ chức Đại Tổng thống thôi, nhưng phe phản đối cũng không chịu. Tháng 5 năm 1916, phái cách mạng ở Quảng Châu thành lập Chính phủ Cộng hòa và bầu Lê Nguyên Hồng làm Đại Tổng thống. Viên Thế Khải ưu uất chết ngày 6 tháng 6 năm 1916 (tức ngày 6 tháng Năm âm lịch) ở tuổi 57. <hr> | |||
[[Lê Nguyên Hồng]] lấy tư cách là Phó Tổng thống lên làm Đại tổng thống sau cái chết của Viên, cử [[Phùng Quốc Cương]] làm phó, [[Đoàn Kỳ Thụy]] làm Tổng lý Nội các; rồi cho khôi phục Ước pháp lâm thời, triệu tập lại Quốc hội. Nhưng họ không đoàn kết với nhau được. Phe quân nhân Bắc Dương (đàn em của Viên Thế Khải) là Đoàn Kỳ Thụy, Phùng Quốc Chương, Tào Côn, [[Trương Tác Lâm]]... xưng hùng ở phương Bắc. Ở phương Nam thì có [[Đường Kế Nghiêu]], Lục Vĩnh Đình... khởi binh chống lại, gây cuộc tương tranh quân phiệt giữa Nam và Bắc nhiều năm sau này. <hr> | |||
|} | |||
===Từ Thế Xương=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Tỷ lệ | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Trung Hoa Dân Quốc (1912–1949)|TRUNG HOA DÂN QUỐC]]<br>(1912 - 1949)<hr>[[Chính phủ Bắc Dương]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of China (1912–1928).svg|center|140px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Twelve Symbols national emblem of China.svg|center|87px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Từ Thế Xương|Đại Tổng thống Trần Thế Xương]]<br>(1918 - 1922)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Đại Tổng thống thứ 5 của Trung Hoa Dân quốc}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 dollar Yuan Shikai X - 1921.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 yuan_[[Viên Thế Khải|Fat Man dollar - 10]] - 1921<hr>104 năm (tính đến 2025)'''}}||{{center|[[File:Xu Shichang.jpg|120px]]<br>1914 - 1921<hr>'''[[XF]]'''}}|| {{center|'''Đường kính'''<br>[[39,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[89%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[26,4 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[23,496 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[16%]]<hr>5.000.000<hr>[[(217,39$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
===Cố Duy Quân=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Tỷ lệ | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Trung Hoa Dân Quốc (1912–1949)|TRUNG HOA DÂN QUỐC]]<br>(1912 - 1949)<hr>[[Chính phủ Bắc Dương]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of China (1912–1928).svg|center|140px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Twelve Symbols national emblem of China.svg|center|87px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|''' [[Trương Tác Lâm]]<br>(1927 - 1928)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Lãnh tụ chính phủ Bắc Dương <br>Đại nguyên soái An quốc Lục Hải quân}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 Yuan Memento Birth 1927.png|center|700px|]] <hr>{{center|'''1 yuan_[[Trung Hoa Dân Quốc|Kỷ niệm sự ra đời của nền cộng hòa]] - 1927 ND'''<hr>'''98 năm (2025)'''}}||{{center|[[Tập tin:Zhang Zuo-lin.png|120px]]<br>1912 - 1927<hr>'''[[AU]]'''}}|| {{center|'''Đường kính'''<br>[[39,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[89%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,2 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,208 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[36%]]<hr>2.100.000<br>[[(82,68$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 Yuan of China Republic - Memento 1927.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 yuan_[[Trung Hoa Dân Quốc|Kỷ niệm sự ra đời của nền cộng hòa]] - 1927 ND<hr>98 năm (2025)'''}}||{{center|[[Tập tin:Zhang Zuo-lin.png|120px]]<br>1912 - 1927<hr>'''[[XF]]'''}}|| {{center|'''Đường kính'''<br>[[39,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[89%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,2 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,208 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[36%]]<hr>2.300.000<hr>[[(98,71$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
===Lâm Sâm=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Tỷ lệ | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Trung Hoa Dân Quốc (1912–1949)|TRUNG HOA DÂN QUỐC]]<br>(1912 - 1949)<hr>[[Chính phủ Quốc dân]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[Tập tin:Flag of the Republic of China (alternate shade).svg|center|130px]]}}||colspan="1"|{{center|[[Tập tin:National Emblem of the Republic of China.svg|center|85px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Lâm Sâm (Trung Hoa Dân Quốc)|Chủ tịch Uỷ ban Chính phủ Lâm Sâm]]<br>(1931 - 1943)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Chủ tịch thứ 3}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:50c of Yunnan 1932.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1/2 Yuan [[Vân Nam|Tỉnh Vân Nam]] - Trung Hoa Dân quốc năm thứ 21 - 1932<hr>92 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:ROC President Lin Sen.jpg|120px]]<br>1932<hr>'''[[XF]]'''}}|| {{center|'''Đường kính'''<br>[[34,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[50%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[13,10 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[6,55 gr]]<hr>'''Số lượng''' <br> [[980.000]] <hr> 1.100.000 <br> [[(42,31$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 Yuan Republic of China, year 22 - Junk dollar.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 yuan [[Tôn Trung Sơn|Sun Yat-sen]] - Trung Hoa Dân quốc năm thứ 23 - 1934<hr>91 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:ROC President Lin Sen.jpg|120px]]<br>1911 - 1949<hr>'''[[MS]]'''}}|| {{center|'''Đường kính'''<br>[[39,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[88%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[26,73 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[23,5224 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[128.740.000]]<hr>5.200.000<br>[[211,38$]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==☢️ HONG KONG THUỘC ANH== | |||
===Richard Graves MacDonnell (6)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Tỷ lệ bạc | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đế quốc Anh|ĐẾ CHẾ ANH]] <hr> [[Hồng Kông thuộc Anh]]<br>(1841 - 1997)}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Hong Kong (1959–1997).svg|center|150px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of Hong Kong (1959–1997).svg|center|102px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Richard Graves MacDonnell|Thống đốc Richard Graves MacDonnell]] <br>(1866 - 1872)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Thống đốc thứ 6 của Hong Kong}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="3"|<hr> | |||
|- | |||
| [[File:1 dollar Victoria of Hong Kong 1867.jpg|center|700px]]<hr>{{center|'''1 Dollar Victoria - 1867 <hr>158 năm (2025)'''}} ||{{center|[[File:Sir R. G. MacDonnell (Cropped).png|120px]]<br>1866 - 1868<hr>'''[[AU]]'''}} || style="background:#ceb"colspan="1"|{{center|'''Đường kính'''<br>[[38,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[26,9568 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,26112 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[?]]<hr>38.000.000<br>[[(1.500,79$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:LightCoral;"|NHỮNG THÔNG TIN ĐẶC BIỆT LIÊN QUAN | |||
|- | |||
|style="background:LemonChiffon;"| | |||
* Đây là dòng xu thương mại đầu tiên của người Anh ở Viễn Đông, nó chỉ được đúc trong 3 năm từ 1866 đến 1868; Đến năm 1895 xu thương mại Hải thần mới được đúc để lưu hành tại các thuộc địa Anh ở Viễn Đông, bao gồm Hong Kong thuộc Anh và Các khu định cư Eo biển. Năm 1903, Các khu định cư Eo biển cho phát hành xu bạc dollar Eo biển thì dollar Hải thần chỉ còn được dùng bởi thuộc địa Hong Kong.<hr> | |||
* Năm 1898, phần lãnh thổ rộng lớn nhất cấu thành nên Hồng Kông thuộc Anh là Tân Giới đã được Nhà Thanh trao lại cho người Anh thuê trong 99 năm, 2 lãnh thổ trước đó là Đảo Hông Kông và Bán đảo Cửu Long là nhượng địa vĩnh viễn.<hr> | |||
* Anh có được đảo Hông Kông vào năm 1841 sau Chiến tranh Nha phiến lần thứ nhất với [[Điều ước Nam Kinh]], đến năm 1860 người Anh có thêm Bán đảo Cửu Long sau Chiến tranh Nha phiến lần thứ 2 với [[Công ước Bắc Kinh]]. Năm 1898, người Anh đạt được thoả thuận mua [[Tân Giới]] trong 99 năm, kể từ đó, lãnh thổ Hong Kong giữ nguyên diện tích và hình dạng đến tận ngày nay.<hr> | |||
* Chân dung Nữ hoàng Victoria đúc trên đồng xu đội [[Vương miện Kim cương]] (Diamond Diadem), đây là xu bạc đầu tiên của người Anh cho đúc và lưu hành ở Viễn Đông, sau khi nó được ngưng phát hành vào năm 1868 thì đến 27 năm sau, người Anh mới cho phát hành xu bạc mới, đó là dollar Hải thần - đô la thương mại chính thức của Đế chế Anh. Nó được đúc với số lượng rất lớn, lên đến 243.832.440 đô la từ năm 1895 đến 1935.<hr> | |||
* Đồng xu này được đúc sau khi cuộc khởi nghĩa [[Thái Bình Thiên Quốc]] (1851 - 1864) kết thúc được 2 năm. | |||
|} | |||
===William Robinson (11) === | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Trọng lượng | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đế quốc Anh|ĐẾ CHẾ ANH]] <hr> [[Hồng Kông thuộc Anh]]<br>(1841 - 1997)}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Hong Kong (1959–1997).svg|center|150px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of Hong Kong (1959–1997).svg|center|95px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[William Robinson (quản lý thuộc địa, sinh 1836)|Thống đốc William Robinson]] <br>(1891 - 1898)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Thống đốc thứ 11 của Hong Kong}} | |||
|- | |||
| [[File:1 British trade Dollar 1898XF.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 Dollar Thương mại Anh - 1898 B<hr>127 năm (2025)'''}} ||{{center|[[File:Sir William Robinson.jpg|120px]]<br>1895 - 1935<hr>'''[[AU]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[39,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[26,95 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,255 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[21.545.500]]<hr>3.000.000<br>[[(128,76$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
===Henry Arthur Blake (12)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Trọng lượng | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đế quốc Anh|ĐẾ CHẾ ANH]] <hr> [[Hồng Kông thuộc Anh]]<br>(1841 - 1997)}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Hong Kong (1959–1997).svg|center|150px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of Hong Kong (1959–1997).svg|center|95px]]}} | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Henry Arthur Blake|Thống đốc Henry Arthur Blake]] <br>(1898 - 1903)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Thống đốc thứ 12 của Hong Kong}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="3"|<hr> | |||
|- | |||
| [[File:1 trade dollar British - 1899AU.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 Dollar Thương mại Anh - 1899 B<hr>126 năm (2025)'''}} ||{{center|[[File:Henry Arthur Blake.jpg|120px]]<br>1895 - 1935<hr>'''[[AU]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[39,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[26,95 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,255 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[30.743.159]]<hr>4.900.000<br>[[(212,12$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 British trade dollar 1901BMS.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 Dollar Thương mại Anh - 1901 B<hr>124 năm (2025)'''}} ||{{center|[[File:Henry Arthur Blake.jpg|120px]]<br>1895 - 1935<hr>'''[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[39,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[26,95 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,255 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[25.684.971]]<hr>3.300.000<hr>[[(141,63$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 Trade dollar of UK 1902B.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 Dollar Thương mại Anh - 1902 B <hr> 123 năm (2025)'''}} ||{{center|[[File:Henry Arthur Blake.jpg|120px]]<br>1895 - 1935<hr>'''[[XF]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[39,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[26,95 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,255 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[30.404.499]]<hr>2.700.000<br>[[(115,88$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
===Frederick Lugard (14)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Trọng lượng | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đế quốc Anh|ĐẾ CHẾ ANH]] <hr> [[Hồng Kông thuộc Anh]]<br>(1841 - 1997)}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Hong Kong (1959–1997).svg|center|150px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of Hong Kong (1959–1997).svg|center|95px]]}} | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Frederick Lugard, Tử tước Lugard thứ nhất|Thống đốc Frederick Lugard, Tử tước Lugard thứ nhất]] <br>(1907 - 1912)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Thống đốc thứ 14 của Hong Kong}} | |||
|- | |||
| [[File:1 Dollar British Trade Dollar 1911.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 Dollar Thương mại Anh - 1911 B<hr>114 măm (2025)'''}} ||{{center|[[File:LordLugard.jpg|120px]]<br>1895 - 1935<hr>'''[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[39,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[26,95 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,255 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[37.470.509]]<hr>3.200.000<br>[[(125,98$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
===Francis Henry May (15)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Trọng lượng | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đế quốc Anh|ĐẾ CHẾ ANH]] <hr> [[Hồng Kông thuộc Anh]]<br>(1841 - 1997)}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Hong Kong (1959–1997).svg|center|150px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of Hong Kong (1959–1997).svg|center|95px]]}} | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Francis Henry May|Thống đốc Francis Henry May]] <br>(1912 - 1918)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Thống đốc thứ 15 của Hong Kong}} | |||
|- | |||
| [[File:1 British trade dollar 1912.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 Dollar Thương mại Anh - 1912 B<hr> 113 năm (2025)'''}} ||{{center| <br>1895 - 1935<hr>'''[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[39,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[26,95 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,255 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[5.672.075]]<hr>4.900.000<br>[[212,12$]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
* Xu bạc đầu tiên của Đế chế Anh đúc và lưu hành ở Viễn Đông là 1 dollar Victoria Hong Kong, đúc trong 3 năm 1866, 1867 và 1868. Sau đó thì trong suốt 27 năm, người Anh không phát hành bất cứ loại xu bạc nào nữa, cho đến năm 1895 thì dollar Hải thần mới được phát hành và được đúc số lượng lớn để lưu hành trong tất cả thuộc địa và lãnh thổ bảo hộ của Anh ở Viễn Đông như [[Hồng Kông thuộc Anh]], [[Các khu định cư Eo biển]]... Đến năm 1903, khi Dollar Eo biển ra đời thì Dollar Hải thần chỉ còn được Hông Kông thuộc Anh sử dụng. | |||
* Trong suốt lịch sử của mình, từ năm 1895 đến 1935, đã có 243.832.440 đồng xu bạc mệnh giá 1 dollar được đúc, và người ta phải dùng đến 5.914,16 tấn kim loại bạc nguyên chất. | |||
* '''[[Dương tử kinh]]''' có tên khoa học là '''Bauhinia blakeana''' được phát hiên ra vào năm 1880 bởi một nhà truyền giáo người Pháp ở gần một khu nhà hoang bên bờ biển Đảo Hồng Kông và tên khoa học của nó được đặt theo tên thống đốc [[Henry Arthur Blake]] và vợ. Hoa dương tử kinh là biểu tượng của Hong Kong và xuất hiện trên lá khu kỳ Hong Kong. Người Hong Kong gọi là của cây là '''Thông minh diệp''' biểu tượng cho sự thông minh và tin rằng kẹp lá vô sách sẽ học hành tốt hơn. Tất cả các cây dương tử kinh hiện tại đều có nguồn gốc từ cành của cây đầu tiên được phát hiện năm 1880. | |||
==☢️ CÁC KHU ĐỊNH CƯ EO BIỂN== | |||
===Frank Swettenham (15)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Trọng lượng | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đế quốc Anh|ĐẾ CHẾ ANH]] <hr> [[Các khu định cư Eo biển]]<br> (1826 - 1946)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of the British Straits Settlements (1925–1946).svg|center|157px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of the Straits Settlements.svg|center|68px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Frank Swettenham|Thống đốc Frank Swettenham]]<br> (1901 - 1904)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Thống đốc thứ 15 của Các khu định cư Eo biển}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 dollar of Straits Settlements, Edward VII - 1903 B.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 dollar [[Edward VII của Anh|Edward VII]] - 1903 B<hr>122 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:John Singer Sargent - Sir Frank (Athelstane) Swettenham - NPG 4837 - National Portrait Gallery.jpg|100px]] <br>1903 - 1904<hr>'''[[AU]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[37,3 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[26,95 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,255 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[15.009.891]]<hr>2.500.000<br>[[(107,30$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==📕 HOA KỲ== | |||
===Ulysses S. Grant (18)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Hoa Kỳ|HỚP CHÚNG QUỐC HOA KỲ]] <br> (1776 - Nay) <hr> [[Cộng hòa liên bang]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of the United States.svg|center|130px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Greater coat of arms of the United States.svg|center|80px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Ulysses S. Grant|Tổng thống Ulysses S. Grant]]<br>(1869 - 1877)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Tổng thống thứ 18 của Hoa Kỳ}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="3"| | |||
|- | |||
| [[File:1 trade dollar US 1874S.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 Dollar Thương mại [[Mỹ]] - 1874 S<hr>150 năm (2024)'''}}||{{center|[[File:Ulysses S. Grant 1870-1880.jpg|100px]]<br>1873 - 1885<hr>'''[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[38,1 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,22 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,498]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[2.549.000]]<hr>6.500.000<br>[[(262,41$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 trade dollar USA 1875 cc.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 Dollar Thương mại [[Mỹ]] - 1875 CC<hr>149 năm (2024)'''}}||{{center|[[File:Ulysses S. Grant 1870-1880.jpg|100px]]<br>1873 - 1885<hr>'''[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[38,1 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,22 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,498]]<hr>'''Số lượng'''<hr>[[1.573.700]] <hr>3.200.000 <br>[[(137,34$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 trade dollar USA 1876S.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 Dollar Thương mại [[Mỹ]] - 1876 S'''}}||{{center|[[File:Ulysses S. Grant 1870-1880.jpg|100px]]<br>1873 - 1885<hr>'''[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[38,1 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,22 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,498]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[5.227.000]]<hr>3.200.000<br>[[(137,34$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
===Rutherford B. Hayes (19)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Hoa Kỳ|HỚP CHÚNG QUỐC HOA KỲ]] <br> (1776 - Nay) <hr> [[Cộng hòa liên bang]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of the United States.svg|center|130px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Greater coat of arms of the United States.svg|center|80px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Rutherford B. Hayes|Tổng thống Rutherford B. Hayes]]<br>(1877 - 1881)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Tổng thống thứ 19 của Hoa Kỳ}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="3"| | |||
|- | |||
| [[File:1 Trade dollar of USA - 1877 S (arrow error).png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 Dollar Thương mại [[Mỹ]] - 1877 S (arrow error)'''}}||{{center|[[Tập tin:President Rutherford Hayes 1870 - 1880.jpg|100px]]<br>1873 - 1885<hr>'''[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[38,1 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,22 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,498]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[9.519.000]]<hr>3.300.000<br>[[141,63$]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 Trade dollar of United States 1877.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 Dollar Thương mại [[Mỹ]] - 1877 S'''}}||{{center|[[Tập tin:President Rutherford Hayes 1870 - 1880.jpg|100px]]<br>1873 - 1885<hr>'''[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[38,1 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,22 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,498]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[9.519.000]]<hr>3.300.000<br>[[141,63$]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 dollar trade US - 1878 (S).png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 Dollar Thương mại [[Mỹ]] - 1878 S'''}}||{{center|[[Tập tin:President Rutherford Hayes 1870 - 1880.jpg|100px]]<br>1873 - 1885<hr>'''[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[38,1 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,22 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,498]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[4.162.000]]<hr>3.300.000<br>[[141,63$]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
===Chester A. Arthur (21)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Hoa Kỳ|HỚP CHÚNG QUỐC HOA KỲ]] <br> (1776 - Nay) <hr> [[Cộng hòa liên bang]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of the United States.svg|center|130px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Greater coat of arms of the United States.svg|center|80px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Chester A. Arthur|Tổng thống Chester A. Arthur]] <br>(1881 - 1885)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Tổng thống thứ 21 của Hoa Kỳ}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="3"| | |||
|- | |||
| [[File:1 dollar Morgan 1884.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 [[Đô la Morgan|Dollar Morgan]] - 1884<hr>142 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Chester A. Arthur by Abraham Bogardus.jpg|100px]]<br>'''1878 - 1921 <hr> [[MS|MS-64]]'''}} || style="background:#ceb"colspan="1"| {{center|'''Đường kính'''<br>[[38,1 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[26,73 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,057 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[9.730.000]]<hr>2.000.000<br>[[(78,74$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 Dollar Morgan - 1885 O.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 [[Đô la Morgan|Dollar Morgan]] - 1885<hr>141 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Chester A. Arthur by Abraham Bogardus.jpg|100px]]<br> {{center|'''1878 - 1921 <hr> [[MS]]'''}} || style="background:#ceb"colspan="1"|{{center|'''Đường kính'''<br>[[38,1 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[26,73 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,057 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[9.185.000]]<hr>1.700.000<br>[[(63,83$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
===Grover Cleveland (22) & (24)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Hoa Kỳ|HỚP CHÚNG QUỐC HOA KỲ]] <br> (1776 - Nay) <hr> [[Cộng hòa liên bang]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of the United States.svg|center|130px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Greater coat of arms of the United States.svg|center|80px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Grover Cleveland|Tổng thống Grover Cleveland]] <br>(1893 - 1897 & 1885 - 1889)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Tổng thống thứ 22 và 24 của Hoa Kỳ}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 Dollar "Morgan Dollar" 1896.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 [[Đô la Morgan|Dollar Morgan]] - 1896<hr>129 năm (tính đến 2025)'''}}||{{center|[[File:Grover Cleveland - NARA - 518139 (cropped).jpg|100px]]<br>'''1878 - 1921 <hr> [[XF]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[38,1 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[26,73 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,057 gr]] <hr>'''Số lượng'''<br>[[9.967.000]]<hr>1.100.000<br>[[(46,81$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
* Ông là vị Tổng thống duy nhất trong lịch sử nước Mỹ phục vụ hai nhiệm kỳ không liên tục nhau (1885–1889 và 1893–1897). | |||
===William Howard Taft (27)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Hoa Kỳ|HỢP CHÚNG QUỐC HOA KỲ]]<hr> [[Chính quyền Đảo của Quần đảo Philippine]]<br> (1902 - 1935)}}'''||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of the Philippines (1919–1936).svg|center|150px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of the Philippines (1905–1935).svg|center|50px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[William Howard Taft|Tổng thống William Howard Taft]] <br>(1909 - 1913)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Tổng thống thứ 27 của Hoa Kỳ}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 Peso Small type 1909.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 Peso_[[Small type]] 1909<hr>116 năm (2025)'''}}||{{center|[[Tập tin:William Howard Taft - Harris and Ewing.jpg|100px]] <br>'''1907-1912<hr>[[AU]]'''}}|| {{center|'''Đường kính'''<br>[[35,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[80,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[20,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[16.0 gr]] <hr>'''Số lượng'''<br>[[7.578.000]]<hr> 1.000.000<br>[[(40,0$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
===Warren G. Harding (29)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Hoa Kỳ|HỚP CHÚNG QUỐC HOA KỲ]] <br> (1776 - Nay) <hr> [[Cộng hòa liên bang]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of the United States.svg|center|130px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Greater coat of arms of the United States.svg|center|80px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Warren G. Harding|Tổng thống Warren G. Harding]] <br>(1921 - 1923)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Tổng thống thứ 29 của Hoa Kỳ}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 Dollar "Peace Dollar" - 1923.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 [[Đô la Hòa bình|Dollar Peace]] - 1923<hr>102 năm (2025)}}||{{center|[[File:Warren G Harding-Harris & Ewing-crop.jpg|100px]]<br>'''1921 - 1964 <hr> [[XF]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[38,1 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[26,73 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,057]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[6.811.000]]<hr>750.000<br>[[(31,92$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
===Richard Nixon (37)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Hoa Kỳ|HỚP CHÚNG QUỐC HOA KỲ]] <br> (1776 - Nay) <hr> [[Cộng hòa liên bang]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of the United States.svg|center|130px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Greater coat of arms of the United States.svg|center|80px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Richard Nixon|Tổng thống Richard Nixon]] <br>(1969 - 1974)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Tổng thống thứ 37 của Hoa Kỳ}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 dollar Dwight D. Eisenhower 1971 silver.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 Dollar_[[Dwight D. Eisenhower]] - 1971<hr>54 năm (2025)}}||{{center|[[File:Richard Nixon presidential portrait (1).jpg|100px]]<br>'''1971 - 1977 <hr> [[MS]]'''}} || style="background:#ceb"colspan="1"|{{center|'''Đường kính'''<br>[[38,1 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[40%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[24,59 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[9,836]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[6.868.530]]<hr>700.000<br>[[(27,56$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
===Ronald Reagan (40)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Hoa Kỳ|HỚP CHÚNG QUỐC HOA KỲ]] <br> (1776 - Nay) <hr> [[Cộng hòa liên bang]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of the United States.svg|center|130px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Greater coat of arms of the United States.svg|center|80px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Ronald Reagan|Tổng thống Ronald Reagan]] <br>(1981 - 1989)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Tổng thống thứ 40 của Hoa Kỳ}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 Dollar Olympic Los Angeles 1983.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 Dollar_[[Thế vận hội Mùa hè 1984|Olympic Los Angeles 1984]] - 1983S<hr>42 năm (2025)'''}}|| {{center|[[File:Official Portrait of President Reagan 1981.jpg|100px]] <br> 1983 <hr> '''[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[38,1 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[26,73 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,057]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[174.014]]<hr>800.000<br>[[(31,37$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 Dollar US Statue of Liberty 1986.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 Dollar_[[Tượng Nữ thần Tự do|Tượng Nữ thần Tự do trên đảo Ellis]] - 1986<hr>39 năm (2025)'''}}|| {{center|[[File:Official Portrait of President Reagan 1981.jpg|100px]]<br>1986<hr>'''[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[38,1 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[26,73 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,057]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[6.414.638]]<hr>1.050.000<br>[[(42,42$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
===George H. W. Bush (41)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Hoa Kỳ|HỚP CHÚNG QUỐC HOA KỲ]] <br> (1776 - Nay) <hr> [[Cộng hòa liên bang]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of the United States.svg|center|130px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Greater coat of arms of the United States.svg|center|80px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[George H. W. Bush|Tổng thống George H. W. Bush]] <br>(1989 - 1993)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Tổng thống thứ 41 của Hoa Kỳ}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="3"| | |||
|- | |||
| [[File:1 Dollar Eisenhower Centennial 1990.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 Dollar_[[Đô la bạc kỷ niệm 100 năm Eisenhower|100 năm Ngày sinh của Eisenhower]] (1890 - 1990)'''}}|| {{center|[[File:George H. W. Bush presidential portrait (cropped).jpg|100px]]<br>1990<hr>'''[[MS|UNC]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[38,1 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[26,73 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,057]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[1.144.461]]<hr>1.100.000<br>[[(42,71$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 Dollar Korean War (1953-1991).png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 Dollar_[[Chiến tranh Triều Tiên|38 năm Chiến tranh Triều Tiên]] (1953 - 1991)'''}}|| {{center|[[File:George H. W. Bush presidential portrait (cropped).jpg|100px]]<br>1991<hr>'''[[MS|UNC]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[38,1 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[26,73 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,057]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[618.488]]<hr>1.300.000<br>[[(51,18$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 Dollar US Columbus Quincentenary - 1992.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 Dollar_[[Christopher Columbus|500 năm Columbus tìm ra Tân Thế giới]] (1492 - 1992)'''}}|| {{center|[[File:George H. W. Bush presidential portrait (cropped).jpg|100px]]<br>1992<hr>'''[[MS|UNC]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[38,1 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[26,73 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,057]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[385.241]]<hr>1.250.000<br>[[(50,51$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
===George W. Bush (43)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Hoa Kỳ|HỚP CHÚNG QUỐC HOA KỲ]] <br> (1776 - Nay) <hr> [[Cộng hòa liên bang]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of the United States.svg|center|130px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Greater coat of arms of the United States.svg|center|80px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[George W. Bush|Tổng thống George W. Bush]] <br>(2001 - 2009)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Tổng thống thứ 43 của Hoa Kỳ}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 Dollar Marine Corps 230th Anniversary 2005.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 Dollar_[[Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ|230 năm Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ]] - 2005'''}}|| {{center|[[Tập tin:George-W-Bush.jpeg|100px]]<br>2005<hr>'''[[MS|MS-69]]'''}} ||style="background:#ceb"colspan="1"| {{center|'''Đường kính'''<br>[[38,1 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[26,73 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,057]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[548.810]]<hr>2.000.000<br>[[(78,43$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
===Donald Trump (45) & (47)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Hoa Kỳ|HỚP CHÚNG QUỐC HOA KỲ]] <br> (1776 - Nay) <hr> [[Cộng hòa liên bang]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of the United States.svg|center|130px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Greater coat of arms of the United States.svg|center|80px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Donald Trump|Tổng thống Donald Trump]] <br>(2017 - 2021 & 2024-2029)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Tổng thống thứ 45 và 47 của Hoa Kỳ}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="3"| | |||
|- | |||
| [[File:1 Dollar US - World War I Centennial - 2018.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 Dollar_[[Thế chiến thứ nhất|Kỷ niệm 100 năm Thế chiến Thứ nhất (1918-2018)]]_2018'''}}|| {{center|[[File:Donald Trump official portrait.jpg|120px]]<br>2018<hr>'''[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[40,6 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[26,73 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,057]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[127.867]]<hr>1.600.000<br>[[(64,1$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 dollar USA, Silver Eagle Bullion Coin 2019.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 Dollar [[Đại bàng bạc Mỹ|American Silver Eagle]]_[[Xu thỏi|Bullion Coin]] 2019'''}}|| {{center|[[File:Donald Trump official portrait.jpg|100px]]<br>2018<hr>'''[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[40,6 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[99,9%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[31,103 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[31,0719]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[9%]]<hr>750.000<br>[[(32,19$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==📕 LIÊN BANG ĐÔNG DƯƠNG== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#ccf"|[[Tập tin:Emblem of the Gouvernement général de l'Indochine.svg|70px]] | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|LIÊN BANG ĐÔNG DƯƠNG THUỘC PHÁP | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
Liên bang Đông Dương thuộc Pháp chính là một nhà nước liên bang bao gồm các xứ bảo hộ và thuộc địa của Pháp ở Đông Dương, đứng đầu nhà nước là một viên Toàn quyền được bổ nhiệm bởi chính phủ Pháp. | |||
|} | |||
===Charles Auguste Frédéric Bégin=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đế quốc thực dân Pháp|ĐẾ CHẾ THỰC DÂN PHÁP]]<hr> Thuộc địa & Đất bảo hộ của Pháp ở Viễn Đông'''}}||colspan="1"|{{center|[[Tập tin:Flag of France (shade comparison).svg|center|145px]]}}||colspan="1"|{{center|[[Tập tin:Armoiries république française.svg|center|80px]]}} | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Charles Auguste Frédéric Bégin|Thống đốc Frédéric Bégin]] <br>(07/1885 - 06/1886)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|'''Vị Thống đốc dân sự thứ 3 của Nam Kỳ'''}} | |||
|- | |||
| [[File:French Indo China by A. Patey.jpg|center|700px]]<hr>{{center|'''1 piastre 1885_[[Type 1]]<hr>140 năm (2025)'''}} ||{{center|[[Tập tin:Charles Auguste Frédéric BEGIN.jpg|120px]]<br>1885 - 1895<hr>'''[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[39,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,215 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,4935 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[800.000]]<hr>3.200.000<br>[[(125,98$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
* Sau khi thất bại trong [[Chiến tranh Pháp-Phổ]] (1870-1871) '''''Pháp đã đề nghị sẽ trao cho Đức vùng [[Nam Kỳ]] để đổi lấy [[Alsace-Lorraine]], nhưng Đức đã từ chối, họ đã chiếm đống và hợp nhất lãnh thổ này cho đến sau Thế chiến I kết thúc''''' | |||
===Ange Michel Filippini=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Trọng lượng | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Ange Michel Filippini|Thống đốc Ange Michel Filippini]] <br>(06/1886 - 10/1887)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị Thống đốc dân sự thứ 4 của Nam Kỳ}} | |||
|- | |||
| [[File:French Indo China by A. Patey.jpg|center|700px]]<hr>{{center|'''1 piastre 1886_[[Type 1]]'''}} ||{{center|1885 - 1895<hr>'''[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[39,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,215 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,4935 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[3.216.000]]<hr>3.200.000<br>[[(125,98$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
===Ernest Constans (1)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''ĐẾ CHẾ THỰC DÂN PHÁP<Hr>[[Liên bang Đông Dương]] <br> (1887 - 1954)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of France (1794–1815, 1830–1974, 2020–present).svg|center|130px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Emblem of the Gouvernement général de l'Indochine.svg|center|88px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Ernest Constans|Toàn quyền Ernest Constans]] <br>(11/1887 - 04/1888)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|'''Vị Toàn quyền đầu tiên của Đông Dương thuộc Pháp'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 piastre Indochine 1887 AU.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 piastre 1887_[[Type 1]]<hr>138 năm (2025)'''}} ||{{center|[[File:Ernest Constans - photo Eugène Pirou.png|120px]]<br>1885 - 1895<hr>'''[[AU]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[39,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,215 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,4935 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[3.076.000]] <hr>3.200.000<br> [[(125,98$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
===Étienne Richaud (2)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Trọng lượng | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Giá thành | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Étienne Richaud|Toàn quyền Étienne Richaud]] <br>(04/1888 - 05/1889)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|'''Vị Toàn quyền thứ 2 của Đông Dương thuộc Pháp'''}} | |||
|- | |||
| [[File:French Indo China by A. Patey.jpg|thumb|center|700px|{{center|'''1 piastre 1888_[[Type 1]]''']]}} ||[[File:Étienne Richaud.jpg|120px]] <br> {{center|1885 - 1895<hr>'''[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[39,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,215 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,4935 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[948.000]]}}|| {{center|3.200.000<hr>[[125,98$]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
===Jules Georges Piquet (3)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''ĐẾ CHẾ THỰC DÂN PHÁP<Hr>[[Liên bang Đông Dương]] <br> (1887 - 1954)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of France (1794–1815, 1830–1974, 2020–present).svg|center|130px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Emblem of the Gouvernement général de l'Indochine.svg|center|88px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Jules Georges Piquet|Toàn quyền Jules Georges Piquet]] <br>(05/1889 - 04/1891)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|'''Vị Toàn quyền thứ 3 của Đông Dương thuộc Pháp'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 Piastre of Indo-Chine 1889 UNC.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 piastre 1889_[[Type 1]]<hr>136 năm (2025)'''}} ||{{center|[[File:Portrait of Georges Jules Piquet.png|120px]]<br>1885 - 1895<hr>'''[[MS]]'''}} || style="background:#ceb"colspan="1"|{{center|'''Đường kính'''<br>[[39,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,215 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,4935 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[1.240.000]]<hr>5.500.000<br>[[(223,1$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:French Indo China by A. Patey.jpg|center|700px]]<hr>{{center|'''1 piastre 1890_[[Type 1]]<hr>135 năm (2025)'''}} ||{{center|[[File:Portrait of Georges Jules Piquet.png|120px]]<br>1885 - 1895<hr>'''[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[39,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,215 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,4935 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[6.108]]<hr>5.500.000<br>[[(223,1$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
===Jean-Marie de Lanessan (4)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''ĐẾ CHẾ THỰC DÂN PHÁP<Hr>[[Liên bang Đông Dương]] <br> (1887 - 1954)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of France (1794–1815, 1830–1974, 2020–present).svg|center|130px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Emblem of the Gouvernement général de l'Indochine.svg|center|86px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Jean-Marie de Lanessan|Toàn quyền Jean-Marie de Lanessan]] <br>(06/1891 - 12/1894)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|'''Vị Toàn quyền thứ 4 của Đông Dương thuộc Pháp'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 piastre Indochina 1893 AU.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 piastre 1893_[[Type 1]]<hr>131 năm (2025)'''}} ||{{center|[[File:Jean-Marie de Lanessan.jpg|120px]]<br>1885 - 1895<hr>'''[[XF]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[39,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,215 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,4935 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[795.000]]<hr>3.200.000<br>[[124,46$]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:French Indo China by A. Patey.jpg|center|700px]]<hr>{{center|'''1 piastre 1894_[[Type 1]]<hr>132 năm (2025)'''}} ||{{center|[[File:Jean-Marie de Lanessan.jpg|120px]]<br>1885 - 1895<hr>'''[[XF]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[39,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,215 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,4935 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[1.308.000]]<hr>3.200.000<br>[[124,46$]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
===Paul Armand Rousseau (5)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''ĐẾ CHẾ THỰC DÂN PHÁP<Hr>[[Liên bang Đông Dương]] <br> (1887 - 1954)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of France (1794–1815, 1830–1974, 2020–present).svg|center|130px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Emblem of the Gouvernement général de l'Indochine.svg|center|86px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Paul Armand Rousseau|Toàn quyền Paul Armand Rousseau]] <br>(02/1895 - 12/1896)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|'''Vị Toàn quyền thứ 5 của Đông Dương thuộc Pháp'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:French Indo China by A. Patey.jpg|center|700px]]<hr>{{center|'''1 piastre 1895_[[Type 1]]'''}} ||{{center|[[File:Rousseau, Armand (Dépêche coloniale illustrée, 1902-01-15).jpg|120px]]<br>1885 - 1895<hr>'''[[XF]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[39,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,3 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[1.782.000]]<hr>3.200.000<br>[[124,46$]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:French Indo China by A. Patey.jpg|center|700px]]<hr>{{center|'''1 piastre 1895_[[Type 2]]'''}}||{{center|[[File:Rousseau, Armand (Dépêche coloniale illustrée, 1902-01-15).jpg|120px]]<br>1895 - 1928<Hr>'''[[AU]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[39,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,3 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[3.798.000]]<hr>1.900.000<br>[[84,44$]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 piastre Indochina 1896A.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 piastre 1896_[[Type 2]]'''}}||{{center|[[File:Rousseau, Armand (Dépêche coloniale illustrée, 1902-01-15).jpg|120px]]<br>1895 - 1928<Hr>'''[[AU]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[39,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,3 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[11.858.000]]<hr>1.900.000<br>[[84,44$]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 piastre of Indochine 1896.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 piastre 1896_[[Type 2]]'''}}||{{center|[[File:Rousseau, Armand (Dépêche coloniale illustrée, 1902-01-15).jpg|120px]]<br>1895 - 1928<Hr>'''[[AU]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[39,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,3 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[11.858.000]]<hr>3.300.000 <br>[[129,92$]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|} | |||
===Paul Doumer (6)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''ĐẾ CHẾ THỰC DÂN PHÁP<Hr>[[Liên bang Đông Dương]] <br> (1887 - 1954)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of France (1794–1815, 1830–1974, 2020–present).svg|center|130px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Emblem of the Gouvernement général de l'Indochine.svg|center|86px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Paul Doumer|Toàn quyền Paul Doumer]] <br>(02/1897 - 10/1902)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|'''Vị Toàn quyền thứ 6 của Đông Dương thuộc Pháp'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="3"| | |||
|- | |||
| [[File:French Indo China by A. Patey.jpg|center|700px]]<hr>{{center|'''1 piastre 1897_[[Type 2]]}}||{{center|[[File:Paul Doumer by Eugène Disdéri circa 1880.jpg|120px]]<br>1895 - 1928<Hr>'''[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[39,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,3 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[2.511.000]]<hr>1.600.000<br>[[62,87$]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:French Indo China by A. Patey.jpg|center|700px]]<hr>{{center|'''1 piastre 1898_[[Type 2]]}}||{{center|[[File:Paul Doumer by Eugène Disdéri circa 1880.jpg|120px]]<br>1895 - 1928<Hr>'''[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[39,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,3 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[4.304.000]]<hr>1.600.000<br>[[62,87$]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 piastre Indochine 1899Ms.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 piastre 1899_[[Type 2]]}}||{{center|[[File:Paul Doumer by Eugène Disdéri circa 1880.jpg|120px]]<br>1895 - 1928<Hr>'''[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[39,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,3 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[4.681.000]]<hr>1.600.000<br>[[62,87$]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 piastre Indochine 1900A.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 piastre 1900_[[Type 2]]}}||{{center|[[File:Paul Doumer by Eugène Disdéri circa 1880.jpg|120px]]<br>1895 - 1928<Hr>'''[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[39,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,3 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[13.319.000]]<hr>2.500.000<br>[[98,04$]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 Piastre of Indochine 1900 AU.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 piastre 1900_[[Type 2]]}}||{{center|[[File:Paul Doumer by Eugène Disdéri circa 1880.jpg|120px]]<br>1895 - 1928<Hr>'''[[AU]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[39,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,3 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[13.319.000]]<hr>2.100.000<br>[[93,33$]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:French Indo China by A. Patey.jpg|center|700px]]<hr>{{center|'''1 piastre 1901_[[Type 2]]}}||{{center|[[File:Paul Doumer by Eugène Disdéri circa 1880.jpg|120px]]<br>1895 - 1928<Hr>'''[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[39,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,3 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[3.150.000]]<hr>1.600.000<br>[[62,87$]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:French Indo China by A. Patey.jpg|center|700px]]<hr>{{center|'''1 piastre 1902_[[Type 2]]}}||{{center|[[File:Paul Doumer by Eugène Disdéri circa 1880.jpg|120px]]<br>1895 - 1928<Hr>'''[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[39,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,3 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[3.327.000]]<hr>1.600.000<br>[[62,87$]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
===Jean Baptiste Paul Beau (7)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''ĐẾ CHẾ THỰC DÂN PHÁP<Hr>[[Liên bang Đông Dương]] <br> (1887 - 1954)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of France (1794–1815, 1830–1974, 2020–present).svg|center|130px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Emblem of the Gouvernement général de l'Indochine.svg|center|86px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Jean Baptiste Paul Beau|Toàn quyền Jean Baptiste Paul Beau]] <br>(10/1902 - 02/1907)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|'''Vị Toàn quyền thứ 7 của Đông Dương thuộc Pháp'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 piastre Indochine 1903 A.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 piastre 1903_[[Type 2]]}} ||{{center|[[File:M. BEAU, GOUVERNEUR GÉNÉRAL DE L'INDO-CHINE.png|120px]]<br>1895 - 1928<hr>'''[[XF]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[39,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,3 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[10.077.000]]<hr>2.000.000<br>[[85,84$]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 Piastre Indochina 1904.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 piastre 1904_[[Type 2]]}} ||{{center|[[File:M. BEAU, GOUVERNEUR GÉNÉRAL DE L'INDO-CHINE.png|120px]]<br>1895 - 1928<hr>'''[[AU]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[39,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,3 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[5.751.000]]<hr>1.300.000<br>[[57,78$]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:French Indo China by A. Patey.jpg|center|700px]]<hr>{{center|'''1 piastre 1905_[[Type 2]]}}||{{center|[[File:M. BEAU, GOUVERNEUR GÉNÉRAL DE L'INDO-CHINE.png|120px]]<br>1895 - 1928<Hr>'''[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[39,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,3 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[3.561.000]]<hr>1.600.000<br>[[62,87$]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 piastre Indochine 1906.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 piastre 1906_[[Type 2]]}} ||{{center|[[File:M. BEAU, GOUVERNEUR GÉNÉRAL DE L'INDO-CHINE.png|120px]]<br>1895 - 1928<hr>'''[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[39,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,3 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[10.194.000]]<hr>2.000.000 <br>[[83,33$]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
===Louis Alphonse Bonhoure=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''ĐẾ CHẾ THỰC DÂN PHÁP<Hr>[[Liên bang Đông Dương]] <br> (1887 - 1954)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of France (1794–1815, 1830–1974, 2020–present).svg|center|130px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Emblem of the Gouvernement général de l'Indochine.svg|center|86px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Louis Alphonse Bonhoure|Toàn quyền Louis Alphonse Bonhoure]] <br>(02/1907 - 09/1908)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|'''Toàn quyền tạm thời giữa Paul Beau và Wladislas Klobukowski'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 piastre Indochine 1907ms.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 piastre 1907_[[Type 2]]<hr>118 năm (2025)}} ||{{center|[[Tập tin:Nadar - Alphonse Bonhoure.jpg|120px]]<br>1895 - 1928<hr>'''[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[39,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,3 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[14.062.000]]<hr>2.200.000<br>[[86,61$]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
===Antony Wladislas Klobukowski (8)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''ĐẾ CHẾ THỰC DÂN PHÁP<Hr>[[Liên bang Đông Dương]] <br> (1887 - 1954)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of France (1794–1815, 1830–1974, 2020–present).svg|center|130px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Emblem of the Gouvernement général de l'Indochine.svg|center|86px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Antony Wladislas Klobukowski|Toàn quyền Antony Wladislas Klobukowski]] <br>(09/1908 - 01/1910)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|'''Vị Toàn quyền thứ 8 của Đông Dương thuộc Pháp'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 piastre Indochine 1908ms.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 piastre 1908_[[Type 2]]<hr>117 năm (2025)'''}} ||[[File:Antony Klobukowski.png|120px]]<br>{{center|1895 - 1928<hr>'''[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[39,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,3 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[13.986.000]]<hr>2.000.000<br>[[(78,74$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 piastre of Indochine 1909 MS.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 piastre 1909_[[Type 2]]<hr>116 năm (2025)'''}} ||[[File:Antony Klobukowski.png|120px]]<br>{{center|1895 - 1928<hr>'''[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[39,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,3 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[9.201.000]]<hr>3.700.000<br>[[(147,65$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
===Albert Jean George Marie Louis Picquié=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''ĐẾ CHẾ THỰC DÂN PHÁP<Hr>[[Liên bang Đông Dương]] <br> (1887 - 1954)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of France (1794–1815, 1830–1974, 2020–present).svg|center|130px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Emblem of the Gouvernement général de l'Indochine.svg|center|86px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Albert Jean George Marie Louis Picquié|Toàn quyền Albert Jean George Marie Louis Picquié]] <br>(01/1910 - 02/1911)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|'''Toàn quyền tạm quyền giữa Antony Wladislas Klobukowski và Albert Sarraut'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 piastre Indochine 1910.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 piastre 1910_[[Type 2]]<hr>110 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Albert Picquié Madagascar.jpg|120px]]<br>1895 - 1928<hr>'''[[XF]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[39,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,3 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[761.000]]<hr>2.050.000<br>[[91,11$]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
===Albert Sarraut (9)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''ĐẾ CHẾ THỰC DÂN PHÁP<Hr>[[Liên bang Đông Dương]] <br> (1887 - 1954)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of France (1794–1815, 1830–1974, 2020–present).svg|center|130px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Emblem of the Gouvernement général de l'Indochine.svg|center|86px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Albert Sarraut|Toàn quyền Albert Sarraut]]<br> (11/1911 - 01/1914)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|'''Vị Toàn quyền thứ 9 của Đông Dương thuộc Pháp'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 piastre Indochine 1913 MS.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 piastre 1913_[[Type 2]]<hr>112 năm (2025)'''}} ||{{center|[[File:Agence Rol - Albert Sarraut.jpg|120px]]<br> 1895 - 1928<hr>'''[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[39,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,3 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[3.244.000]]<hr>3.300.000<br>[[(134,15$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
===Maurice Long (12)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Trọng lượng | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Giá thành | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Maurice Long|Toàn quyền Maurice Long]]<br> (02/1920 - 04/1922)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|'''Vị Toàn quyền thứ 12 của Đông Dương thuộc Pháp'''}} | |||
|- | |||
| [[File:French Indo China by A. Patey.jpg|thumb|center|700px|{{center|'''1 piastre 1921_[[Type 2]]]]}}||[[Tập tin:Maurice Long.jpg|120px]]<br>{{center|1895 - 1928<Hr>'''[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[39,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,3 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[4.850.000]]}}|| {{center|1.600.000<hr>[[62,87$]]}} | |||
|- | |||
| [[File:French Indo China by A. Patey.jpg|thumb|center|700px|{{center|'''1 piastre 1921 H_[[Type 2]]]]}}||{{center|[[Tập tin:Maurice Long.jpg|120px]]<br>1895 - 1928<Hr>'''[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[39,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,3 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[3.580.000]]}}|| {{center|1.600.000<hr>[[62,87$]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
===Martial Merlin (13)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''ĐẾ CHẾ THỰC DÂN PHÁP<Hr>[[Liên bang Đông Dương]] <br> (1887 - 1954)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of France (1794–1815, 1830–1974, 2020–present).svg|center|130px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Emblem of the Gouvernement général de l'Indochine.svg|center|86px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Martial Merlin|Toàn quyền Martial Merlin]]<br> (08/1922 - 04/1925)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|'''Vị Toàn quyền thứ 13 của Đông Dương thuộc Pháp'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:French Indo China by A. Patey.jpg|center|700px]]<hr>{{center|'''1 piastre 1922_[[Type 2]]'''}} ||{{center|[[File:Martial Merlin.jpg|120px]]<br> 1895 - 1928<hr>'''[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[39,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,3 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[1.150.000]]<hr>2.500.000<br>[[101,63$]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 piastre Indochine 1922H.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 piastre 1922H_[[Type 2]]'''}} ||{{center|[[File:Martial Merlin.jpg|120px]]<br> 1895 - 1928<hr>'''[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[39,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,3 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[7.420.000]]<hr>2.500.000<br>[[101,63$]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:French Indo China by A. Patey.jpg|center|700px]]<hr>{{center|'''1 piastre 1924_[[Type 2]]'''}} ||{{center|[[File:Martial Merlin.jpg|120px]]<br> 1895 - 1928<hr>'''[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[39,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,3 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[2.831.000]]<hr>2.500.000<br>[[101,63$]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
===Maurice Antoine François Monguillot (14)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''ĐẾ CHẾ THỰC DÂN PHÁP<Hr>[[Liên bang Đông Dương]] <br> (1887 - 1954)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of France (1794–1815, 1830–1974, 2020–present).svg|center|130px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Emblem of the Gouvernement général de l'Indochine.svg|center|86px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Maurice Antoine François Monguillot|Toàn quyền Maurice Antoine François Montguillot]]<br> (04/1925 - 11/1925)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|'''Vị Toàn quyền thứ 14 của Đông Dương thuộc Pháp'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 Piastre of Indochine 1925.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 piastre 1925 A_[[Type 2]]'''}} ||{{center|[[Tập tin:Maurice Antoine François Monguillot.png|120px]]<br> 1895 - 1928<hr>'''[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[39,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,3 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[2.882.000]]<hr>3.500.000<br>[[(137,53$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 Piastre of Indo-Chine 1925 UNC.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 piastre 1925 A_[[Type 2]]'''}} ||{{center|[[Tập tin:Maurice Antoine François Monguillot.png|120px]]<br>1895 - 1928<hr>'''[[MS]]'''}} || style="background:#ceb"colspan="1"|{{center|'''Đường kính'''<br>[[39,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,3 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[2.882.000]]<hr>2.700.000<br>[[(109,67$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
===Alexandre Varenne (15)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''ĐẾ CHẾ THỰC DÂN PHÁP<Hr>[[Liên bang Đông Dương]] <br> (1887 - 1954)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of France (1794–1815, 1830–1974, 2020–present).svg|center|130px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Emblem of the Gouvernement général de l'Indochine.svg|center|86px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Alexandre Varenne|Toàn quyền Alexandre Varenne]]<br> (11/1925 - 01/1928)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|'''Vị Toàn quyền thứ 15 của Đông Dương thuộc Pháp'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 Piastre Indochina 1926.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 piastre 1926_[[Type 2]]'''}}||{{center|[[File:Alexandre Varenne.jpg|120px]]<br>1895 - 1928<hr>'''[[AU]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[39,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,3 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[6.383.000]]<hr>1.400.000<br>[[62,22$]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:French Indo China by A. Patey.jpg|center|700px]]<hr>{{center|'''1 piastre 1927_[[Type 2]]'''}}||{{center|[[File:Alexandre Varenne.jpg|120px]]<br>1895 - 1928<hr>'''[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[39,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,3 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[8.183.999]]<hr>1.900.000<br>[[63,0$]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 Piastre French Indochina 1928.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 piastre 1928_[[Type 2]]'''}}||{{center|[[File:Alexandre Varenne.jpg|120px]]<br>1895 - 1928<hr>'''[[AU]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[39,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,3 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[15.290.000]]<hr>2.800.000<br>[[62,22$]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
===Pierre Marie Antoine Pasquier (16)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Trọng lượng | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''ĐẾ CHẾ THỰC DÂN PHÁP<Hr>[[Liên bang Đông Dương]] <br> (1887 - 1954)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of France (1794–1815, 1830–1974, 2020–present).svg|center|130px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Emblem of the Gouvernement général de l'Indochine.svg|center|86px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Pierre Marie Antoine Pasquier|Toàn quyền Pierre Marie Antoine Pasquier]]<br> (08/1928 - 01/1934)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|'''Vị Toàn quyền thứ 16 của Đông Dương thuộc Pháp'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 piastre Indochine 1931A.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 piastre 1931_[[Type 3]]<hr>94 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Pierre Pasquier DDXVN.jpg|120px]]<br>1931<hr>'''[[AU]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[35,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[20,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[18,0 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[16.000.000]]<hr>2.000.000<br>[[85,84$]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
* Dòng xu 1 piastre Đông Dương được đúc dưới thời Pháp thuộc với số lượng lớn, từ vài triệu xu mỗi năm, chỉ có 5 năm có số lượng đúc dưới 1 triệu xu, gồm: 1890 - 6.108 xu; 1893 - 795.000 xu; 1885 - 800.000 xu; 1888 - 948.000 xu; 1910 - 761.000 xu. | |||
==📕 DOLLAR THƯƠNG MẠI MEXICO== | |||
===Porfirio Díaz=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Mexico|HỢP CHỦNG QUỐC MEXICO]] <hr> [[Porfiriato|Thời kỳ Porfiriato]] <br>(1876 - 1911)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Mexico (1893-1916).svg|center|135px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of Mexico (1893–1916).svg|center|100px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Porfirio Díaz|Tổng thống Porfirio Díaz]]<br> (1884 - 1911)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Tổng thống thứ 33 của Mexico}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:8 reales 1890 MoAM.jpg|center|700px]]<hr>{{center|'''8 reales Con cò - 1890 MoAM<hr>135 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Porfirio diaz.jpg|120px]]<br>1824 - 1897<hr>'''[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[38,9 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90,3%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,07 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,444 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[?]]<hr>1.700.000<br>[[(73,59$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:8 reales Mexico 1892 DoJPMS.jpg|center|700px]]<hr>{{center|'''8 reales Con cò - 1892 DoJP'''}}||{{center|[[File:Porfirio diaz.jpg|120px]]<br>1824 - 1897<hr>'''[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[38,9 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90,3%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,07 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,444 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[1.597.000]]<hr>2.500.000<br>[[(110,13$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:8 reales Mexico 1892 ZsFZMS.png|center|700px]]<hr>{{center|'''8 reales Con cò - 1892 ZsFZ'''}}||{{center|[[File:Porfirio diaz.jpg|120px]]<br>1824 - 1897<hr>'''[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[38,9 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90,3%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,07 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,444 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[?]]<hr>2.500.000<br>[[(110,13$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:8 reales 1893 PiMR.jpg|center|700px]]<hr>{{center|'''8 reales Con cò - 1893 PiMR'''}}||{{center|[[File:Porfirio diaz.jpg|120px]]<br>1824 - 1897<hr>'''[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[38,9 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90,3%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,07 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,444 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[530.000]]<hr>2.500.000<br>[[(110,13$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 peso Mexico - 1899 ZsFZ.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 peso Con cò - 1899 ZsFZ'''}}||{{center|[[File:Porfirio diaz.jpg|120px]]<br>1899 - 1909<hr>'''[[AU]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[38,5 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90,27%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,073 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,439 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[5.618.000]]<hr>1.395.000<br>[[(59,87$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 Peso of Mexico 1903 AM.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 peso Con cò - 1903 MoAM'''}}||{{center|[[File:Porfirio diaz.jpg|120px]]<br>1899 - 1909<hr>'''[[AU]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[38,5 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90,27%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,073 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,439 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[22.396.000]]<hr>1.780.000<br>[[(75,75$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 Peso of Mexico 1909 GV.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 peso Con cò - 1909 MoGV'''}}||{{center|[[File:Porfirio diaz.jpg|120px]]<br>1899 - 1909<hr>'''[[AU]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[38,5 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90,27%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,073 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,439 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[2.924.000]]<hr>1.710.000<br>[[(72,77$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==📕 PHÁP - BOURBON== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#ccf"|[[File:Grand Royal Coat of Arms of France.svg|70px]] | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|TRIỀU ĐẠI BOURBON | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
[[File:Adquisicións territoriais de Luís XIV-gl.svg|thumb|250px|Vương quốc Pháp dưới thời Louis XIV]] | |||
Nhà Bourbon (Bơ-bần hay Buốt-bon) khởi thuỷ từ [[Robert xứ Clermont]] (1256 - 1317), ông là con trai thứ 6 và cũng là con trai út của Vua [[Louis IX của Pháp]] (là vị vua duy nhất của Pháp được phong thánh, Thánh Luđôvicô hay Thánh Louis) thuộc [[Vương tộc Capet]] và [[Marguerite xứ Provence]], mặc dù ông đóng vài trò không nổi bật trong suốt cuộc đời của mình, vì ông bị thương ở đầu khiến ông bị tàn tật từ nhỏ. Tuy nhiên sau 9 thế hệ thì ngai vàng nước Pháp đã thuộc về hậu duệ của ông (1589), khi tất cả hậu duệ của 5 người anh trai của ông đều tuyệt tự.<hr> | |||
[[Louis I xứ Bourbon]] con trai trưởng của [[Robert xứ Clermont]] và [[Beatrice xứ Burgundy]], sau khi thừa kế Công quốc Bourbon từ mẹ vào năm 1327, ông đã lấy Bourbon làm họ của mình.<hr> | |||
Thế hệ thứ 7 của Louis I xứ Bourbon là [[Antoine xứ Navarre|Antoine xứ Vendôme]], kết hôn với Nữ vương [[Juana III của Navarra]], vì thế theo luật ''[[jure uxoris]]'' ('''Du-re U-xo-rịt'''), ông đã trở thành vua của Navarra, đồng trị vì với vợ vào năm 1555 cho đến khi qua đời vào năm 1562. Antoine là vị quân chủ đầu tiên đến từ Nhà Bourbon.<hr> | |||
Con trai của Antoine và Juana III là [[Henri IV của Pháp|Henri]] trở thành vua của Navarra từ năm 1572 sau cái chết của mẹ và trở thành vua nước Pháp từ năm 1589 sau cái chết của Vua [[Henri III của Pháp|Henri III]] không để lại người thừa kế nam, dẫn đến [[Vương tộc Valois]] (1328-1589) tuyệt tự. Henri IV cai trị Pháp cho đến khi ông bị ám sát vào năm 1610. Henri IV là vị vua Pháp đầu tiên đến từ Nha Bourbon, kể từ đó... Nhà Bourbon cai trị nước Pháp cho đến [[Cách mạng Pháp]] vào năm 1792, Bourbon Phục hoàng từ nămm 1814 - 1815 và tiếp tục cai trị Pháp từ năm 1815 đến năm 1830, sau đó ngai vàng rơi vào tay của một dòng nhánh của Bourbon là [[Vương tộc Orléans|Nhà Orléans]] và trị vì Pháp cho đến năm 1848 thì Bourbon không bao giờ trở lại nắm ngai vàng nước Pháp nữa.<hr> | |||
Ngoài ra, Vương tộc Bourbon còn cai trị một số nhà nước khác ở châu Âu, bắt đầu từ [[Felipe V của Tây Ban Nha|Philip xứ Anjou]], cháu nội của Vua Mặt Trời [[Louis XIV của Pháp]] và [[María Teresa của Tây Ban Nha]]. Philip trở thành vua của Tây Ban Nha vào năm 1700 sau cái chết của [[Carlos II của Tây Ban Nha|Vua Carlos II]] thuộc [[Vương tộc Habsburg]] không để lại người thừa kế nam, Philip kế vị theo quyền của bà nội là María Teresa, ông lên ngôi với vương hiệu Felipe V, với điều kiện không được thừa kế thêm ngai vàng Pháp và không bao giờ cai trị hai quốc gia dưới hình thức liên minh cá nhân. Các hậu duệ của ông tiếp tục trở thành quân chủ của [[Công quốc Parma]], [[Vương quốc Etruria]], [[Công quốc Lucca]], [[Vương quốc Hai Sicilie]]. Tạo ra 2 nhánh triều đại quan trọng trên [[Bán đảo Ý]] là [[Vương tộc Borbone-Parma]] và [[Vương tộc Borbone-Hai Sicilie]].<hr> | |||
Vương tộc Bourbon vẫn còn cai trị Tây Ban Nha đến tận ngày nay, hiện đã là vị quân chủ thứ 11 - quốc vương đương nhiệm là [[Felipe VI của Tây Ban Nha]]. Năm 1919, [[Felice xứ Bourbon-Parma]] đã kết hôn với Nữ đại công tước [[Charlotte của Luxembourg]] và hậu duệ của họ là [[Jean của Luxembourg]] và con của ông, [[Henri của Luxembourg]] đã trị vì Luxembourg cho đến ngày nay.<hr> | |||
Có 8 vị vua Pháp đến từ Nhà Bourbon và nhánh Orléans, gồm có: [[Henri IV của Pháp|Henri IV]] (1589-1610); [[Louis XIII của Pháp|Louis XIII]] (1610-1643); [[Louis XIV của Pháp|Louis XIV]] (1643-1715); [[Louis XV của Pháp|Louis XV]] (1715-1774); [[Louis XVI của Pháp|Louis XVI]] (1774-1792); [[Louis XVIII của Pháp|Louis XVIII]] (3/5/1814-20/3/1815 & 8/7/1815-1824) và [[Charles X của Pháp|Charles X]] (1824-1830) và [[Louis-Philippe I của Pháp|Louis-Philippe I]] (1830-1848).<hr> | |||
3 chi nhánh quan trọng nhất của Nhà Bourbon Pháp và cả 3 dòng này đều là ''[[Prince du sang]]'', có huyết thống gần nhất đối với hoàng gia Pháp: | |||
* [[Thân vương xứ Condé]]: được lập ra vào khoảng năm 1557 để trao cho nhà lãnh đạo Tin lành người Pháp, [[Louis I xứ Condé|Louis de Bourbon]] (1530–1569), chú của [[Henri IV của Pháp|Vua Henry IV]], và các hậu duệ nam giới của ông đã truyền nhau tước vị này. Dòng Bourbon-Condé tuyệt tự vào năm 1830, khi hậu duệ đời thứ tám của vị thân vương đầu tiên là [[Louis Henri, Thân vương xứ Condé|Louis Henri Joseph de Bourbon]], qua đời mà không có con trai. | |||
* [[Thân vương xứ Conti]]: là một dòng nhánh của Thân vương xứ Condé, tước hiệu này bắt đầu từ cuộc hôn nhân giữa [[Louis I xứ Condé|Louis de Bourbon]] và [[Éléonore de Roye]] vào năm 1551. [[François de Bourbon, Thân vương xứ Conti|François de Bourbon]] (1558–1614), người con trai thứ ba của cuộc hôn nhân này, được phong tước hiệu hầu tước xứ Conti và sau đó được phong làm Thân vương xứ Conti. Ông qua đời mà không có con cái thừa tự vào năm 1614. Năm 1629, tước hiệu được tái lập lại cho [[Armand de Bourbon, Thân vương xứ Conti|Armand de Bourbon]], con trai thứ 2 của [[Henri II xứ Condé]] và là em trai của [[Louis II xứ Condé]] (là một vị tướng người Pháp và là đại diện nổi tiếng nhất của chi nhánh Condé). Sau cái chết của [[Louis François Joseph xứ Conti]] vào năn 1814, dòng này tuyệt tự. | |||
* [[Công tước xứ Orléans]]: Vương tộc này khởi nguồn từ [[Philippe I xứ Orléans|Vương tử Philippe]], con trai thứ 2 của [[Louis XIII của Pháp|Vua Louis XIII]] và là em trai của [[Louis XIV của Pháp|Vua Louis XIV]]. Năm 1626, [[Gaston của Pháp|Thân vương Gaston xứ Orléan]] em trai của vua Louis XIII qua đời mà không có con trai, tước vị Công tước xứ Orléan được vua Louis XIV trao lại cho em trai mình. Đến đời công tước thứ 6 là [[Louis-Philippe I của Pháp|Louis-Philippe III]] đã trở thành vua nước Pháp với vương hiệu Louis-Philippe I và vương triều này chỉ tại vị được 18 năm từ năm 1830-1848 thì xụp đổ. Vương tộc này có 2 chi nhánh quan trọng, gồm có: | |||
** [[Nhà Orléans-Braganza]]: được lập ra từ cuộc hôn nhân giữa Hoàng nữ [[Isabel của Brasil]] (con gái trưởng của Hoàng đế [[Pedro II của Brasil]]) và [[Gaston, Bá tước xứ Eu]]. Nếu [[Đế quốc Brasil]] không bị lật đổ vào năm 1889 thì dòng này sẽ nắm quyền trị vì Brasil. | |||
** [[Nhà Orléans-Montpensier]] và [[Nhánh Orléans-Galliera]]: được lập ra từ cuộc hôn nhân giữa [[María Luisa Fernanda của Tây Ban Nha]] (con gái của vua [[Fernando VII của Tây Ban Nha]], em gái của [[Isabel II của Tây Ban Nha]]) và [[Antoine xứ Montpensier]], con trai út của [[Louis-Philippe I của Pháp|Vua Louis-Philippe I]]. Con trai của Antoine xứ Montpensier là [[Antonio xứ Galliera|Antonio Maria Luis]] được thừa kế tước vị [[Công tước xứ Galliera]] vào năm 1890, từ đó dòng Montpensier chuyển sang tên gọi Galliera. Trong khi đó con gái của Antoine xứ Montpensier là [[María de las Mercedes của Orléans]] trở thành vợ của Vua [[Alfonso XII của Tây Ban Nha]], vì thế là mẹ của Vua Alfonso XIII và tổ tiên của các vua Tây Ban Nha đến tận ngày nay. | |||
===Louis XIV (3)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Vương quốc Pháp|VƯƠNG QUỐC PHÁP]]<hr>[[Vương tộc Bourbon|Triều đại Bourbon]]<br> (1589 - 1792)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of medieval France.svg|center|132px]]}}||{{center|[[File:Grand Royal Coat of Arms of France & Navarre.svg|center|62px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Louis XIV của Pháp|Vua Louis XIV]]<br>(1643 - 1715)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị quân chủ thứ 43 của Pháp và thứ 3 của Nhà Bourbon}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="3"| | |||
|- | |||
| [[File:1 écu Louis XIV of France - 1703 A.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 écu [[Louis XIV của Pháp|Louis XIV]] - 1703 A<hr>322 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Louis XIV of France.jpg|120px]]<br>1701 - 1704<hr>'''[[AU]]'''}} || style="background:#ceb"colspan="1"|{{center|'''Đường kính'''<br>[[41,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[91,7%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,45 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[25,17165 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[169.292]]<hr>12.816.000<br>[[(504,57$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#fbd"|LOUIS XVI CỦA PHÁP | |||
|- | |||
|style="background:LemonChiffon;"| | |||
'''[[Louis XIV của Pháp]]''' còn được gọi là '''Louis Đại đế''' (Louis the Great, Louis le Grand) hay '''Vua Mặt Trời''' (The Sun King, le Roi Soleil), là một quân chủ thứ 3 đến từ [[Nhà Bourbon]], đã cai trị với danh hiệu '''Vua của Pháp và Navarra''' từ ngày 14 tháng 5 năm 1643 cho đến khi ông qua đời vào năm 1715. Ông được xem là một trong những nhà chinh phạt lớn trong lịch sử. Triều đại '''''kéo dài 72 năm 110 ngày''''' đã khiến ông trở thành vị vua của một quốc gia có chủ quyền tại vị lâu nhất trong lịch sử. Pháp dưới thời Louis XIV là biểu tượng của thời đại chuyên chế ở châu Âu. | |||
* Trong các quân chủ châu Âu, nếu tính về thực quyền cai trị thì Hoàng đế '''[[Franz Joseph I của Áo]]''' có thời gian cai trị lâu hơn Louis XIV, vì 16 năm đầu ông được nhiếp chính, trong khi đó Franz Joseph thực sự cai trị liên tục trong 68 năm, Louis XIV và Franz Joseph đều xếp sau '''[[Johann II xứ Liechtenstein]]''', vì ông này cai trị trong 70 năm 91 ngày, xếp sau Nữ vương Elizabeth II với 70 năm 214 ngày, xếp sau Vua Thái Lan [[Bhumibol Adulyadej]] với 70 năm 126 ngày<hr> | |||
Ông lên ngôi vào năm 4 tuổi (giống trường hợp của Hoàng đế '''[[Quang Tự]]'''), mẹ ông là Ana của Tây Ban Nha đã trở thành nhiếp chính vương. Khi lên 9 tuổi, sau những cuộc nổi loạn, ông được dẫn đi ẩn náu khỏi kinh đô Paris. Ông cảm thấy bị sỉ nhục và nhất quyết muốn tự chủ, không để ai chi phối như [[Hồng y Richelieu]] đã chi phối cha ông và [[Hồng y Mazarin]] đã chi phối mẹ ông. Năm 1661, khi được 23 tuổi, Louis XIV mới chính thức cai trị vương quốc sau cái chết của Hồng y Mazarin. Là một người tuân thủ khái niệm về [[quyền lực thần thánh]], Louis XIV chủ trương thiết lập một triều đình chuyên chế, xóa bỏ tàn dư phong kiến phân quyền đã ảnh hưởng sâu sắc toàn bộ nước Pháp. Khi lên nắm quyền, Louis đích thân nắm quyền điều hành chính phủ và làm kinh ngạc triều đình của mình khi tuyên bố rằng ông sẽ cai trị mà không cần một thủ tướng.<hr> | |||
Ông sinh vào ngày 5 tháng 9 năm 1638, tại Lâu đài Château de Saint-Germain-en-Laye, là con trai của [[Louis XIII của Pháp|Vua Louis XIII]] và [[Ana của Tây Ban Nha|Vương nữ Ana của Tây Ban Nha]]. Cha mẹ của ông đã kết hôn được 23 năm trước khi sinh ra ông. Mẹ ông đã từng mang thai 4 lần, nhưng cả 4 lần đều bị hỏng. Do đó, mọi người coi ông như là một món quà mà Thiên Chúa ban tặng, và ngày sinh của ông là một phép lạ của Chúa Trời. Cũng vì vậy mà ông được đặt tên '''''Louis-Dieudonné''''' (Louis Chúa ban) và sớm mang danh hiệu Trữ quân nước Pháp: ''[[Dauphin của Pháp|Dauphin]]''.<hr> | |||
Louis bắt đầu triều đại của mình bằng các cải cách hành chính và tài chính. Năm 1661, kho bạc đứng bên bờ vực phá sản. Để khắc phục tình hình, Louis đã chọn [[Jean-Baptiste Colbert]] làm Tổng kiểm toán Tài chính vào năm 1665. Tuy nhiên, trước tiên Louis phải vô hiệu hóa [[Nicolas Fouquet]], Giám đốc Tài chính đầy quyền lực. Nicolas rất giàu có và xa hoa, vì ông ấy đã tham nhũng. Fouquet bị buộc tội biển thủ; Parlement tuyên bố ông có tội và tuyên án lưu đày; và cuối cùng Louis đã thay đổi bản án thành tù chung thân. Tình hình tài chính thay đổi trong vòng 6 năm; Năm 1661, số tiền thu được tương đương với 26 triệu bảng Anh, trong đó 10 triệu đã vào kho bạc. Chi tiêu vào khoảng 18 triệu bảng Anh, để lại thâm hụt 8 triệu. Năm 1667, số tiền thu ròng đã tăng lên 20 triệu bảng Anh, trong khi chi tiêu đã giảm xuống còn 11 triệu, để lại thặng dư 9 triệu bảng Anh.<hr> | |||
Thông qua cha mình là Louis XIII, ông là cháu nội của [[Henri IV của Pháp|Vua Henri IV]] và [[Maria de' Medici]], vì thế ông là cháu cố của [[Antoine của Navarre|Antoine xứ Bourbon]] và [[Juana III của Navarra|Nữ vương Juana III của Navarra]] - Thông qua bà nội, ông là cháu cố của [[Francesco I de' Medici|Đại công tước Francesco I de' Medici]] và [[Johanna của Áo]]; Thông qua mẹ mình, ông là cháu ngoại của [[Felipe III của Tây Ban Nha]] và [[Margaret của Áo, Vương hậu Tây Ban Nha|Margeret của Áo]] - Thông qua bà ngoại, ông là cháu cố của [[Karl II, Đại công tước Áo]] và [[Maria của Bayern (sinh 1551)|Maria xứ Bayern]].<hr> | |||
Vợ của ông là Vương nữ [[María Teresa của Tây Ban Nha]], xét ở phía mẹ, thì bà là chị họ đời đầu của ông, vì cha của bà, [[Felipe IV của Tây Ban Nha]] là anh ruột của mẹ Louis XIV. Trong khi đó, nếu xét vai vế ở phía mẹ của María Teresa thì bà là em họ của Louis, vì mẹ bà [[Élisabeth của Pháp]] là con em gái của Louis XIII.<hr> | |||
Ông có duy nhất một người em trai, đó là [[Philippe I xứ Orléans]], người lập ra [[Nhà Orléans]]. Philippe nhỏ hơn anh trai 2 tuổi. Ngay từ khi mới chào đời, ông đã được phong [[Bá tước và Công tước xứ Anjou|Công tước xứ Anjou]]. Năm 1660, sau cái chết của người chú [[Gaston, Công tước xứ Orléans]], ông đã được trao tước vị [[Công tước xứ Orléans]]. Tuy là một người [[đồng tính luyến ái]] nhưng ông đã 2 lần kết hôn. Thông qua những đứa con của hai cuộc hôn nhân của mình, Philippe trở thành tổ tiên của hầu hết vương gia Công giáo La Mã thời hiện đại, do đó ông có biệt danh là '''"ông nội của châu Âu"'''. Điển hình như trong cuộc hôn nhân giữa người con gái út của ông là [[Élisabeth Charlotte của Orléans]] với [[Leopold, Công tước xứ Lothringen]], đã đưa ông trở thành tổ tiên của [[Vương tộc Habsburg-Lothringen]]. Nhà Orleans đã góp cho nước Pháp một vị vua, đó là [[Louis-Philippe I của Pháp]] (1830-1840), hậu duệ đời thứ 5 của Philippe.<hr> | |||
Năm 1682, [[René-Robert Cavelier, Sieur de La Salle]], đã đi theo sông Mississippi đến [[Vịnh Mexico]] và tuyên bố lưu vực sông Mississippi rộng lớn được đặt theo tên của Vua Louis XVI, gọi nó là [[Louisiana (Tân Pháp)|Louisiane]].<hr> | |||
Cái chết của người cậu ruột đồng thời cũng là cha vợ của Louis là Vua [[Felipe IV của Tây Ban Nha]] vào năm 1665 đã thúc đẩy [[Chiến tranh Phân quyền]]. Năm 1660, Louis đã kết hôn với con gái cả của Felipe IV là [[María Teresa của Tây Ban Nha]], theo một trong những điều khoản của [[Hiệp ước Pyrenees]] năm 1659. Hiệp ước hôn nhân nêu rõ rằng Maria Theresa phải từ bỏ mọi yêu sách đối với lãnh thổ Tây Ban Nha cho chính mình và tất cả con cháu của bà. Tuy nhiên, Mazarin và Lionne đã đưa ra điều kiện từ bỏ là phải trả đầy đủ của hồi môn của Tây Ban Nha là 500.000 [[écu]]. Của hồi môn không bao giờ được trả và sau đó đã đóng một vai trò trong việc thuyết phục người anh họ đầu tiên của mình là [[Carlos II của Tây Ban Nha]] để lại đế chế của mình cho [[Felipe V của Tây Ban Nha|Philip, Công tước xứ Anjou]] (sau này là Felipe V của Tây Ban Nha), cháu nội trai của Louis XIV và Maria Theresa.<hr> | |||
Ông khuyến khích các nhà quý tộc hàng đầu đến sống tại Versailles. Điều này, cùng với lệnh cấm quân đội tư nhân, đã ngăn cản giới quý tộc lưu lại điền trang hoặc căn cứ quyền lực trong lãnh địa của mình, nơi mà họ thường tiến hành các âm mưu chống lại chính quyền hoàng gia. Do đó, Louis đã ép buộc và dụ dỗ giới quý tộc quân sự cũ (giới "quý tộc kiếm") trở thành cận thần nghi lễ của mình, làm suy yếu thêm quyền lực của họ. Thay vào đó, ông đã nuôi dưỡng những người dân thường hoặc giới quý tộc quan liêu mới được phong làm quý tộc (giới "quý tộc áo choàng"). Ông tin rằng quyền lực hoàng gia phát triển mạnh mẽ hơn bằng cách bổ nhiệm những người này vào các vị trí hành chính và điều hành cấp cao vì họ có thể dễ dàng bị sa thải hơn so với những quý tộc có dòng dõi lâu đời. Người ta tin rằng các chính sách của Louis bắt nguồn từ những trải nghiệm của ông trong thời kỳ [[Fronde]], khi những người đàn ông có dòng dõi cao quý sẵn sàng tham gia vào cuộc nổi loạn chống lại nhà vua của họ, người thực sự là họ hàng của một số người. Chiến thắng này trước giới quý tộc có thể đã đảm bảo chấm dứt các cuộc nội chiến lớn ở Pháp cho đến [[Cách mạng Pháp]] khoảng một thế kỷ sau đó.<hr> | |||
Louis quyết định đàn áp những người Tin Lành và hủy bỏ [[Sắc lệnh Nantes]] năm 1598, sắc lệnh trao cho những người [[Huguenot]] quyền tự do chính trị và tôn giáo. Ông coi sự tồn tại dai dẳng của đạo Tin Lành là lời nhắc nhở đáng xấu hổ về sự bất lực của hoàng gia. Xét cho cùng, Sắc lệnh là sự nhượng bộ thực dụng của ông nội ông là [[Henri IV của Pháp]] nhằm chấm dứt các cuộc [[Chiến tranh tôn giáo Pháp|Chiến tranh tôn giáo]] lâu đời ở Pháp. Một yếu tố khác trong suy nghĩ của Louis là nguyên tắc thịnh hành của châu Âu đương thời nhằm đảm bảo sự ổn định chính trị xã hội, ''[[Cuius Regio, Eius Religio|Cuius regio, eius religio]]'' ("vương quốc của ai, tôn giáo của người đó"), ý tưởng rằng tôn giáo của người cai trị phải là tôn giáo của vương quốc (như đã được xác nhận ban đầu ở Trung Âu trong [[Hòa ước Tôn giáo Augsburg]] năm 1555). Đến thời [[Louis XVI của Pháp]], [[Sắc lệnh Versailles]] được ban hành năm 1787, còn được gọi là Sắc lệnh khoan dung. Sắc lệnh này đã khôi phục lại quyền công dân và quyền tự do thờ cúng công khai cho những người không theo đạo Công giáo.<hr> | |||
'''''[[Đảo Pheasant]] Hòn đảo này là một condominium (hiểu nôm na là những vùng lãnh thổ thuộc chủ quyền của nhiều hơn một quốc gia) được quy định trong hiệp ước Pyrenees năm 1659, thuộc chủ quyền chung của Pháp và Tây Ban Nha'''''. Cứ luân phiên 6 tháng một lần, hòn đảo sẽ thuộc chủ quyền của Tây Ban Nha (Từ 1/2 đến 31/7) và Pháp ( Từ 1/8 đến 31/1). Tại hòn đảo này, Louis XIV đã gặp và đính ước hoàng gia với người vợ tương lại của mình là Maria Theresa của Tây Ban Nha vào năm 1659, và đây cũng là nơi mà nhiều cặp đôi hoàng gia lần đầu tiên gặp nhau, như [[Louis XIII của Pháp]] gặp Anne của Áo (1615), [[Felipe IV của Tây Ban Nha]] gặp Elisabeth của Pháp (1615), [[Carlos II của Tây Ban Nha]] gặp Marie Louise d'Orléán (1679), [[Louis XV của Pháp]] gặp Mariana Victoria của Tây Ban Nha (1721).<hr> | |||
Năm 1659, Pháp và Tây Ban Nha ký [[Hiệp ước Pyrenees]] ký kết tại [[Đảo Pheasant]] chấm dứt [[Chiến tranh Pháp – Tây Ban Nha (1635–1659)|cuộc chiến tranh kéo dài từ 1635]] với 2 nước. Hiệp ước này giúp cho Pháp đạt được một số lãnh thổ, bao gồm: [[Bá quốc Artois]] và những khu vực nhỏ hơn dọc biên giới với Đế chế La Mã Thần thánh; phần phía Bắc của [[Thân vương quốc Catalunya|Thân vương quốc Catalonia]] (bao gồm: [[Roussillon]], [[Conflent]], [[Vallespir]], [[Capcir]] và [[Cerdagne]], sau này gọi là [[Bắc Catalonia]]). Hiệp ước được ký giữa Louis XIV và Felipe IV cùng 2 thủ tướng của họ là [[Hồng y Mazarin]] và [[Luis Méndez de Haro]]. Đây được xem là thành công ngoại giao cuối cùng của Hồng y Mazarin. '''''(Theo Hiệp ước, Tây Ban Nha đã nhượng lại các pháo đài [[Stenay]], [[Thionville]] và [[Montmédy]] của Luxembourg và lãnh thổ xung quanh cho Pháp, với tổng diện tích bị mất là 1.060 km2, tương đương với 1/10 diện tích Công quốc Luxembourg vào thời điểm đó)'''''<hr> | |||
[[Marguerite Louise của Orléans]], con gái của Vương tử [[Gaston của Pháp]], cháu nội của [[Henri IV của Pháp]], vì thế Marguerite và Louis XIV là anh em họ đời đầu. Bà là vợ của [[Cosimo III de' Medici]], vì thế là mẹ của [[Gian Gastone de' Medici]], vị đại công tước cuối cùng của Toscana đến từ [[Nhà Medici]] và [[Anna Maria Luisa de' Medici]]. Marguerite theo chủ nghĩa tự do và có cách cư xử ngang ngược ngay từ khi còn nhỏ, vì thế mà mối quan hệ của bà với chồng và gia đình chồng rất khó khăn và thường cay đắng, với nhiều lần kêu gọi hòa giải từ Vua '''Louis XIV'''.<hr> | |||
Thi hài nằm đó mà không bị xáo trộn trong khoảng 80 năm cho đến khi những người cách mạng khai quật và tiêu hủy tất cả hài cốt được tìm thấy trong Vương cung thánh đường. Năm 1848, tại [[Nuneham House]], một mảnh tim của Louis XIV được bảo quản thông qua ướp xác, được lấy từ ngôi mộ của nhà vua và được giữ trong một chiếc khóa bạc của [[Edward Venables-Vernon-Harcourt|Lãnh chúa Harcourt]], [[Tổng giám mục xứ York]], đã được trao lại cho [[Viện phụ Westminster]] là [[William Buckland]], '''''người sau đó đã vô tình ăn phải một phần của mảnh tim'''''. | |||
|} | |||
===Louis XV (4)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Vương quốc Pháp|VƯƠNG QUỐC PHÁP]] <hr>[[Vương tộc Bourbon|Triều đại Bourbon]]<br> (1589 - 1792)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of medieval France.svg|center|132px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Grand Royal Coat of Arms of France & Navarre.svg|center|62px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="3"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="3"|{{center|'''[[Louis XV của Pháp|Vua Louis XV]]<br>(1643 - 1774)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="3"|{{center|Vị quân chủ thứ 44 của Pháp và thứ 4 của Nhà Bourbon}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="3"| | |||
|- | |||
| [[File:1 Ecu Louis XV 1765 L.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 écu [[Louis XV của Pháp|Louis XV]] - 1765 L<hr>260 năm (2025)'''}}||{{center|[[Tập tin:Louis XV of France.jpg|120px]]<br>1740 - 1774<hr>'''[[AU]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[41,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[91,7%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[29.488 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[27,0405]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[?]]<hr>7.181.000<br>[[(281,61$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#fbd"|LOUIS XV | |||
|- | |||
|style="background:LemonChiffon;"| | |||
Ông là con trai thứ 2 của [[Louis của Pháp, Tiểu Trữ quân|Louis, Công tước xứ Bourgogne]], và mẹ là [[Marie Adelaide của Savoia]], trưởng nữ của [[Vittorio Amedeo II của Sardegna|Vittorio Amedeo II, Công tước xứ Savoia]]. Sau khi chào đời, ông được tấn phong làm [[Công tước xứ Anjou]], tước phong trước đây của [[Felipe V của Tây Ban Nha|Vua Felipe V]] trước khi ông được thừa kế ngai vàng Tây Ban Nha. Ông nội của ông là [[Louis của Pháp, Đại Trữ quân|Louis Đại thái tử]] và cháu cố của [[Louis XIV của Pháp|Vua Louis XIV]]. | |||
Khi mới ra đời, khả năng ông được kế vị ngai vàng là rất thấp, vì trên ông còn có ông nội, cha và huynh trưởng. Nhưng ông nội của ông đã chết vì bệnh [[đậu mùa]] và năm 1711, đến năm 1712 thì mẹ và cha chết vì bệnh [[sởi]]. Cũng trong năm đó, ông cùng huynh trưởng là [[Louis, Công tước xứ Bourgogne (1707-1712)|Louis, Công tước xứ Bourgogne]] cũng mắc bệnh sởi. Anh của ông được điều trị theo cách truyền thống là chích máu và đã qua đời ngay sau đó. Bảo mẫu của Louis là [[Madame de Ventadour]] đã không cho phép bất cứ ai chích máu của ông và ông đã sống sót. Ngày 1 tháng 9 năm 1715, ông cố của ông là Louis XIV qua đời, ông mới '''''5 tuổi lên kế vị ngai vàng với vương hiệu Louis XV'''''. Từ năm 1715 cho đến khi ông 13 tuổi, [[Philippe II xứ Orléans]] nắm quyền Nhiếp chính vương thay ông cai trị vương quốc. | |||
Louis XV ở trên ngai vàng trong 58 năm, 261 ngày, sống thọ 64 tuổi, thời gian ông trị vì dài thứ 2 trong lịch sử của Pháp, chỉ xếp sau người tiền nhiệm Louis XIV. Người thừa kế ngai vàng tiếp theo chính là cháu nội của ông, [[Louis XVI của Pháp|Vua Louis XVI]]. Dưới thời trị vì của ông, Pháp đã sáp nhập [[Công quốc Lorraine]] và [[Cộng hòa Corse]]. | |||
Năm 1717, lúc đó Louis XV được 7 tuổi, ông đã tiếp đón Sa hoàng [[Pyotr Đại đế]], trái với nghi thức thông thường, vị Sa hoàng cao 2 mét đã bế ông lên tay và hôn ông. Đã có một vài bức tranh vẽ lại cảnh này. | |||
Năm 1725, lúc đó Louis XV lên 15 tuổi, đã kết hôn với [[Maria Leszczyńska của Ba Lan|Maria Leszczyńska]] 21 tuổi, là con gái của [[Stanisław I]], vị vua bị truất phế của [[Ba Lan]]. Cuộc hôn nhân có 10 đứa con, với 8 gái và 2 trai, trong đó có một người con trai sống đến tuổi trưởng thành, đó là [[Louis Ferdinand của Pháp|Thái tử Louis Ferdinand]] (1729-1765). Sự ra đời của người thừa kế được chời đợi từ lâu, đảm bảo cho sự tồn tại của vương triều lần đầu tiên từ [[1712]], được chào đón bằng một lễ hội rình rang khắp cả nước. Năm [[1747]], Thái tử cưới [[Maria Josepha của Ba Lan|Maria Josepha xứ Sachsen]], bà sinh ra 3 vị vua Pháp cuối cùng: [[Louis XVI]], [[Louis XVIII]], và [[Charles X của Pháp|Charles X]]. | |||
Vào ngày 5 tháng 1 năm 1757 lúc 4:00 chiều, khi Louis XV đang bước vào xe ngựa của mình tại Cung điện Versailles, '''[[Robert-François Damiens]]''' đã lao qua đội cận vệ của Nhà vua và đâm ông bằng một con dao bỏ túi. Kẻ ám sát không hề cố gắng trốn thoát và đã bị bắt giữ ngay lập tức. Tuy nhiên, nhờ vào bộ quần áo mùa đông dày nên con dao chỉ gây ra một vết thương nhẹ, đâm sâu 1 cm vào ngực. Vì sợ mình sẽ chết nên Louis đã gọi một người xưng tội đến. Khi [[Maria của Ba Lan|Vương hậu Maria]] chạy đến, ông đã cầu xin sự tha thứ cho vô số chuyện ngoại tình của mình. '''''Dimiens là người cuối cùng bị tử hình ở Pháp bằng hình thức [[Phanh thây]], hình thức tử hình truyền thống dành cho tội [[giết vua]]'''''. | |||
|} | |||
===Louis XVI (5)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Vương quốc Pháp|VƯƠNG QUỐC PHÁP]]<hr>[[Vương tộc Bourbon|Triều đại Bourbon]]<br> (1589 - 1792)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of medieval France.svg|center|132px]]}}||{{center|[[File:Grand Royal Coat of Arms of France & Navarre.svg|center|62px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Louis XVI của Pháp|Vua Louis XVI]]<br>(1774 - 1791)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị quân chủ thứ 45 của Pháp và thứ 5 của Nhà Bourbon}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="3"| | |||
|- | |||
| [[File:1 ecu Louis XVI of France - 1784.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 écu [[Louis XVI của Pháp|Louis XVI]] - 1784 M<hr>241 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Louis XVI de France Antoine-François Callet.jpg|120px]]<br>1774 - 1792<hr>'''[[UNC]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[41,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[91,7%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[29,488 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[27,0405]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[614.000]]<hr>3.480.000<br>[[(150,00$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#fbd"|LOUIS XVI | |||
|- | |||
|style="background:LemonChiffon;"| | |||
'''[[Louis XVI của Pháp|Vua Louis XVI]] (1754-1793)''' tên đầy đủ là ''Louis Auguste de France'', khi sinh ra đời ông được phong [[Công tước xứ Berry]]. Ông là con thứ 3 trong số 7 người con của [[Louis Ferdinand của Pháp|Thái tử Louis Ferdinand]] (1729-1765) và [[Maria Josepha của Ba Lan|Maria Josepha xứ Sachsen]], con gái của [[August III của Ba Lan|August III của Sachsen và Ba Lan]]. Khi mới ra đời, ông không được bố mẹ quan tâm, vì trên ông có anh trai là [[Louis-Joseph-Xavier của Pháp|Louis, Công tước xứ Bourgogne]], vừa thông minh vừa đẹp trai hơn. Song, Công tước xứ Bourgogne lìa đời năm 1761 khi mới lên chín. | |||
Louis từ nhỏ có sức khoẻ tốt, nhưng rất nhút nhát, ông tỏ ra xuất sắc trong học tập và có năng khiếu trong ngôn ngữ, lịch sử, địa lý và thiên văn học. Ngày 20/12/1765, lúc đó Louis '''11 tuổi''' thì cha qua đời, vì thế ông thừa kế tước vị Thái tử Pháp, xếp vị trí số 1 trong danh sách kế vị ngai vàng của ông nội là [[Louis XV của Pháp]] - ('''''Vua [[Ahmad Shah Qajar]] của Ba Tư lên ngôi năm 12 tuổi sau khi cha ông bị phế truất'''''). Mẹ cậu, suy sụp sau cái chết của chồng, qua đời ngày 13 tháng 3 năm 1767. | |||
Sau khi cha của ông qua đời năm 1765, '''''mẹ của ông chìm trong đau khổ và trầm cảm kéo dài'''''. Bà ít khi ăn uống, treo đầy tranh chân dung chồng trong phòng để gợi lại kỷ niệm. '''''Bà phản đối vể con trai lấy con gái của [[Maria Theresia của Áo]]'''', người khiến mẹ của mình bị mất quyền thừa kế. Bà qua đời ngày 13 tháng 3 năm 1767 vì bệnh lao, được chôn cất tại nhà thờ lớn Saint-Étienne ở Sens. Ba năm sau, con trai của bà cưới [[Maria Antonia của Áo]]. | |||
Sau cái chết của ông nội là Louis XV vào năm 1774, ông lúc đó gần 20 tuổi đã lên kế vị ngai vàng, phải gánh vác trách nhiệm nặng nề vào lúc chính phủ ngập trong nợ nần trong khi sự bất mãn đối với nền quân chủ "chuyên quyền" đang dâng cao. Louis cũng cảm thấy mình không có đủ phẩm chất của một nhà lãnh đạo. Nhà vua quyết tâm thực hiện các động thái lắng nghe người dân, Trong nhiều chiếu chỉ, nhà vua thường giải thích thiện ý của mình là chỉ nhằm mang lại ích lợi cho người dân. Khi được hỏi lý do tái triệu tập Nghị viện, Louis nói rằng, "Đây có thể là một động thái chính trị thiếu khôn ngoan, nhưng đối với ta, nó bày tỏ ước muốn được yêu thương". Quyết tâm làm một minh quân, Louis thổ lộ, '''''"cần phải luôn hỏi ý kiến người dân; họ không bao giờ sai"'''''. | |||
Một trong số các sự kiện quan trọng xảy ra trong thời trị vì của Louis XVI là việc ban hành '''[[Chỉ dụ Versailles]]''', còn gọi là Chỉ dụ Khoan dung vào '''ngày 7 tháng 11 năm 1787''', và trình Nghị viện ngày 29 tháng 1 năm 1788. Chỉ dụ này vô hiệu hóa '''[[Chỉ dụ Fontainbleau]]''' có hiệu lực kéo dài suốt 102 năm. Chỉ dụ Versaille dành cho người dân không phải Công giáo – gồm có người Kháng Cách Huguenot, Lutheran, và người Do Thái – tư cách dân sự và tư cách pháp lý tại Pháp, cho họ quyền công khai thực hành đức tin. | |||
Triều đình của Louis XVI ngập ngụa trong nợ nần, nhiều đời bộ trưởng của Louis đã bị bãi chức vì không thể giúp triều đình cải thiện tài chính. Việc nhà vua muốn tăng thuế đã bị Nghị viện bác bỏ, việc vay tiền nước người làm tình hình thêm nghiêm trọng. Tình trạng thêm nghiêm trọng sau khi Louis XVI quyết định ủng hộ '''[[Pháp trong Chiến tranh Cách mạng Mỹ|Cách mạng Mỹ]]''', với mong muốn sẽ chiếm lại các thuộc địa mà người Anh đã lấy của Pháp trong '''[[Chiến tranh Bảy năm]] (1758-1763)''' dưới thời ông nội là Louis XV. Pháp đã giúp người Mỹ giành độc lập, nhưng triều đình Pháp tiêu tốn mất '''1.066 triệu livre''' và toàn bộ là tiền vay với lãi suất cao, trong khi đó thuộc địa cũ thì không lấy lại được. | |||
'''Giám mục [[Pierre Pigneau de Behaine]] (Bá Đa Lộc)''' dẫn theo Thái tử [[Nguyễn Phúc Cảnh]] sang Pháp xin viện trợ từ triều đình Louis XVI giúp [[Nguyễn Ánh]] đánh Tây Sơn. Hiệp ước Versailles năm 1787 được ký kết, nhưng không thể thực hiện, vì chính quyền Louis đã rệu rả. Tuy nhiên Pigneau de Behaine vẫn kiên định trong nỗ lực hỗ trợ cho Nguyễn Ánh nhờ sự ủng hộ của những thương nhân người Pháp, chiêu mộ một lực lượng gồm binh sĩ và sĩ quan Pháp đóng góp cho công cuộc hiện đại hóa đạo quân của chúa Nguyễn, đây là một trong những nhân tố dẫn đến chiến thắng của Nguyễn Ánh đánh bại Tây Sơn, thống nhất Đại Việt trong năm 1802. | |||
Ngày 16/5/1770, Louis lúc đó 15 tuổi đã thành hôn với '''Nữ đại công tước [[Maria Antonia của Áo]] (14 tuổi)''', con gái út của [[Franz I của Thánh chế La Mã|Hoàng đế La Mã Thần thánh Franz I]] và [[Maria Theresia của Áo]]. Dân chúng Pháp không mấy thiện cảm với cuộc hôn nhân này. Liên minh với Áo đã đẩy nước Pháp vào một cuộc chiến thảm khốc (Chiến tranh Bảy năm) khiến Pháp bị Anh đánh bại, cả ở châu Âu lẫn Bắc Mỹ. Tại nước Pháp, Maria Antonia bị xem là vị khách không mời. | |||
Con gái của Louis, [[Marie-Thérèse Charlotte của Pháp|Marie-Thérèse Charlotte]], về sau là Công tước phu nhân xứ Angoulême, sống sót sau cuộc cách mạng, tích cực vận động Rô-ma '''phong thánh cho cha của bà'''. Năm 1793, Louis được Giáo hoàng [[Pius VI]] miêu tả như là một người tử đạo. Tuy nhiên, đến năm 1820, Bộ Giáo nghi ở Rô-ma cho biết không thể chứng minh Louis đã bị hành quyết vì lý do tôn giáo, chấm dứt mọi hi vọng phong thánh cho cựu vương. | |||
Ngày 15 tháng 1 năm 1793, Đại hội Quốc dân gồm 721 đại biểu bỏ phiếu. Với bằng chứng rõ ràng về việc Louis thông đồng với quân xâm lược, kết quả cuộc biểu quyết là 693 phiếu kết tội và 23 phiếu trắng. Trong cuộc biểu quyết diễn ra ngày hôm sau quyết định số phận cựu vương, có 288 đại biểu không đồng ý án tử hình nhưng ủng hộ biện pháp giam cầm hoặc cho sống lưu vong, có 72 đại biểu ủng hộ án tử hình nhưng hoãn việc thi hành án, và 361 đại biểu đòi hành quyết Louis ngay lập tức. [[Louis Philippe II xứ Orléans|Philippe Égalité]], cựu [[Công tước xứ Orléans]], cha của [[Louis-Philippe I của Pháp|Vua Louis-Philippe]] tương lai và là anh họ của Vua Louis, bỏ phiếu đòi xử tử cựu vương, đã gây ra nhiều cay đắng trong hoàng tộc Pháp. | |||
* Ngày kế tiếp, trong khi 310 đại biểu xin khoan hồng thì có đến 380 phiếu đòi hành quyết Louis. Và đó là quyết định cuối cùng. Thứ Hai, ngày 21 tháng 1 năm 1793, Louis bị đưa lên máy chém tại Quảng trường Cách mạng (nay là [[Quảng trường Concorde]]). Đao phủ [[Charles-Henri Sanson]] làm chứng rằng cựu vương can đảm khi đối diện với cái chết. Khi bước lên đoạn đầu đài, Louis tỏ ra nhẫn nhục trong phẩm giá. Ông chỉ nói ngắn gọn khẳng định mình vô tội ("Tôi tha thứ cho những ai gây ra điều bất hạnh này của tôi…"), tuyên bố rằng ông sẵn lòng chết và cầu nguyện cho người dân Pháp được tránh khỏi số phận tương tự. Nhiều người kể lại rằng có lẽ Louis XVI muốn nói thêm nữa, nhưng Antoine-Joseph Santerre, chỉ huy đội Vệ binh Quốc gia, ra lệnh nổi trống để cắt lời của tử tội. Một số nhân chứng thuật lại rằng sau nhát chém đầu tiên, đầu của Louis vẫn chưa rời khỏi cổ. Nhiều người từ trong đám đông chạy đến nhúng khăn tay của mình vào dòng máu của Louis đang chảy tràn xuống đất. | |||
* Ngay sau khi bị hành quyết, thi hài của Louis XVI được đưa đến [[Nghĩa trang Madeleine]] gần đó, nơi những người bị chém đầu tại Quảng trường Cách mạng được chôn trong các ngôi mộ tập thể. Trước khi chôn cất, một buổi lễ tôn giáo ngắn đã được tổ chức tại nhà thờ Madeleine. Sau đó đầu bị cắt đứt của ông được đặt giữa hai chân, được chôn trong một ngôi mộ không có bia mộ, với vôi sống rải trên cơ thể. Năm 1815, Louis XVIII đã chuyển hài cốt của anh trai Louis XVI và chị dâu Marie Antoinette và chôn cất tại [[Vương cung thánh đường Thánh Denis|Vương cung thánh đường St Denis]], nghĩa trang Hoàng gia của các Vua và Hoàng hậu Pháp.<hr> | |||
'''[[Louisville, Kentucky|Louisville]], thành phố lớn nhất tiểu bang [[Kentucky]]''', [[Hoa Kỳ]], được đặt theo tên của Vua Louis XVI. Năm 1780, Nghị viện bang [[Virginia]] đặt tên cho thành phố này để vinh danh Louis do nhà vua gởi quân đến giúp người Mỹ trong cuộc cách mạng (vào thời điểm ấy, [[Kentucky]] là một phần của ''Commonwealth of Virginia''. Mãi đến năm 1792, Kentucky mới trở thành tiểu bang thứ 15 của Hoa Kỳ). Trên lãnh thổ Hoa Kỳ, còn có nhiều địa danh khác mang tên "Louisville" ở các tiểu bang: [[Alabama]], [[Colorado]], [[Gruzia]], [[Illinois]], [[Kansas]], [[Nebraska]], [[New York]], [[Ohio]], [[Tennessee]].<hr> | |||
[[Vụ án chiếc vòng cổ kim cương]] (1784-1785) là một sự cố xảy ra tại triều đình Louis XVI liên quan đến vợ của ông là Marie Antoinette. Người ta tin rằng, Vương hậu đã lừa các thợ kim hoàn để mua một chiếc vòng cổ kim cương rất đắc tiền mà sau đó bà từ chối trả tiền. Trên thực tế, bà đã từ chối mua nhưng chữ ký của bà bị Jeanne de Valois-Saint-Remy làm giả, sau đó Jeanne bị kết án, sự kiện này đã bị hiểu lệch đi dẫn đến nó trở thành một trong những lý do khiến cho người dân Pháp bất mãn chế độ quân chủ mà củng hộ [[Cách mạng Pháp]]. | |||
|- | |||
! style="background:#fbd"|Marie Clotilde, Vương hậu của Sardegna | |||
|- | |||
|style="background:LemonChiffon;"| | |||
Marie Clotilde (1759 - 1802) là cháu nội gái lớn nhất sống đến tuổi trưởng thành của Vua [[Louis XV của Pháp]], bà là con gái của [[Louis Ferdinand của Pháp|Đại thái tử Louis Ferdinand]] và người vợ thứ 2 [[Maria Josepha của Ba Lan]], vì thế bà là em gái của 3 vị vua cuối cùng của Nhà Bourbon: [[Louis XVI của Pháp|Louis XVI]], [[Louis XVIII của Pháp|Louis XVIII]] và [[Charles X của Pháp]]. | |||
Bà bị béo phì tử bé nên '''''được đặt biệt danh là Gros-Madame (quý bà béo)''''' khi còn trẻ. Bà không thích vợ của anh trai Louis XVI là [[Maria Antonia của Áo|Vương hậu Maria Antonia]], điều này đã gây ra một số sự xúc phạm tại triều đình. | |||
Năm 1775, bà được vua anh Louis XVI chỉ hôn cho [[Carlo Emanuele IV của Sardegna|Carlo Emanuele của Sardegna, Thân vương xứ Piemonte]], con trai cả của [[Vittorio Amedeo III của Sardegna]] và [[María Antonia Fernanda của Tây Ban Nha]], người sẽ thừa kế ngai vàng Sardegna trong tương lai. | |||
Khi lần đầu tiên gặp Clotilde, '''''bố chồng của bà lo ngại rằng cân nặng của bà có thể ảnh hưởng đến khả năng sinh con của bà. Chú rể được cho là đã bình luận rằng ông đã được trao "nhiều thứ hơn để tôn thờ"'''''. Clotilde đã thiết lập được mối quan hệ tốt đẹp với gia đình chồng và trở nên nổi tiếng với công chúng ở Vương quốc Sardegna. '''''Bố chồng bà đã gọi bà là thiên thần hòa bình vì bà thường xuyên làm trung gian hòa giải giữa các thành viên trong gia đình khi họ có xung đột''''', đặc biệt là giữa ông và chồng bà. | |||
Mặc dù cuộc hôn nhân được sắp xếp vì lý do chính trị, Clotilde và Carlo Emanuele đã trở nên hết lòng với nhau, đoàn kết trong lòng mộ đạo và niềm tin mạnh mẽ vào đức tin Công giáo. Tuy '''''cuộc hôn nhân của bà và vua Carlo Emanuele IV của Sardegna không có con cái''''', nhưng hai vợ chồng rất yêu thương nhau. Sau khi Clotilde qua đời, Carlo Emanuele IV '''''đau buồn đến mức đã tuyên bố thoái vị''''', và nhường ngôi lại cho em trai. | |||
Người anh cả của bà, [[Louis XVI của Pháp]], chị dâu của bà, [[Maria Antonia của Áo]]; và em gái [[Élisabeth Philippe của Pháp|Élisabeth]], đều bị hành quyết vào năm 1793–1794. Ban đầu, bà hy vọng rằng Élisabeth sẽ không bị hành quyết, vì tầm quan trọng chính trị của em gái tương đối nhỏ, và do đó, tin tức về vụ hành quyết của em gái đã gây sốc. Sau khi em gái mình bị hành quyết, Clotilde tuyên bố ý định sống trong trạng thái sám hối suốt quãng đời còn lại: '''''từ năm đó cho đến khi qua đời, bà chỉ mặc những chiếc váy len xanh đơn giản, cắt tóc và đội một chiếc mũ đơn giản, vứt bỏ mọi đồ trang sức ngoại trừ một chiếc nhẫn và một cây thánh giá, và ngừng đến nhà hát và lễ hội'''''. | |||
|} | |||
===Louis XVIII (6)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Vương quốc Pháp|VƯƠNG QUỐC PHÁP]] <hr> [[Bourbon phục hoàng]] <br> 1814 - 1815 & 1815 - 1830'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of the Kingdom of France (1814-1830).svg|center|131px]]}}||{{center|[[File:Coat of Arms of the Bourbon Restoration (1815-30) (1).svg|center|65px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Louis XVIII của Pháp|Vua Louis XVIII]]<br>(1814 - 1815 & 1815 - 1824)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị quân chủ thứ 46 của Pháp và thứ 6 của Nhà Bourbon}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="3"| | |||
|- | |||
| [[File:5 franc Louis XVIII of France - 1815.png|center|700px]]<hr>{{center|'''5 franc [[Louis XVIII của Pháp|Louis XVIII]] [[dressed bust]] - 1815 L<hr>210 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Gérard - Louis XVIII of France in Coronation Robes.jpg|120px]]<br>1814 - 1815<hr>'''[[XF]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[37,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[25,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[22,5 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[1.129.771]]<hr>2.900.000<br>[[(125,54$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:5 Francs - Louis XVIII bare bust 1824 A.png|center|700px]]<hr>{{center|'''5 franc [[Louis XVIII của Pháp|Louis XVIII]] [[bare head]] - 1824 A<hr>201 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Gérard - Louis XVIII of France in Coronation Robes.jpg|120px]]<br>1814 - 1815<hr>'''[[XF]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[37,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[25,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[22,5 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[9.064.043]]<hr>1.856.000<br>[[(79,66$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
===Charles X (7)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Vương quốc Pháp|VƯƠNG QUỐC PHÁP]] <hr> [[Bourbon phục hoàng]] <br> 1814 - 1815 & 1815 - 1830'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of the Kingdom of France (1814-1830).svg|center|131px]]}}||{{center|[[File:Coat of Arms of the Bourbon Restoration (1815-30) (1).svg|center|65px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Charles X của Pháp|Vua Charles X]] <br>(1824 - 1830)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị quân chủ thứ 47 của Pháp và thứ 7 cũng như cuối cùng của Nhà Bourbon}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:5 Francs - Charles X 1st type 1826 A.png|center|700px]]<hr>{{center|'''5 franc [[Charles X của Pháp|Charles X]]_[[1st type]] - 1826 A<hr>199 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Charles X of France in coronation robes (by Henry Bone) - Metropolitan Museum of Art.jpg|120px]]<br>'''1824 - 1826 <hr> [[XF]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[37,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[25,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[22,5 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[7.168.865]]<hr>2.088.000 <br> [[(89,61$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:5 franc Charles X 12nd type - 1827 B.png|center|700px]]<hr>{{center|'''5 franc [[Charles X của Pháp|Charles X]]_[[2nd type]] - 1827 B<hr>198 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Charles X of France in coronation robes (by Henry Bone) - Metropolitan Museum of Art.jpg|120px]]<br>'''1827 - 1830 <hr> [[AU]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[37,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[25,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[22,5 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[2.790.408]]<hr>3.525.000 <br> [[(89,61$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
|} | |||
==📕 PHÁP - ORLEANS== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#ccf"|[[File:Coat of arms of the Orléanist pretender to King of the French.svg|70px]] | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|Vương tộc Orleans | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
===Louis-Philippe I=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Vương quốc Pháp|VƯƠNG QUỐC PHÁP]] <hr> [[Quân chủ tháng Bảy]] <br> (1830 - 1848)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Royal Standard of Louis-Philippe I of France (1830–1848).svg|center|120px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of Arms of the July Monarchy (1831-48).svg|center|65px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Louis-Philippe I của Pháp|Vua Louis-Philippe I]] <br>(1830 - 1848)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị quân chủ thứ 48 của Vương quốc Pháp và duy nhất của Nhà Orleans}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:5 Francs - Louis-Philippe I 1834.png|center|700px]]<hr>{{center|'''5 Franc [[Louis-Philippe I của Pháp|Louis-Philippe I]] - 1834T<hr> 191 năm (tính từ 2025)'''}}||{{center|[[File:Louis-Philippe I, painting at Iolani Palace (20189822626) (crop).jpg|100px]]<br>'''1832 - 1843 <hr>[[MS|UNC]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[37,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[25,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[22,5 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[2.118.377]]<hr>4.800.000<br>[[(184,62$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#fbd"|Louis-Philippe I | |||
|- | |||
|style="background:LemonChiffon;"| | |||
Louis-Philippe là con trai trưởng của [[Louis Philippe II xứ Orléans]] (1747-1793) và [[Louise Marie Adélaïde de Bourbon]], cả cha và mẹ của ông đều được thừa kế khối tài sản khổng lồ. Của hồi môn của mẹ ông lên đến 6 triệu livre, thu nhập hàng năm là 240.000 livre (sau này tăng lên 400.000 livre), cũng như đất đai, tước hiệu, nhà ở và đồ đạc.<hr> | |||
Trước khi vua [[Louis XVI của Pháp]] được đưa ra toà vì tội phản quốc, cha của ông là [[Louis Philippe II xứ Orléans]] đã nhất trí với những người bạn thân rằng ông sẽ bỏ phiếu chống lại việc hành quyết nhà vua, nhưng sau đó ông đã thay đổi ý định và bỏ phiếu đồng ý xử tử Louis XVI. Nhà vua đặc biệt bị sốc trước tin tức này, ông tuyên bố: ''"Tôi thực sự đau lòng khi thấy Monsieur d'Orléans, người họ hàng của tôi, đã bỏ phiếu cho việc xử tử tôi"''. Nhưng chỉ 8,5 tháng sau khi Louis XVI bị xử tử, cha của ông cũng bị khép vào tội phản quốc và bị xử chém.<hr> | |||
Thông qua con gái của mình là [[Clémentine của Orléans]], ông là cha vợ của [[August xứ Sachsen-Coburg và Gotha]], vì thế ông là ông ngoại của Ferdinand I của Bulgaria (vị vua đầu tiên của [[Vương quốc Bulgaria]]), ông cố ngoại của [[Boris III của Bulgaria]] và [[Kiril, Thân vương xứ Preslav]]. | |||
*Thân vương Kiril trở thành người đứng đầu hội đồng nhiếp chính cho cháu mình là [[Simeon Sakskoburggotski|Simeon II của Bulgaria]]. Tháng 1 năm 1945, ông bị chính quyền cộng sản kết án tử hình, vào đêm ngày 1 tháng 2 năm 1945, ông bị hành quyết tại Nghĩa trang Trung tâm Sofia cùng với cựu Thủ tướng kiêm Nhiếp chính Giáo sư Bogdan Filov, Nhiếp chính Nikola Mihov, cùng một loạt cựu bộ trưởng nội các, cố vấn hoàng gia và 67 nghị sĩ. Ngày 26/8/1996, Tòa án Tối cao đã hủy bản án ngày 1/2/1945 kết án tử hình ba nhiếp chính, bộ trưởng và ủy viên hội đồng.<hr> | |||
|} | |||
|} | |||
==🌈 TỔNG TÀI PHÁP== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Trọng lượng | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đệ Nhất Cộng hòa Pháp|ĐỆ NHẤT CỘNG HÒA PHÁP]] <br/> (1792 - 1804) <hr> [[Chế độ tổng tài Pháp|Chế độ Tổng tài]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of France (1794–1815, 1830–1974, 2020–present).svg|center|130px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of Arms of the First French Republic.svg|center|80px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="3"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="3"|{{center|'''[[Napoleon I|Đệ nhất Tổng tài Napoleon Bonaparte]]<br>(1799 - 1804)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="3"|{{center|Đệ nhất Tổng tài duy nhất của Cộng hòa Pháp}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="3"| | |||
|- | |||
| [[File:5 Francs Napoleon Premier consul An XI - 1802.png|center|700px]]<hr>{{center|'''5 franc [[Napoleon I|Napoleon Tổng tài]] - 1802 AN 11<hr>223 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Jean Auguste Dominique Ingres, Portrait de Napoléon Bonaparte en premier consul.jpg|120px]]<br>1802 - 1803<hr>'''[[AU]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[37,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[25,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[22,5 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[3.877.151]]<hr>8.000.000<br/>[[346,32$]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="3"|<hr/> | |||
|} | |||
==🌈 ĐỆ NHẤT ĐẾ CHẾ PHÁP== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#ccf"|[[File:Grandes Armes Impériales (1804-1815)2.svg|70px]] | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|HOÀNG TỘC BONAPARTE | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
[[File:Map administrative divisions of the First French Empire 1812-en.svg|thumb|270px|Bản đồ Đế chế Pháp thời cực thịnh]] | |||
[[Vương tộc Bonaparte|Hoàng tộc Bonaparte]] có nguồn gốc ban đầu từ [[Genova]] trên Bán đảo Ý. Vương triều chính thức thành lập vào năm 1804 bởi [[Napoleon I|Hoàng đế Napoleon]], người sáng lập ra [[Đệ Nhất Đế chế Pháp]]. Napoleon là con trai của nhà quý tộc nhỏ người gốc Genova là [[Carlo Buonaparte]], sống tại [[Đảo Corse]], bản thân Napoleon là một quân nhân, thăng tiến nhanh chóng trên đường binh nghiệp trong [[Cách mạng Pháp]], lên nắm quyền và trở thành [[Chế độ tổng tài Pháp|Đệ nhất tổng tài]] của [[Đệ Nhất Cộng hòa Pháp]]. 5 năm sau [[Đảo chính ngày 18 tháng Sương Mù]] (11/1799), Napoleon xưng đế, lập ra [[Đệ Nhất Đế chế Pháp]] (1804), kể từ đây Napoleon cùng đội quân của mình - [[Grande Armée]], đã tham gia vào các trận chiến chinh phục trên khắp [[châu Âu]], thống trị châu lục này thông qua một loạt các chiến thắng quân sự trong [[Chiến tranh Napoléon]]. Ông đã đưa các thành viên gia đình Bonaparte lên làm vua một số quốc gia đồng minh, mở rộng quyền lực của vương triều. | |||
* Gia đình Bonaparte ([[tiếng Ý]] ban đầu: ''Buonaparte'') là những người theo chủ nghĩa yêu nước ở các thành bang [[Sarzana]], [[San Miniato]] và [[Florence]] của [[Bán đảo Ý]]. Tên bắt nguồn từ tiếng Ý: buona ("tốt") và parte ("phần" hoặc "bên"). Trong tiếng Ý, cụm từ "buona parte" được sử dụng để xác định một phần nhỏ của kích thước đáng kể, nhưng không xác định, trong tổng số. | |||
* Gianfaldo Buonaparte là người thuộc gia tộc Buonaparte đầu tiên được biết đến tại [[Sarzana]] vào khoảng năm 1200. Hậu duệ của ông là Giovanni Buonaparte vào năm 1397 kết hôn với Isabella Calandrini, em họ của [[hồng y]] [[Filippo Calandrini]] sau này. Giovanni trở thành thị trưởng của Sarzana và được [[Gian Maria Visconti|Giovanni Maria Visconti]] bổ nhiệm làm ủy viên của [[Lunigiana]] vào năm 1408. Con gái của ông, Agnella Berni, là bà cố của nhà thơ Ý [[Francesco Berni]] và chắt của họ Francesco Buonaparte là một lính [[kỵ binh]] đánh thuê phục vụ cho [[Ngân hàng Saint George|Ngân hàng Genoese của Saint George]]. | |||
* Năm 1490, Francesco Buonaparte đến đảo [[Corsica]], nơi được kiểm soát bởi ngân hàng. Năm 1493, ông kết hôn với con gái của Guido da Castelletto, đại diện của Ngân hàng Saint George ở [[Ajaccio]], Corsica. Hầu hết con cháu của họ trong các thế hệ tiếp theo là thành viên của hội đồng thị trấn Ajaccio. Cha của Napoléon, [[Carlo Buonaparte]], đã nhận được bằng sáng chế quý tộc từ Vua [[Louis XV của Pháp]] vào năm 1771. | |||
* Cũng có một gia đình Buonaparte ở [[Florence]]; tuy nhiên, mối quan hệ cuối cùng của nó với những người Buonaparte ở [[Sarzana]] và [[San Miniato]] vẫn chưa được biết. [[Jacopo Buonaparte]] ở San Miniato '''''là bạn và là cố vấn của [[Giáo hoàng Clêmentê VII|Giáo hoàng Clement VII]] của [[Nhà Medici]]'''''. Jacopo cũng là nhân chứng và đã viết bài tường thuật về '''"Sack of Rome (1527)"''', đây là một trong những tài liệu lịch sử quan trọng nhất kể lại sự kiện đó. Tuy nhiên, hai trong số các cháu trai của Jacopo là Pier Antonio Buonaparte và Giovanni Buonaparte, đã tham gia vào cuộc nổi dậy của Medici năm 1527, sau đó họ bị trục xuất khỏi Florence và sau đó được phục hồi bởi [[Alessandro de' Medici, Công tước xứ Florence]]. Anh trai của Jacopo là Benedetto Buonaparte duy trì sự trung lập về chính trị. '''''Nhánh San Miniato bị tuyệt tự cùng với Jacopo vào năm 1550'''''. Thành viên cuối cùng của gia đình Florence là một giáo sĩ tên là Gregorio Bonaparte, người qua đời năm 1803. | |||
* Có một hầm mộ của gia tộc Buonaparte nằm trong Nhà thờ San Francesco ở [[San Miniato]]. Hầm mộ thứ hai, Chapelle Impériale, được xây dựng bởi [[Napoléon III]] ở [[Ajaccio]] 1857.<hr> | |||
Nhà Bonaparte đã thành lập ra Hoàng gia Pháp (Imperial House of France) trong thời Đệ Nhất Đế chế Pháp, bao gồm cả một số thành viên không mang họ Bonaparte. Ngoài việc nắm giữ tước hiệu Hoàng đế của Pháp, triều đại Bonaparte còn nắm giữ nhiều lãnh thổ và tước hiệu khác trong suốt [[Chiến tranh Napoléon]], bao gồm [[Vương quốc Ý (Napoléon)|Vương quốc Ý]], [[Tây Ban Nha dưới thời Joseph Bonaparte|Vương quốc Tây Ban Nha]], [[Vương quốc Westphalia]], [[Vương quốc Holland]] và [[Vương quốc Napoli (Napoléon)|Vương quốc Napoli]], [[Thân vương quốc Lucca và Piombino]]... Những vương triều này được trị vì bởi người Nhà Bonaparte. Trong thời trị vì của Hoàng đế Napoleon I, Gia đình hoàng gia Pháp bao gồm các cá nhân có mối quan hệ huyết thống với hoàng đế như: anh em, vợ cùng các con. Ngoài ra còn có một số nhân vật cũng được đưa vô danh sách hoàng gia dù không mang họ Bonaparte, cụ thể là em rể [[Joachim Murat]], người chú [[Joseph Fesch]] và [[Eugène de Beauharnais]] (con riêng của vợ Napoleon). | |||
* Hoàng đế Napoleon phong cho anh trai là [[Joseph Bonaparte]] làm vua của Vương quốc Napoli (1806 - 1808), sau ông được đưa lên ngai vàng Vương quốc Tây Ban Nha và Tây Ấn (1808-1813). | |||
* Sau khi Joseph trở thành vua Tây Ban Nha, ngai vàng Napoli để lại cho người em rể [[Joachim Murat]] (1808-1815), chồng của [[Caroline Bonaparte]]. Trước đó, Joachim cũng được phong là [[Đại công quốc Berg|Đại Công tước xứ Berg và Clèves]] (1806-1808). | |||
* Năm 1805, Hoàng đế Napoleon hợp nhất [[Cộng hòa Ý (Napoléon)|Cộng hòa Ý]] với [[Cộng hòa Venezia]] để lập ra [[Vương quốc Ý (Napoléon)|Vương quốc Ý]], lúc đầu ông muốn trao nó cho anh trai mình là [[Joseph Bonaparte]] nhưng bị từ chối, sau đó ông muốn trao nó cho [[Napoléon-Charles Bonaparte]] (con trai của '''''[[Louis Napoléon Bonaparte|Louis Bonaparte vua của Holland]]''''') nhưng cũng không được, cuối cùng ông đã tự mình trở thành vua Ý và trao quyền cai trị lại cho người con riêng của vợ là '''''[[Eugène de Beauharnais]]''''', với tư cách là Phó vương Ý. | |||
* Tháng 07/1805, Hoàng đế Napoleon cho sáp nhập [[Cộng hòa Lucca]] với [[Thân vương quốc Piombino]], tạo ra [[Thân vương quốc Lucca và Piombino]] và trao nó cho em gái mình là '''''[[Élisa Bonaparte]]''''' cùng chồng '''''[[Félix Baciocchi]]''''' cai trị. Tháng 3/1806, Napoléon đưa lãnh thổ [[Công quốc Massa và Carrara]] khỏi Vương quốc Ý của mình để nhập vào lãnh thổ của Élisa. Năm 1807, Napoleon xoá bỏ '''''[[Vương quốc Etruria]]'''', cho tái lập lại Đại công quốc Toscana và năm 1809 trao cho Élisa. '''''Bà mà người phụ nữ duy nhất trong Hoàng tộc Bonaparte được trao vương quyền cai trị'''''. | |||
* Hoàng đế Napoleon cho xoá bỏ [[Cộng hòa Batavia]] và thành lập [[Vương quốc Holland]] (1806-1810) và trao nó lại cho em trai mình là '''''[[Louis Napoléon Bonaparte|Louis Bonaparte]]''''' (Louis I). Ông được hôn phối với [[Hortense de Beauharnais]], con riêng của vợ Napoleon và là em gái của Phó vương Ý [[Eugène de Beauharnais]]. Con trai thứ 3 của ông sau này là [[Napoleon III|Louis Napoleon Bonaparte]] đã cho phục hưng lại triều đại Bonaparte khi lên ngôi hoàng đế và lập ra [[Đệ Nhị Đế chế Pháp]] với đế hiệu '''''Napoleon III'''''. Vì Louis I không phục tùng quyền lợi của Pháp nên Napoleon đã tước bỏ ngai vàng của ông vào năm 1810. | |||
* Năm 1807, Napoleon cho sáp nhập các lãnh thổ được [[Vương quốc Phổ]] nhượng lại trong [[Hòa ước Tilsit]], trong số đó có [[Công quốc Magdeburg]] ở phía Tây [[Elbe|sông Elbe]], ngoài ra còn có các lãnh thổ [[Công quốc Brunswick-Lüneburg]] của [[Tuyển hầu xứ Hannover]], [[Thân vương quốc Brunswick-Wolfenbüttel]] và [[Tuyển hầu xứ Hessen]] để lập ra [[Vương quốc Westphalia]] và trao nó lại cho em trai mình là '''''[[Jérôme Bonaparte]]''''' (1807-1813), ông được hôn phối với Vương nữ [[Katharina của Württemberg]], con gái [[Friedrich I của Württemberg]] và em gái của '''''[[Wilhelm I của Württemberg]]'''''. | |||
* Hoàng đế Napoleon đã phong cho người con trai hợp pháp duy nhất mình với [[Maria Ludovica của Áo]] là [[Napoléon II|Napoléon François Bonaparte]] làm Vua của Rome (1811-1814) và ông cũng là Hoàng đế Pháp với đế hiệu Napoleon II trong 15 ngày, sau khi cha mình tuyên bố thoái vị. | |||
* Năm 1810, Napoleon thu xếp để cho Thống chế [[Karl XIV Johan của Thụy Điển|Jean-Baptiste Bernadotte, Thân vương xứ Pontecorvo]] trở thành người thừa kế của Vua [[Karl XIII của Thụy Điển]] với tư cách là Thái tử Thuỵ Điển và sau đó là Nhiếp chính vương. Vợ của Jean, [[Désirée Clary]] trước đó từng là vợ chưa cưới của Napoleon và bà này cũng là em gái của [[Julie Clary]], vợ của Joseph Bonaparte. Vì thế Jeam-Baptiste được xem là thành viên mở rộng của Hoàng gia Bonaparte. [[Nhà Bernadotte]] trở thành vương tộc cai trị Thuỵ Điển từ năm 1818 cho đến tận ngày nay. Trước đó, vào năm 1806, Jean đã được phong là [[Thân vương quốc Pontecorvo|Thân vương xứ Pontecorvo]], một nhà nước có chủ quyền trên Bán đảo Ý. | |||
* Em trai của Napoleon là [[Lucien Bonaparte]], sau khi xung đột với anh trai, hoàng đế đã tuyên bố gia đình của ông không thuộc Hoàng gia Bonaparte. Năm 1814, ông được [[Giáo hoàng Piô VII]] phong làm [[Thân vương xứ Canino và Musignano|Thân vương xứ Canino]], Bá tước xứ Apollino và Lãnh chúa xứ Nemori. Trong giai đoạn triều đại 100 này, ông ủng hộ anh trai phụ hoàng nên được phong làm Thân vương Pháp và con cháu được đưa vào hoàng tộc. Năm 1824, [[Giáo hoàng Lêô XII]] phong thêm cho ông tước [[Thân vương xứ Canino và Musignano|Thân vương xứ Musignano]]. | |||
* Trong một giai đoạn ngắn của năm 1806, Hoàng đế Napoleon đã phong cho em gái mình là [[Pauline Bonaparte]], làm [[Công quốc Guastalla|Nữ công tước xứ Guastalla]], người chồng thứ 2 của bà là [[Camillo II Borghese|Camillo II Borghese, Thân vương xứ Sulmona]].<hr> | |||
[[Napoleon III|Louis-Napoléon]], con trai của [[Louis Napoléon Bonaparte]], trở thành Tổng thống của [[Đệ Nhị Cộng hòa Pháp]] và sau đó lên ngôi Hoàng đế, ông đã lập ra [[Đệ Nhị Đế chế Pháp]], cai trị nó từ năm 1852 đến năm 1870, với đế hiệu là Napoléon III. Hoàng tộc Banaparte được phục hoàng sau 37 năm Hoàng đế Napoleon I thất bại tại trận Walterloo và lưu đầy đi Saint Helena. Đế chế Pháp của Napoleon III kết thúc sau khi ông thất bại trong [[Chiến tranh Pháp-Phổ]], thay vào đó là [[Đệ Tam Cộng hòa Pháp]] và chế độ quân chủ đã hoàn toàn cáo chung ở Pháp. | |||
* Người thừa kế của Napoleon III chính là [[Louis-Napoléon, Thái tử hoàng gia]], ông này đã chết khi chiến đấu với [[người Zulu]] ở [[Thuộc địa Natal]], ngày nay là tỉnh [[KwaZulu-Natal]] của [[Nam Phi]]. Với cái chết của ông, gia tộc đã mất đi phần lớn sức hấp dẫn chính trị còn lại của mình, mặc dù những người yêu sách vẫn tiếp tục khẳng định quyền tước vị hoàng gia của họ. [[Napoléon-Jérôme Bonaparte|Thân vương Napoléon-Jérôme]] con trai thứ 2 của [[Jérôme Bonaparte]] và [[Katharina của Württemberg]] đã trở thành người đứng đầu hoàng tộc sau khi người thừa kế của Napoleon III qua đời.<hr> | |||
Gia tộc Bonaparte còn có một chi nhánh ở [[Hoa Kỳ]], là hậu duệ của [[Jérôme Bonaparte]] và một người phụ nữ Mỹ tên là [[Elizabeth Patterson Bonaparte|Elizabeth Betsy]], con gái của thương gia giàu có [[William Patterson]], ở [[Baltimore]]. Họ đã kết hôn vào ngày 24/12/1803, nhưng cuộc hôn nhân không được người anh trai Napoleon Bonaparte thừa nhận, vì theo ông, việc lấy một thường dân sẽ gây hại đến vương tộc của ông. Napoleon đã yêu cầu [[Giáo hoàng Piô VII]] huỷ bỏ sự công nhận của cuộc hôn nhân, nhưng giáo hoàng đã từ chối. [[Charles Joseph Bonaparte]], Bộ trưởng Hải quân Hoa Kỳ trong nội các của Tổng thống [[Theodore Roosevelt]] chính là cháu nội của [[Jérôme Bonaparte]]. | |||
Người con hợp pháp duy nhất của Hoàng đế Napoleon I qua đời mà chưa lập gia đình, nên về hình thức thì hoàng đế đã tuyệt tự. Tuy nhiên, có rất nhiều hậu duệ của đứa [[con hoang hoàng gia]], không được thừa nhận của Napoléon, Bá tước [[Alexandre Colonna-Walewski]] (1810–1868), sinh ra từ sự kết hợp của Napoléon I với [[Marie Walewska|Marie, Nữ bá tước Walewski]]. | |||
|} | |||
===Napoleon I=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Trọng lượng | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đệ Nhất Đế chế Pháp|ĐỆ NHẤT ĐẾ CHẾ PHÁP]]<br> (1804 - 1814 & 1815) <hr> [[Nhà Bonaparte]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of France (1794–1815, 1830–1974, 2020–present).svg|center|130px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Imperial Coat of Arms of France (1804-1815).svg|center|75px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="3"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="3"|{{center|'''[[Napoleon I|Hoàng đế Napoleon I]]<br>(1804 - 1814 & 1815)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="3"|{{center|Vị hoàng đế đầu tiên và duy nhất của Đệ Nhất Đế chế Pháp}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:5 Francs - Napoleon I French Empire 1811.png|center|700px]]<hr>{{center|'''5 franc [[Napoleon I]] - 1811 A<hr>212 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:François Gerard - Napoleon I in Coronation Robes.jpeg|120px]]<br>1809 - 1814<hr/>'''[[XF]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[37,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[25,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[22,5 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[31.041.384]]<hr>3.079.000<br>[[133,29$]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="3"|<hr/> | |||
|} | |||
==🌈 VƯƠNG QUỐC HOLLAND== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Trọng lượng | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đệ Nhất Đế chế Pháp|ĐỆ NHẤT ĐẾ CHẾ PHÁP]] <hr> [[Vương quốc Holland]] <br>(1806 - 1810)'''}}||colspan="1"|{{center|[[Tập tin:Flag of the Netherlands.svg|center|125px]]}}||colspan="1"|{{center|[[Tập tin:Coat of Arms of the Kingdom of Holland (1808).svg|center|72px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="3"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="3"|{{center|'''[[Louis Napoléon Bonaparte|Vua Lodewijk I]]<br>(1805 - 1810)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="3"|{{center|Vị vua đầu tiên của Vương quốc Holland}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:50 Stuivers - Louis Napoleon 1808.png|center|700px]]<hr>{{center|'''50 Stuiver [[Louis Napoléon Bonaparte|Vua Lodewijk I]] - 1808<hr>217 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:LouisBonaparte Holland.jpg|120px]]<br>1807 - 1808<hr>'''[[AU]]'''}} || style="background:#ceb"colspan="1"| {{center|'''Đường kính'''<br>[[36.0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[91,2%]] <hr>'''Trọng lượng'''<br>[[26,348 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,029gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[2.465.807]]<hr>'''Giá thành'''<br>12.118.000<br>[[(478,98$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="3"|<hr/> | |||
|} | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#ecf"|Louis Bonaparte | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
[[Tập tin:1807koninkrijk holland crop.png|thumb|270px|Bản đồ Vương quốc Holland]] | |||
Ông là em trai của [[Joseph Bonaparte|Joseph]], [[Napoleon I|Napoleon]], [[Lucien Bonaparte|Lucien]], và [[Élisa Bonaparte]], là anh trai của [[Pauline Bonaparte|Pauline]], [[Caroline Bonaparte|Caroline]], và [[Jérôme Bonaparte]]. Nhờ có anh trai Napoleon, ông đã thăng tiến nhanh chống trong quân đội, năm 25 tuổi ông đã trở thành tướng và bản thân Louis cảm nhận được mình đã thăng tiến quá nhanh trong một thời gian ngắn. Hoàng đế [[Napoleon III]] là con trai út của ông. | |||
Louis được ghi nhận đã trải qua một thời gian mắc [[bệnh tâm thần]]. Nhưng bệnh tình cụ thể thì không có tài liệu nào ghi rõ, các triệu chứng tâm thần đã hành hạ Louis cho đến khi ông qua đời. | |||
Louis đã tham gia vào âm mưu lật đổ chế độ [[Chế độ đốc chính Pháp|Đốc chính]] cùng với Napoleon. Sau khi trở thành [[Chế độ tổng tài Pháp|Đệ nhất tổng tài]], Napoleon đã sắp xếp cuộc hôn nhân giữa Louis và [[Hortense de Beauharnais]], con gái riêng của vợ ông. Ban đầu Hortense đã phản đối cuộc hôn nhân, nhưng được mẹ thuyết phục kết hôn với Louis vì lợi ích của gia tộc, và cuối cùng cô đã đồng ý. | |||
Cảm thấy rằng [[Cộng hòa Batavia]] quá độc lập so với mong muốn của mình, [[Napoleon I|Hoàng đế Napoleon I]] đã cho xoá bỏ nền cộng hòa và lập ra [[Vương quốc Holland]] vào ngày 05/06/1806, và đưa Louis lên ngai vàng của vương quốc này. Lúc đầu Napoleon chỉ có ý định cho em trai mình một vinh dự cao hơn vị trí của một tỉnh trưởng Hà Lan thuộc Pháp. | |||
* Tuy nhiên, Louis lại muốn cai trị Holland như một vị quân chủ có trách nhiệm và độc lập. Để khẳng định sự nghiêm túc của mình, ông đã nỗ lực học [[tiếng Hà Lan]] và gọi mình là Lodewijk I (vương hiệu bằng tiếng Hà Lan), ông tự xưng mình là [[người Hà Lan]] chứ không phải [[người Pháp]]. Nỗ lực chân thành để học tiếng Hà Lan của Louis đã khiến cho thần dân yêu quý và kính trọng ông. | |||
* Ông buộc triều đình và các bộ trưởng (chủ yếu do Hoàng đế Napoleon cử đến) chỉ nói [[tiếng Hà Lan]] và từ bỏ quốc tịch Pháp của họ. | |||
* Louis không bao giờ có thể quyết định được vị trí của thủ đô khi ông ở Holland. Ông đã thay đổi thủ đô hơn một chục lần, thử [[Amsterdam]], [[The Hague]], [[Utrecht]] và những nơi khác. Việc ông liên tục chuyển đi khiến triều đình xáo trộn vì họ phải đi theo ông khắp mọi nơi. Đoàn ngoại giao châu Âu đã đi xa đến mức kiến nghị nhà vua ở lại một nơi để họ có thể theo kịp ông. | |||
* Ông rất có trách nhiệm với thần dân mình, nên ông được gọi là Louis '''''Tốt bụng'''''. Hoàng đế Napoleon tỏ ra thất vọng và đã nhận xét rằng: ''″Em trai, khi họ nói về một vị vua nào đó rằng ông ta tốt, điều đó có nghĩa là ông ta đã thất bại trong việc cai trị″''. | |||
* Triều đại của Louis Bonaparte không kéo dài lâu, vì Louis không nghe theo lời của anh trai là Hoàng đế Napoleon, đặc biệt là trong việc Napoleon đang chuẩn bị một đội quân cho cuộc [[Chiến tranh Nga – Pháp (1812)|xâm lược Đế quốc Nga]], Louis đã từ chối cung cấp quân đội của Holland cho anh trai. | |||
Sau khi người Anh đã đổ bộ một đội quân gồm 40.000 người vào năm 1809 để cố gắng [[Chiến dịch Walcheren|chiếm Antwerp và Flushing]]. Với việc Louis không thể bảo vệ vương quốc của mình, Pháp đã cử 80.000 dân quân, do Vua tương lai của Thụy Điển là [[Karl XIV Johan của Thụy Điển|tướng Jean-Baptiste Bernadotte]] chỉ huy, và đã đẩy lùi thành công cuộc xâm lược. Sau đó, Napoleon đề nghị Louis nên thoái vị, với lý do là Louis không thể bảo vệ Holland. | |||
Sau khi Hoàng đế Napoleon thất bại tại Nga, Louis đã viết thư thỉnh cầu anh trai khôi phục ngai vàng Holland lại cho ông, nhưng Napoleon đã từ chối. | |||
Năm 1840, Vua [[Willem II của Hà Lan]] cho phép ông đến thăm Hà Lan. Mặc dù đang đi du lịch ở Hà Lan dưới một cái tên giả, một số người phát hiện ra rằng đó là cựu quốc vương của họ, điều này đã dẫn đến một đám đông cổ vũ tụ tập dưới cửa sổ phòng khách sạn của ông. Người ta nói rằng ông khá xúc động trước sự thể hiện tình cảm này từ những thần dân cũ của mình. | |||
Sau cái chết của người anh cả là Joseph Bonaparte vào năm 1844, Louis được những người theo chủ nghĩa Bonaparte coi là Hoàng đế hợp pháp của Pháp, mặc dù bản thân Louis không có nhiều hành động để thúc đẩy yêu sách. Con trai thứ 3 của ông là Louis-Napoléon Bonaparte đã trở thành tổng thống đầu tiên của nền cộng hòa Pháp (1848-1852) và trở thành hoàng đế duy nhất của Đệ Nhị Đế chế Pháp (1852-1870). | |||
|} | |||
==🌈 VƯƠNG QUỐC WESTPHALIA== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đệ Nhất Đế chế Pháp|ĐỆ NHẤT ĐẾ CHẾ PHÁP]] <hr> [[Vương quốc Westphalia]] <br>(1807 - 1813)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of the Kingdom of Westphalia.svg|center|132px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Grandes Armes Jérôme Bonaparte (1784-1860) 2.svg|center|80px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Jérôme Bonaparte|Vua Hieronymous Napoleon I]]<br>(1807 - 1813)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị vua duy nhất của Vương quốc Westphalia}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 Thaler Jérôme Bonaparte of Westphalia - 1810.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 Thaler [[Jérôme Bonaparte]] - 1810<hr>215 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:King Jerome Bonaparte.jpg|120px]]<br>1810<hr>'''[[AU]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[39.0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[83,3%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[28,06 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[23,374 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[?]]<hr>10.470.000<br>[[(427,35,00$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#ecf"|JÉRÔME BONAPARTE | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
[[File:1801 Cary Map of Westphalia, Germany - Geographicus - Westphalia-cary-1799.jpg|thumb|250px|Vương quốc Westphalia]] | |||
'''Jérôme Bonaparte''' (1784-1860) là người con thứ 8 và cuối cùng (con trai thứ năm sống đến tuổi trưởng thành) của [[Carlo Buonaparte]] (1746-1785) và vợ [[Letizia Ramolino]] (1750-1836). Các anh chị của ông gồm: [[Joseph Bonaparte]], [[Napoleon Bonaparte]], [[Lucien Bonaparte]], [[Élisa Bonaparte]], [[Louis Napoléon Bonaparte|Louis Bonaparte]], [[Pauline Bonaparte]] và [[Caroline Bonaparte]].<hr> | |||
Ông được anh trai mình là [[Napoleon|Hoàng đế Napoleon]] đưa lên ngai vàng [[Vương quốc Westphalia]] (1807-1813). Với năng lực điều hành hiệu quả, ông trở thành một cánh tay đắc lực của anh trai. Thời trẻ, ông phục vụ trong [[Hải quân Pháp]] ở châu Mỹ. Vào đêm [[Giáng sinh]] ngày 24/12/1803, Jerome lúc đó 19 tuổi đã kết hôn với [[Elizabeth Patterson Bonaparte|Elizabeth "Betsy" Patterson]] (1785 - 1879) lúc ấy 18 tuổi, là con gái của một chủ tàu và thương gia giàu có, [[William Patterson]], ở [[Baltimore]]. Người anh Napoleon lúc đó là [[Chế độ tổng tài Pháp|Đệ nhất Tổng tài Pháp]] đã không chấp nhận cuộc hôn nhân, ông đã yêu cầu [[Giáo hoàng Piô VII]] huỷ bỏ sự công nhận cuộc hôn nhân, nhưng giáo hoàng đã từ chối, và đây được xem là một trong những nguyên nhân dẫn đến cuộc xung đột giữa hoàng đế và giáo hoàng sau này.<hr> | |||
Ngày 11/03/1805, khi đã ở ngai vàng, Hoàng đế Napoleon đã đơn phương ra sắc chỉ không công nhận cuộc hôn nhân của em trai với Elizabeth và cấm bà này bước vào lãnh thổ của Pháp. Jerome và Elizabeth lúc đó đang mang thai đã quyết định trở về Pháp, cả hai đáp thuyền đến Bồ Đào Nha, một quốc gia trung lập, sau đó Jerome đến Ý để thuyết phục anh trai, còn Elizabeth lên đường đến Hà Lan với hy vọng sẽ đặt chân lên đất Pháp và sinh đứa trẻ ra trên đất Pháp để hợp thức hoá quốc tịch cho con, nhưng hoàng đế đã ngăn chặn và bà phải đến [[Vương quốc Anh]] và sinh ra đứa con đầu lòng là [[Jérôme Napoléon Bonaparte]] (1805–1870) tại đây. '''''Trường hợp này tương tự với vương thất Hà Lan: Trong quá trình sống lưu vong ở Canada, [[Juliana của Hà Lan]] sinh ra vương tôn nữ Margriet, lúc đó Toàn quyền Canada đã đưa ra một sắc lệnh đặc biệt tuyên bố phòng sinh của bà ở Bệnh viện công Ottawa là lãnh thổ ngoại trị của Canada để cho đứa trẻ chỉ có quốc tịch Hà Lan mà không dính đến quốc tịch Canada, vì nếu một đứa trẻ hoàng gia có đa quốc tịch sẽ bị tước bỏ quyền thừa kế ngai vàng.'''''<hr> | |||
Vì Hoàng đế Napoleon quá kiên quyết nên Jerome đã phải phục tùng theo yêu cầu là li hôn với Elizabeth, sau đó cô và con trai đã trở về Mỹ. Đến năm 1815, Elizabeth mới tuyên bố ly hôn với Jerome theo một sắc lệnh và đạo luật đặc biệt của Quốc hội Bang Maryland. Nhánh [[Vương tộc Bonaparte]] tại Mỹ đến từ người con trai duy nhất của bà với Jerome. Cháu nội của bà và Jérôme là [[Charles Joseph Bonaparte]] là thành viên trong Nội các của Tổng thống [[Theodore Roosevelt]] với vai trò là [[Bộ trưởng Tư pháp Hoa Kỳ|Bộ trưởng Tư pháp]] và [[Bộ trưởng Hải quân Hoa Kỳ|Bộ trưởng Hải quân]], chính ông cũng là người lập ra Cục điều tra của Bộ Tư pháp, sau được đổi tên thành [[Cục Điều tra Liên bang]] (FBI).<hr> | |||
Để củng cố mối quan hệ với các đồng minh thân cận ở Đức, Hoàng đế Napoleon đã thực hiện một loạt các cuộc liên hôn giữa Vương tộc Bonaparte với nhiều hoàng gia. Năm 1807, Jerome kết hôn với [[Katharina của Württemberg|Vương nữ Katharina]], con gái của [[Friedrich I của Württemberg]]. Họ có với nhau 3 người con, bao gồm: [[Jérôme Napoléon Charles Bonaparte]] (1814–1847), phục vụ trong quân đội của bác bên ngoại là [[Wilhelm I của Württemberg]] (anh trai của mẹ ông); [[Mathilde Bonaparte]] (1820–1904), kết hôn với [[Anatoliy Nikolayevich Demidov, Thân vương thứ 1 xứ San Donato]]. Mathilde là nhân vật nổi bật trong và sau [[Đệ Nhị Đế chế Pháp]]; [[Napoléon-Jérôme Bonaparte|Napoléon Joseph Charles Paul Bonaparte]] (1822–1891), kết hôn với [[Maria Clotilde của Ý]] (con gái của [[Vittorio Emanuele II của Ý]]), là cố vấn thân cận của anh họ [[Napoléon III]] và đặc biệt, được coi là người ủng hộ hàng đầu cho sự can thiệp của Pháp vào Ý và những người theo chủ nghĩa dân tộc Ý.<hr> | |||
Năm 1813, Vương quốc Westphalia bị giải thể, Katharina theo Jérome đến Pháp. Sau sự sụp đổ của Đế chế Napoléon vào năm 1814, Friedrich I mong con gái sẽ rời khỏi Jérome như [[Maria Ludovica của Áo]] đã làm với Napoléon, nhưng thay vào đó Katharina lại theo chồng đi đày đến [[Trieste]] ở [[Vương quốc Lombardo–Veneto|vùng Ý thuộc Áo]]. Trong thời kỳ [[Triều đại Một trăm ngày]] năm 1815, Katharina đã giúp Jérome trốn thoát và đoàn tụ Napoléon và bổ nhiệm Jérôme vào quyền chỉ huy Sư đoàn 6 của Quân đoàn II dưới quyền của Tướng Honoré Charles Reille. Sau khi Napoleon thất bại tại Waterloo, hai vợ chồng đã bị trục xuất đến [[Vương quốc Württemberg]] và bị quản thúc tại gia.<hr> | |||
Năm 1848, cháu trai của ông, [[Napoleon III|Louis Napoléon]], trở thành Tổng thống của [[Đệ Nhị Cộng hòa Pháp]]. Jérôme được bổ nhiệm làm Thống đốc [[Điện Invalides]] ở [[Paris]], nơi chôn cất của Napoléon I. Khi Louis Napoléon trở thành hoàng đế với đế hiệu là Napoléon III, Jérôme được công nhận là người thừa kế ngai vàng của Đệ Nhị Đế chế Pháp cho đến khi con trai của Napoléon III và Eugène ra đời. Jérôme được phong Thống chế Pháp năm 1850, giữ chức Chủ tịch Thượng viện năm 1852, và được phong "Prince Français". Jerome là người duy nhất trong số các anh chị em của Hoàng đế Napoleon sống đủ lâu để thấy sự ra đời của Đệ Nhị Đế chế Pháp, và ông qua đời vào năm 1860, nên không thể nhìn thấy sự xụp đổ của Đệ nhị đế chế. | |||
|} | |||
==🌈 THÂN VƯƠNG QUỐC LUCCA & PIOMBINO== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đệ Nhất Đế chế Pháp|ĐỆ NHẤT ĐẾ CHẾ PHÁP]] <hr> [[Thân vương quốc Lucca và Piombino]] <br>(1805 - 1814)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of the Principality of Lucca (1805-1809).svg|center|128px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of Arms of Élisa Bonaparte as princesse de Lucques et Piombino.svg|center|80px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Élisa Bonaparte|Nữ thân vương Élisa Bonaparte]]<br>(1805 - 1814)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị nữ thân vương duy nhất của Lucca và Piombino; Người phụ nữ duy nhất được phong Nữ đại Công tước xứ Toscana}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:5 Franchi Felix and Elisa of Lucca & Piombino 1805.png|center|700px]]<hr>{{center|'''5 Franchi [[Élisa Bonaparte|Élisa]] và [[Félix Baciocchi|Félix]] - 1805<hr>220 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Elisa Baciocchi Franque Joseph.jpg|120px]]<br>1805-1808<hr>'''[[AU]]'''}} ||{{center|'''Đường kính'''<br>[[37.0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[25,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[22,5 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[83.309]]<hr>11.500,000<br>[[(485,23$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#ecf"|ÉLISA BONAPARTE | |||
|- | |||
|style="background:LemonChiffon;"| | |||
Hoàng đế Napoleon I lập ra Thân vương quốc Lucca và Piombino vào năm 1805 từ việc sáp nhập Cộng hòa Lucca và Thân vương quốc Piombino, hoàng đế đã trao thân vương quốc cho em gái mình là Élisa Bonaparte cai trị và nó tồn tại đến năm 1814 thì được Đại hội Viên cho phục hồi về hiện trạng cũ, trong đó đảo Elba được tách ra khỏi Piombino để lập ra Thân vương quốc Elba và trao lại cho cựu hoàng Napoleon làm nơi lưu vong, phần lãnh thổ trên đất liền được trao cho Đại công quốc Toscana; Lucca được tái lập thành [[Công quốc Lucca]] và trao cho [[María Luisa Josefina của Tây Ban Nha|María Luisa Josefina, Vương hậu Etruria]] xem như bồi thường cho việc nhường lại [[Công quốc Parma]] cho [[Maria Ludovica của Áo]], vợ của cựu hoàng Napoleon, bà sẽ được cai trị cho đến khi qua đời vào năm 1847 và trả lại Parma cho con trai của Maria Luisa là [[Carlo II xứ Parma]], khi ấy thì Công quốc Lucca sẽ được sáp nhập vào Đại công quốc Toscana.<hr> | |||
Élisa là em gái của [[Joseph Bonaparte]], [[Napoleon Bonaparte]] và [[Lucien Bonaparte]], bà là chị gái của [[Louis Bonaparte]], [[Pauline Bonaparte]], [[Caroline Bonaparte]] và [[Jérôme Bonaparte]]. Élisa là người em gái duy nhất mà Napoleon trao cho vương quyền cai trị một lãnh thổ. Bà là người rất mạnh mẽ nên đã thường xuyên chống lại ý kiến của anh trai mình là Hoàng đế Napoleon I.<hr> | |||
Chồng của bà là [[Félix Baciocchi]], một thiếu tướng trong quân đội Pháp, họ kết hôn vào năm 1797, sau khi Napoleon lên ngôi hoàng đế, ông được phong Thân vương nhưng mọi quyền cai trị đều nằm trong tay vợ, và vợ ông cũng không chung thuỷ, hay ngoại tình, nhưng ông đã cam chịu.<hr> | |||
Ngày 19/03/1805, hai vợ chồng Élisa và Félix đã được phong Thân vương xứ Piombino, đến ngày 14/07/1805 được phong thêm tước vị Thân vương xứ Lucca. Ngày 31/03/1806, hoàng đế Napoleon cho sáp nhập thêm [[Công quốc Massa và Carrara]] vào thân vương quốc của bà. Ngày 03/03/1809, Élisa trở thành Nữ đại công tước xứ Toscana - Trước đó, vào năm 1807, Napoleon đã cho sáp nhập [[Vương quốc Etruria]] của [[Carlo II xứ Parma|Ludovico II]] (dưới quyền nhiếp chính của mẹ là [[María Luisa Josefina của Tây Ban Nha]]) vào Pháp, đến năm 1809 thì cho tách ra và tái lập Đại công quốc Toscana và trao vương quyền cho em gái mình. (Tuscany được Pháp sáp nhập từ năm 1807 đến năm 1814. Elisa Bonaparte được trao tặng danh hiệu danh dự là Nữ đại công tước xứ Tuscany, nhưng thực tế bà không cai trị khu vực này).<hr> | |||
Sau khi Napoleon I thoái vị, [[Công quốc Massa và Carrara]] được Đại hội Viên phục hoàng lại cho [[Maria Beatrice d'Este xứ Massa]], hậu duệ cuối cùng của [[Vương tộc Este]]. Cuộc hôn nhân của bà với [[Ferdinand Karl của Áo]], họ đã khai sinh ra [[Nhà Áo-Este]]. Cháu nội của họ là [[Francis V xứ Modena]] qua đời năm 1875, mà không có hậu duệ nên tài sản và tước vị để lại cho người em họ là [[Franz Ferdinand của Áo]], khiến ông này trở thành một trong những người giàu có nhất Đế chế Áo thời bấy giờ, với điều kiện ông phải thêm từ Este vào tên của mình. Năm 1889 ông này cũng thừa kế ngai vàng Đế chế Áo sau khi [[Rudolf của Áo|Rudolf, Thái tử Áo]], con trai duy nhất của [[Franz Joseph I của Áo|Hoàng đế Franz Joseph I]] tự vẫn. Sự kiện Franz Ferdinand bị ám sát tại Sarajevo đã khiến gây ra [[Thế chiến thứ nhất]].<hr> | |||
Ngày 13/3/1814, trong khi đang mang thai, Élisa phải chạy trốn khỏi Lucca, khi nó bị liên quân Anh-Áo dưới sự chỉ huy của Lãnh chúa [[Lãnh chúa William Bentinck]] đánh chiếm.<hr> | |||
Bà qua đời do mắc bệnh hiểm nghèo vào ngày 07/08/1820 ở tuổi 43, có thể bị nhiễm bệnh tại một địa điểm khai quật khảo cổ do bà tài trợ. | |||
|} | |||
==🌈 ĐỆ NHỊ ĐẾ CHẾ PHÁP== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đệ Nhị Đế chế Pháp|ĐỆ NHỊ ĐẾ CHẾ PHÁP]]<br>(1852 - 1870) <hr> [[Nhà Bonaparte]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of France (1794–1815, 1830–1974, 2020–present).svg|center|135px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of Arms Second French Empire (1852–1870)-2.svg|center|71px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Napoleon III của Pháp|Hoàng đế Napoleon III]]<br>(1852 - 1870)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Hoàng đế duy nhất của Đệ Nhị Đế chế Pháp}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:5 francs Napoleon III 1870 BB.png|center|700px]]<hr>{{center|'''5 franc [[Napoleon III của Pháp|Napoleon III]] - 1870 BB<hr>155 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Franz Xavier Winterhalter - Napoleon III in Coronation Robes.jpg|120px]]<br>1861 - 1870<hr>'''[[AU]]'''}} ||{{center|'''Đường kính'''<br>[[37,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[25,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[22,5 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[2.022.004]]<hr>1.160.000<br>[[(49,79$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
* [[Napoléon III]] là con trai út của [[Louis Napoléon Bonaparte]] và [[Hortense de Beauharnais]], cha của ông được người bác là Hoàng đế [[Napoleon I]] đưa lên làm vua [[Vương quốc Holland]] (1805-1810). Thông qua cha của mình, ông gọi [[Joseph Bonaparte|Joseph, Vua của Tây Ban Nha]], Hoàng đế Pháp [[Napoleon I]], [[Lucien Bonaparte|Lucien, Thân vương xứ Canino và Musignano]], [[Élisa Bonaparte|Elisa, Nữ đại công tước xứ Toscana]] là bác và gọi [[Pauline Bonaparte|Pauline, Nữ thân vương xứ Guastalla]], [[Caroline Bonaparte|Caroline, Vương hậu Napoli]] là cô và gọi [[Jérôme Bonaparte|Jérôme, Vua của Westphalia]] là chú. Thông qua mẹ mình, ông là cháu ngoại của Hoàng hậu [[Joséphine de Beauharnais|Joséphine]] (đồng thời cũng là bác gái vì là vợ của Napoleon I), ông gọi Phó vương Ý [[Eugène de Beauharnais]] là cậu.<hr> | |||
* [[Marie Amelie xứ Baden]] (vợ của [[William Hamilton, Công tước thứ 11 xứ Hamilton]]) thông qua mẹ mình là [[Stéphanie de Beauharnais]], bà là em họ đời thứ 5 của Napoléon III của Pháp, đồng thời là bạn của Hoàng đế và vợ là [[Eugenia xứ Montijo]]. Công tước phu nhân thường tháp tùng cặp đôi tại các sự kiện chính thức và cung cấp chỗ ở cho hai vợ chồng khi họ đến thăm Marie Amelie bên ngoài nước Pháp. | |||
==🌈 VƯƠNG QUỐC Ý - NAPOLEON== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#ccf"|[[Tập tin:Blason fam fr Beauharnais.svg|60px]] | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|Nhà Beauharnais | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
Trước khi [[Đệ nhất Đế chế Pháp]] ra đời, Beauharnais là một gia đình quý tộc lâu đời ở Pháp. Gia tộc này có nguồn gốc từ [[Công quốc Bretagne]] và đã định cư ở [[Orléans]] vào cuối thế kỷ XIV. [[Guillaume I de Beauharnais]] là tổ tiên được chứng thực đầu tiên (theo hợp đồng hôn nhân có ngày 20 tháng 1 năm 1390) của dòng họ Beauharnais. Ông là một thương gia đến từ Orléans, được mô tả là lãnh chúa xứ Miramion và Chaussée. Phó vương Ý, [[Eugène de Beauharnais]] chính là hậu duệ đời thứ 13 của Guillaume I nếu tính theo dòng dõi nam. | |||
Trong cuộc [[Vây hãm Orléans]] năm 1429, một người con trai của [[Guillaume I de Beauharnais|Guillaume]] là Jehan Beauharnais, đã đóng vai trò bảo vệ thành phố và do đó đã làm chứng tại phiên tòa xét xử phục hồi danh dự cho [[Jeanne d'Arc]]. Sau đó, người nhà Beauharnais đã trở thành quân nhân, thương nhân và quan toà ở [[vương quốc Pháp]]. Từ cuối thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XVII, chức vụ chủ tịch và lieutenant général trong khu vực và ghế thẩm phán của Orléans được truyền lại theo truyền thống trong gia đình Beauharnais. Người có uy tín nhất trong số những quan tòa này là [[François III de Beauharnais]], lãnh chúa xứ Grillère (ở [[Vouzon]], [[Loir-et-Cher]]). | |||
Vào cuối thế kỷ XVII, chức vụ lieutenant général của khu vực Orléans đã được chuyển giao cho một nhánh của gia tộc, đó là dòng họ Curault. Những người Beauharnais lỗi lạc nhất sau đó chuyển sang hải quân hoàng gia và quản lý các thuộc địa của Pháp ở châu Mỹ. [[François de Beauharnois de la Chaussaye, Baron de Beauville|François de Beauharnais]] (1665-1746) trở thành thống đốc của [[Tân Pháp]] (tức là Canada), nơi ông được trao quyền lãnh chúa vào năm 1707. Cháu trai của ông, cũng tên là François, được bổ nhiệm làm [[Chef d'escadre|chỉ huy phi đội]] ([[chuẩn đô đốc]]) của quân đội hoàng gia, sau đó là thống đốc [[Martinique]]. | |||
Gia tộc Beauharnais ở Orléans cũng là những chủ đất lớn sở hữu nhiều lãnh địa trong khu vực. Vào thế kỷ XV, họ là lãnh chúa xứ Chaussée, một thái ấp nằm ở vùng ngoại ô Saint-Jean hiện tại thuộc Orléans. Vào ngày 20 tháng 4 năm 1752, [[François V de Beauharnais|François de Beauharnais]] (1714-1800), thống đốc Martinique, ông cố ngoại của [[Napoleon III]] tương lai, đã mua lại quyền lãnh chúa La Ferté-Avrain ở Sologne. Ông đã được cấp giấy phép xây dựng nơi này thành một lãnh địa hầu tước vào tháng 7 năm 1764 dưới tên gọi [[La Ferté-Beauharnais]], tên mà nó vẫn mang cho đến ngày nay (một xã thuộc tỉnh Loir-et-Cher). <hr> | |||
Beauharnais chính thức trở thành một gia đình đại quý tộc ở châu Âu dưới thời [[Đệ Nhất Đế chế Pháp]], thông qua [[Eugène de Beauharnais]] và [[Hortense de Beauharnais]], 2 người con của Tử tước [[Alexandre de Beauharnais]] và [[Joséphine de Beauharnais]]. Tử tước Alexandre là con trai út của Hầu tước [[François V de Beauharnais]], thống đốc thuộc địa [[Martinique]], ông hoạt động trong quân đội với quân hàm thiếu tướng và bị [[Triều đại Khủng bố]] trong [[Cách mạng Pháp]] hành quyết bằng máy chém, vợ ông là Joséphine cũng bị giam giữ, nhưng may mắn đã được thả ra sau khi [[Chế độ đốc chính Pháp]] được thành lập. | |||
Quá phụ [[Joséphine de Beauharnais]] tái hôn với tướng [[Napoleon I|Napoleon Bonaparte]] vào năm 1796 và vị tướng này đã xem 2 người con riêng của vợ như con ruột của mình, đặc biệt là [[Eugène de Beauharnais]]. Năm 1804, Napoleon lên ngôi hoàng đế và lập ra Đệ Nhất Đế chế Pháp, Joséphine được tấn phong hoàng hậu, 2 người con riêng của bà đều trở thành Hoàng tử và hoàng nữ của Đế chế Pháp dù họ không thuộc [[Vương tộc Bonaparte|Hoàng tộc Bonapate]]. | |||
Năm 1802, Napoleon lúc đó là [[Chế độ tổng tài Pháp|Đệ nhất Tổng tài Pháp]] đã thu xếp để em trai của mình là [[Louis Napoléon Bonaparte]] kết hôn với con riêng của vợ là [[Hortense de Beauharnais]]. Năm 1805, ông đứa Louis lên làm vua của [[Vương quốc Holland]] và Hortense đã trở thành vương hậu của vương quốc này. Hoàng đế [[Napoleon III]] người phục hưng lại Hoàng tộc Bonaparte sau này chính là con trai của họ. | |||
Năm 1805, Hoàng đế Napoleon kiêm nhiệm vua của Vương quốc Ý và bổ nhiệm [[Eugène de Beauharnais]] làm phó vương. Năm 1806, Cha dượng Napoleon kết thông gia với [[Vương tộc Wittelsbach]] của [[Vương quốc Bayern]], Eugène de Beauharnais kết hôn với Vương nữ [[Auguste của Bayern]], con gái của Vua [[Maximilian I Joseph của Bayern]]. Hậu duệ của cặp đôi này sau đó đã liên hôn với các vương tộc khắp châu Âu. | |||
Vì Joséphine de Beauharnais không thể sinh cho Napoleon người thừa kế, bị sức ép từ triều đình và hoàng tộc, ông đã ly hôn với bà vào năm 1810 và kết hôn với Hoàng nữ [[Maria Ludovica của Áo]], con gái của [[Franz II của Thánh chế La Mã|Franz I, Hoàng đế của Áo]]. Tuy cuộc hôn nhân tan vỡ, nhưng tình yêu thương ông dành cho vợ cũ và 2 con riêng của vợ vẫn vẹn nguyên. [[Eugène de Beauharnais]] luôn là cánh tay đắc lực của hoàng đế Napoleon. Hoàng đế đã ra chỉ dụ rằng, con trai trưởng của ông sẽ trở thành hoàng đế Pháp, con trai thứ 2 sẽ trở thành vua của Ý, nếu ông chỉ có duy nhất một người con trai thì ngai vàng của Ý sẽ thuộc về Eugène de Beauharnais. Ngoài ra, năm 1810, hoàng đế còn thu xếp để Eugène trở thành Đại thế tử thừa kế [[Đại công quốc Frankfurt]].<hr> | |||
Sau khi li dị với Hoàng hậu Joséphine, Hoàng đế Napoleon đã phong cho bà làm [[Công tước xứ Navarre|Nữ Công tước xứ Navarre]]. Tước hiệu này ám chỉ đến [[Château de Navarre|Lâu đài Navarre]] của bà ở Normandy chứ không phải Vương quốc Navarre trước đây. | |||
Năm 1812, Hoàng đế Napoleon tạo ra [[Công tước xứ Galliera]] ở Bán đảo Ý để trao cho con gái của [[Eugène de Beauharnais]] là [[Joséphine xứ Leuchtenberg]] lúc đó mới 5 tuổi. Bà vẫn giữ tước hiệu này ngay cả sau khi kết hôn với [[Oscar I của Thụy Điển[|Oscar, Thái tử Thụy Điển]] (người sau này là vua Oscar I). | |||
Năm 1829, Hoàng đế [[Pedro I của Brasil]] đã tạo ra [[Công tước xứ Santa Cruz]] để trao cho [[Auguste de Beauharnais]] (con trai cả của Eugène de Beauharnais), ông là anh vợ của Pedro I, vì em gái của Auguste là [[Amélie xứ Leuchtenberg]] trở thành vợ của Pedro I trong cùng năm đó. Đến năm 1834, Auguste được chọn trở thành chồng của Nữ vương [[Maria II của Bồ Đào Nha]] (con gái của Pedro I) nhưng ông đã mất sớm, không để lại hậu duệ. Tên tước hiệu gắn liền với địa danh [[Santa Cruz, Rio de Janeiro|Santa Cruz]], ngày nay là một khu phố ở [[Rio de Janeiro]]. | |||
Năm 1817, Vua [[Maximilian I Joseph của Bayern]] đã tạo ra [[Công tước xứ Leuchtenberg]] và trao nó cho con rể của ông là [[Eugène de Beauharnais]], và chỉ định ông là người thừa kế Vương quốc Bayern, chỉ xếp sau các hậu duệ dòng dõi nam của gia đình hoàng gia và ưu tiên tiếp theo sau Hoàng gia. Ông còn được phong [[Thân vương quốc Eichstätt|Thân vương xứ Eichstätt]]. <hr><hr> | |||
===Eugène de Beauharnais=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đệ Nhất Đế chế Pháp|ĐỆ NHẤT ĐẾ CHẾ PHÁP]] <hr>[[Vương quốc Ý (Napoléon)|Vương quốc Ý]]<br> (1805 - 1814)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of the Napoleonic Kingdom of Italy.svg|center|125px]]}}||{{center|[[File:Great Coat of Arms of the Kingdom of Italy (1805-1814).svg|center|72px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Eugène de Beauharnais|Phó vương Eugène de Beauharnais]] <br>(1805 - 1814)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị phó vương duy nhất của Vương quốc Ý dưới thời Napoleon}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:5 lire of Italy, Napoleon I - 1811 M.png|center|700px]]<hr>{{center|'''5 lire [[Napoleon I]] - 1811 M<hr>214 năm (2025)'''}}|| {{center|[[File:EugeneBeau.jpg|120px]]<br>1807 - 1814 <hr>[[XF]]}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[37,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[25,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[22,5 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[2.820.000]]<hr>2.122.000<br>[[(91,86$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#fbd"|EUGÈNE DE BEAUHARNAIS | |||
|- | |||
|style="background:LemonChiffon;"| | |||
'''[[Eugène de Beauharnais]] - Ơ/din/đờ/Bô/há...t/nề''' (1781-1824) là con riêng của Hoàng hậu [[Joséphine de Beauharnais]] và [[Alexandre de Beauharnais|Tử tước Alexandre de Beauharnais]], ông được [[Napoleon I|Hoàng đế Napoleon I]] (cũng là cha dượng của ông) nhận làm con nuôi (ngày 12 tháng 1 năm 1806) và phong tước Hoàng tử Pháp, nằm trong [[Vương tộc Bonaparte]] dù ông chỉ là con riêng của vợ hoàng đế và được hoàng đế nhận làm con nuôi. '''''Tuy nhiên ông không được thừa kế ngai vàng Pháp, nhưng được thừa kế ngai vàng [[Vương quốc Ý (Napoléon)|Vương quốc Ý]] nếu hoàng đế không có con trai thứ hai.''''' Có nghĩa là, con trai trưởng của Hoàng đế Napoleon sẽ thừa kế ngai vàng Đế chế Pháp, người con trai thứ 2 sẽ thừa kế ngai vàng Vương quốc Ý, nhưng nếu hoàng đế chỉ có 1 người con trai duy nhất thì Eugène de Beauharnais sẽ là vua của Ý.<hr> | |||
Eugène de Beauharnais còn có một người em gái ruột là [[Hortense de Beauharnais]] (1783-1837), bà được hoàng đế Napoleon I gả cho em ruột của mình là [[Louis Napoléon Bonaparte|Louis Bonaparte]], Vua của [[Vương quốc Holland]] (1805-1810). Hoàng đế [[Napoleon III]] chính là con trai của họ.<hr> | |||
Vì giữ vị trí là hoàng tử đế chế Pháp, Eugène được hôn phối với Vương nữ [[Auguste của Bayern]], người con thứ 2 của Vua [[Maximilian I Joseph của Bayern|Maximilian I Joseph]] và [[Auguste Wilhelmine xứ Hessen-Darmstadt]]. Hai người đã có 7 người con, trong đó có 6 người sống đến tuổi trưởng thành, gồm 2 trai và 4 gái. Cuộc hôn nhân chính trị này được Napoleon I thu xếp để gắn chặc Pháp với đồng mình của mình là Vương quốc Bayern, 2 cuộc hôn nhân tương tự khác cũng được thực hiện với [[Đại công quốc Baden]] và [[Vương quốc Württemberg]]. Khi hoàng hậu Joséphine không thể sinh ra người thừa kế cho hoàng đế, Napoleon đã ly dị bà và lấy Hoàng nữ [[Maria Ludovica của Áo]], là con gái của [[Franz II của Thánh chế La Mã|Hoàng đế Franz I]].<hr> | |||
Ông được bổ nhiệm làm Phó vương Ý từ năm 1805 - 1814, 5uy mối quan hệ giữa Eugène de Beauharnais và Napoleon chỉ là cha dượng và con riêng của vợ, nhưng các nhà sử học đã xem ông là một trong những người thân cận nhất của Hoàng đế Napoleon I, vì ông luôn chỉ huy quân Ý trong tất cả các chiến dịch của Hoàng đế Napoleon ở khắp châu Âu với lòng trung thành tuyệt đối.<hr> | |||
Khi Napoleon thoái vị ở cả 2 ngai vàng của Đệ Nhất Đế chế Pháp và Vương quốc Ý vào ngày 11/02/1814, Phó vương Eugène de Beauharnais đã đưa quân đến Sông Mincio, sẵn sàng đương đầu với bất kỳ cuộc tấn công nào từ Đức và Áo, và ông cũng đã cố gắng thuyết phục Thượng viện Vương quốc Ý để đưa mình lên ngai vàng, nhưng bất thành. Eugène de Beauharnais đầu hàng quân Áo vào ngày 23/04 và ông đã rời Bán đảo Ý để đến Vương quốc Bayern theo lời khuyên của cha vợ mình là Vua Maximilian I Joseph, ông đã được phong tước hiệu [[Công tước xứ Leuchtenberg]] và sống phần đời còn lại cùng với gia đình ở nơi đây. <hr> | |||
Năm 1805, sau khi Napoleon I thất bại trong việc thuyết phục các thành viên trong gia đình của mình tiếp nhận ngai vàng Ý, ông ấy đã tự đội Vương miện Sắt lên đầu và trở thành vua Ý. Trong lễ đăng quang, Napoléon đã trao chiếc nhẫn và áo choàng hoàng gia cho con riêng của vợ ông là Eugène vào ngày 7 tháng 6 năm 1805, và bổ nhiệm ông làm Phó Vương của Ý. <hr> | |||
Vào ngày 20 tháng 12 năm 1807, ông được phong Prince de Venise ("Thân vương xứ Venice"), một tước hiệu được tạo ra vào ngày 30 tháng 3 năm 1806, khi tỉnh Venice được lấy từ Áo vào năm 1805, và hợp nhất thành Vương quốc Ý dưới quyền của Vương tộc Bonaparte.<hr> | |||
Năm 1810, Hoàng đế Napoléon sử dụng quyền lực của mình để áp đặt lên [[Karl Theodor Anton Maria von Dalberg|Karl von Dalberg]], Tổng giám mục xứ Regensburg và [[Đại công quốc Frankfurt|Đại công tước xứ Frankfurt]], để ép ông này chỉ định Eugène làm người thừa kế hợp pháp của đại công quốc. Von Dalberg thoái vị vào ngày 26 tháng 10 năm 1813 do cuộc chinh phục Frankfurt sắp xảy ra bởi quân đội đồng minh, và Eugène trở thành đại công tước trên danh nghĩa cho đến khi Frankfurt bị quân đồng minh chiếm đóng vào tháng 12 cùng năm. | |||
* Thông qua con gái cả là [[Joséphine xứ Leuchtenberg|Joséphine de Beauharnais]], ông là cha vợ của Vua [[Oscar I của Thụy Điển|Orcar I]], con trai của [[Karl XIV Johan của Thụy Điển]], vị vua đầu tiên của [[Vương tộc Bernadotte|triều đại Bernadotte]]. Các vị vua của Thụy Điển sau đó đều là hậu duệ của ông. | |||
* Thông qua con trai cả là [[Auguste de Leuchtenberg]], ông là cha chồng của Nữ vương [[Maria II của Bồ Đào Nha]], nhưng vì ông mất sớm nên không để lại hậu duệ. | |||
* Thông qua con gái thứ 3 là [[Amélie xứ Leuchtenberg]], ông là cha vợ của Hoàng đế [[Pedro I của Brasil]] và là ông ngoại của Hoàng nữ [[Maria Amélia của Brasil]]. | |||
* Thông qua con trai út của mình là [[Maximilian de Beauharnais, Công tước thứ 3 xứ Leuchtenberg|Maximilian de Beauharnais]], ông là cha chồng của [[Mariya Nikolayevna của Nga, Công tước phu nhân xứ Leuchtenberg|Hoàng nữ Mariya Nikolayevna]], con gái đầu của Hoàng đế [[Nikolai I của Nga]]. | |||
|} | |||
|} | |||
==🌈 CỘNG HÒA SUBALPINE== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|[[File:Coat of Arms of the First French Republic.svg|70px]] <hr> CỘNG HÒA SUBALPINE | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
[[Cộng hòa Subalpine]] là một nước cộng hòa tồn tại trong khoảng thời gian từ năm 1800 đến năm 1802 trên lãnh thổ Piedmont trong thời kỳ cai trị quân sự của [[Napoléon Bonaparte]] ở [[Đệ Nhất Cộng hòa Pháp]]. Nó là quốc gia phụ thuộc của Pháp, lãnh thổ tương đồng với [[Công quốc Savoy]], phần lục địa của [[Vương quốc Sardegna]]. Đến tháng 09/1802, Cộng hòa Subalpine chấm dứt tồn tại sau khi lãnh thổ của nó bị chia cắt bởi Đệ Nhất Cộng hòa Pháp và Cộng hoà Ý. | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đệ Nhất Cộng hòa Pháp|ĐỆ NHẤT CỘNG HÒA PHÁP]]<hr>[[Cộng hòa Subalpine]] <br> (1800 - 1802)}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of France.svg|center|130px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of Arms of the First French Republic.svg|center|83px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Jean-Baptiste Jourdan|Chủ tịch chính phủ lâm thời Jean-Baptiste Jourdan]]<br> (1800 - 1802)}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Chủ tịch chính phủ duy nhất của Subalpine}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:5 Francs of Subalpine 1801.png|center|700px]]<hr>{{center|'''5 Franc [[Cộng hòa Subalpine]]_L'an 10 - 1801<hr>224 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Le maréchal Jourdan.jpg|120px]]<br>1800 - 1801<hr>'''[[XF]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[37,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[25,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[22,5 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[33.000]]<hr>2.320.000<br>[[(100,0$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
|} | |||
==🏆 TÂY BAN NHA - BOURBON== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#ccf"|[[Tập tin:Arms of Anjou- Coat of Arms of Spain Template.svg|70px]] | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|HOÀNG TỘC BOURBON - TÂY BAN NHA<br> (1700 - Nay) | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
[[File:Imperios ibéricos, 1790.svg|thumb|250px|Đế chế Tây Ban Nha của Nhà Bourbon năm 1790]] | |||
Hoàng tộc Bourbon-Tây Ban Nha là một chi nhánh của [[Vương tộc Bourbon|Nhà Bourbon Pháp]] và bản thân Bourbon Pháp lại là một nhánh thuộc [[Vương tộc Capet|Nhà Capet]], được khởi tạo từ [[Hugues Capet]] vào năm 987, khi ông kế vị ngai vàng Pháp từ [[Louis V của Pháp|Louis V]] thuộc [[Vương triều Caroling|Nhà Caroling]]. Kể từ đó, Nhà Capet và các chi nhánh của nó là [[Vương tôc Valoi|Valoi]] và Bourbon đã cai trị nhiều nhà nước ở châu Âu, đặc biệt là [[Vương quốc Pháp]] trong suốt lịch sử của nó.<hr> | |||
Bourbon-Tây Ban Nha chính thức được lập ra vào năm 1700, khi [[Felipe V của Tây Ban Nha|Vương tôn Philipp, Công tước xứ Anjou]], con trai thứ 2 của [[Louis của Pháp, Đại Trữ quân|Louis Đại thái tử]] và là cháu nội của Vua Mặt trời [[Louis XIV của Pháp]] thừa kế ngai vàng Tây Ban Nha thuộc [[Tây Ban Nha Habsburg|Nhà Habsburg Tây Ban Nha]] sau cái chết của [[Carlos II của Tây Ban Nha|Vua Carlos II]] mà không để lại con cái thừa tự. Công tước xứ Anjou trở thành vua Tây Ban Nha theo quyền thừa kế của bà nội là [[María Teresa của Tây Ban Nha]].<hr> | |||
Vua Louis IV đã kết hôn với con gái cả của [[Felipe IV của Tây Ban Nha]] là [[María Teresa của Tây Ban Nha|Vương nữ María Teresa]] (bà nội của Công tước xứ Anjou), theo một trong những điều khoản của [[Hiệp ước Pyrenees]] năm 1659. Hiệp ước hôn nhân nêu rõ rằng Maria Theresa phải từ bỏ mọi yêu sách thừa kế đối với lãnh thổ Tây Ban Nha cho chính bà và tất cả con cháu của bà. Tuy nhiên, phía Pháp đã đưa ra điều kiện từ bỏ là phía Tây Ban Nha phải trả đầy đủ của hồi môn cho Pháp là 500.000 écu. Nhưng sau đó số tiền này không bao giờ được trả và sau đó đã đóng một vai trò quan trọng trong việc thuyết phục người anh họ đầu tiên của mình là [[Carlos II của Tây Ban Nha]] để lại đế chế của mình cho Philip, Công tước xứ Anjou (sau này là Felipe V của Tây Ban Nha), cháu nội trai của Louis XIV và Maria Theresa. <hr> | |||
{{center|'''[[Chiến tranh kế vị Tây Ban Nha]]'''}} | |||
Công tước xứ Anjou lên ngôi vua Tây Ban Nha vào ngày 6 tháng 11 năm 1700, lấy vương hiệu [[Felipe V của Tây Ban Nha]]. Ngay lập tức cuộc xung đột giành quyền kế vị đã xảy ra, và lịch sử gọi là [[Chiến tranh Kế vị Tây Ban Nha]], kéo dài từ năm 1701 đến năm 1714 giữa hai phe: | |||
* Ủng hộ quân chủ Habsburg-Áo: đứng đầu là Hoàng đế [[Leopold I của Thánh chế La Mã]] sau khi Leopold I qua đời thì được kế quyền bởi [[Joseph I của Thánh chế La Mã]] và [[Karl VI của Thánh chế La Mã]] cùng với các đồng minh. | |||
* Ủng hộ quyền kế vị của Bourbon-Pháp: đứng đầu là Vua [[Louis XIV của Pháp]] và [[Felipe V của Tây Ban Nha]] cùng với các đồng minh. | |||
Khi [[Joseph I của Thánh chế La Mã|Hoàng đế Joseph I]] qua đời vào năm 1711, [[Karl VI của Thánh chế La Mã|Đại công tước Karl]] kế vị anh trai mình làm [[Hoàng đế La Mã Thần thánh]]. Vì sự hợp nhất giữa Tây Ban Nha và Áo không được chào đón như sự hợp nhất với Pháp, nên chính phủ Anh mới lập luận rằng việc tiếp tục cuộc chiến là vô nghĩa. Đến lúc này, chỉ có trợ cấp của Anh mới giữ được đồng minh của Habsburg trong cuộc chiến, và sự rút lui của Anh đã dẫn đến [[Hiệp ước Utrecht|Hòa ước Utrecht]] năm 1713, tiếp theo là các [[Hiệp ước Rastatt]] và [[Hiệp ước Baden (1714)|Baden]] năm 1714. Theo như các điều khoảng được ký kết: | |||
* Công tước xứ Anjou được trở thành vua Tây Ban Nha một cách hợp pháp, nhưng ông và con cháu của ông phải từ bỏ hoàn toàn quyền kế vị ngai vàng Pháp, điều này sẽ ngăn chặn được việc Pháp và Tây Ban Nha được hợp nhất dưới quyền cai trị của một [[liên minh cá nhân]], điều này đã từng diễn ra dưới thời Hoàng đế [[Karl V của Thánh chế La Mã]] của Nhà Habsburg, tạo ra [[Đế quốc mặt trời không bao giờ lặn|đế chế đầu tiên Mặt trời không bao giờ lặn]]. | |||
* Đế chế Tây Ban Nha phải nhượng lại phần lớn lãnh thổ trên [[bán đảo Ý]] của mình cho Savoia và Áo, cùng với Hà Lan thuộc Tây Ban Nha. Chính điều này đã nâng [[Vương tộc Savoia|Nhà Savoia]] lên hàng vương tộc khi họ nhận được quyền cai trị [[Vương quốc Sicilia]] (sau đổi để lấy [[Vương quốc Sardegna]]). | |||
* Người Anh đã tiếp nhận [[Gibraltar]] và [[Menorca]], giành được các nhượng bộ thương mại lớn ở châu Mỹ thuộc Tây Ban Nha. Cho đến tận ngày nay, Gibraltar vẫn là một lãnh thổ hải ngoại của Anh. | |||
* Đối với [[Cộng hòa Hà Lan]], mặc dù đã đạt được Hiệp ước rào cản mà họ mong muốn từ lâu, cuộc chiến được coi là đánh dấu sự khởi đầu cho sự suy tàn của họ như một cường quốc châu Âu quan trọng. | |||
* Mặc dù Louis XIV đã thành công trong việc đưa cháu trai mình lên ngai vàng Tây Ban Nha, nhưng nước Pháp đã kiệt quệ về mặt tài chính. | |||
<hr> | |||
'''''[[Dòng chính của Bourbon-Tây Ban Nha]]''''' hiện vẫn còn trị vì [[Tây Ban Nha]] cho đến tận ngày này và đã sản sinh cho ngai vàng Tây Ban Nha 11 vị quân chủ, gồm có: [[Felipe V của Tây Ban Nha|Felipe V]] (1700-1724 & 1724-1746); [[Luis I của Tây Ban Nha|Luis I]] (1724); [[Fernando VI của Tây Ban Nha|Fernando VI]] (1746-1759); [[Carlos III của Tây Ban Nha|Carlos III]] (1759-1788); [[Carlos IV của Tây Ban Nha|Carlos IV]] (1788-1808); [[Fernando VII của Tây Ban Nha|Fernando VII]] (1808 & 1813-1833); [[Isabel II của Tây Ban Nha|Isabel II]] (1833-1868); [[Alfonso XII của Tây Ban Nha|Alfonso XII]] (1874-1885); [[Alfonso XIII của Tây Ban Nha|Alfonso XIII]] (1886-1931); [[Juan Carlos I của Tây Ban Nha|Juan Carlos I]] (1975-2014) và [[Felipe VI của Tây Ban Nha|Felipe VI]] (2014-Nay). | |||
Dưới thời trị vì của [[Alfonso XIII của Tây Ban Nha|Alfonso XIII]], người Tây Ban Nha phải ký [[Hiệp định Paris (1898)|Hiệp ước Paris]], hay còn gọi là '''''Hòa ước Mỹ-Tây Ban Nha'''''. Chính thức chấm dứt [[Chiến tranh Mỹ – Tây Ban Nha]] (25/4-12/8/1898) và theo đó người Tây Ban Nha đã mất đi [[Puerto Rico]], [[Guam]], [[Philippines]] và trả quyền độc lập cho [[Cuba]], hiệp ước đã chấm dứt sự tồn tại của Đế chế Tây Ban Nha. | |||
Người thừa kế ngai vàng của Tây Ban Nha hiện tại chính là [[Leonor de Borbón]], [[Thân vương xứ Asturias|Nữ thân vương xứ Asturias]], cô sinh năm 2005 và là con gái trưởng của đương kim quốc vương [[Felipe VI của Tây Ban Nha|Felipe VI]] và [[Letizia, Vương hậu Tây Ban Nha|Vương hậu Letizia]] (bà là một thường dân). Họ chỉ có 2 người con gái, người còn lại là Vương nữ [[Sofía de Borbón]], sinh năm 2007. | |||
<hr> | |||
Nhà Bourbon cai trị Tây Ban Nha không liên tục và bị gián đoạn bởi một số thời kỳ, trong đó: | |||
* Lần gián đoạn đầu tiên đến từ [[Chiến tranh Napoleon]], Hoàng đế [[Napoleon I]] đã truất ngôi của [[Fernando VII của Tây Ban Nha|Fernando VII]] để đưa anh trai của mình là [[Joseph Bonaparte]] (1808-1813) lên ngôi vua Tây Ban Nha. | |||
* Lần gián đoạn thứ 2 diễn ra sau khi [[Isabel II của Tây Ban Nha|Isabel II]] bị lật đổ và lập ra [[Đệ Nhất Cộng hòa Tây Ban Nha]], tiếp đến là việc bầu [[Amadeo I của Tây Ban Nha|Amadeo xứ Aosta]] (1870-1873) thuộc [[Vương tộc Savoia|Nhà Savoia]] lên ngai vàng Tây Ban Nha cho đến khi [[Alfonso XII của Tây Ban Nha|Alfonso XII]] trở lại ngai vàng vào năm 1874. | |||
* Lần gián đoạn thứ 3 diễn ra vào năm 1931, khi [[Alfonso XIII của Tây Ban Nha|Alfonso XIII]] bị truất ngôi và thiết lập [[Đệ Nhị Cộng hòa Tây Ban Nha]], đây cũng là lần gián đoạn dài nhất, đến tận năm 1975 (44 năm), cháu nội của Alfonso XIII là [[Juan Carlos I của Tây Ban Nha|Juan Carlos]] mới được phục vi và Borbon trị vì Tây Ban Nha đến tận ngày nay. | |||
|- | |||
! style="background:#fbd"|[[Vương tộc Borbone-Parma|Dòng Bourbon-Parma]]<br>(1748-1859) | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
Chi nhánh này cai trị [[Công quốc Parma]] trên [[Bán đảo Ý]], ngoài ra cũng từng một giai đoạn ngắn cai trị [[Vương quốc Etruria]] (1801-1807) và [[Công quốc Lucca]] (1815-1847). Hiện nay vương tộc này vẫn còn đang trị vì Đại công quốc Luxembourg (kể từ năm 1964). Người lập ra [[Vương tộc Borbone-Parma]] là [[Filippo I xứ Parma|Vương tử Felipe]], con trai thứ 2 của Vua [[Felipe V của Tây Ban Nha|Felipe V]] với người vợ thứ 2 của ông, [[Elisabetta Farnese]]. | |||
* Lúc đầu, Công quốc Parma được thừa kế bởi anh trai của Felipe là [[Carlos III của Tây Ban Nha|Vương tử Carlos]] theo quyền thừa kế của mẹ là [[Elisabetta Farnese]], nữ thừa kế của [[Nhà Farnese]] (hậu duệ của [[Pier Luigi Farnese, Công tước xứ Parma|Pier Luigi Farnese]] con trai của [[Giáo hoàng Phaolô III]]) với tước hiệu Carlo I xứ Parma. Nhưng năm 1734, ông đã dẫn quân chinh phục Vương quốc Napoli và Sicilia của Áo và trở thì quốc vương với vương hiệu Carlo VII của Napoli và Carlo III của Sicilia và Jerusalem. Người Áo công nhận quyền quân chủ của Carlos tại Napoli và Sicilia, đổi lại ông phải từ bỏ quyền thừa kế tại [[Đại công quốc Toscana]] và [[Công quốc Parma]] theo quyền của mẹ và hai lãnh thổ này đã thuộc về Áo. | |||
* Nhà Habsburg chỉ nắm giữ Parma đến năm 1748, theo [[Hiệp ước Aix-la-Chapelle (1748)|Hiệp ước Aix-la-Chapelle]], Áo đã nhường lại Công quốc Parma cho Bourbon Tây Ban Nha và quyền công tước cai trị sẽ thuộc về [[Filippo I xứ Parma|Vương tử Felipe]] và ông chính thức tạo ra dòng Bourbon-Parma kể từ đó. | |||
* Năm 1796, công quốc bị quân đội Pháp dưới quyền Napoleon Bonaparte chiếm đóng và sáp nhập vào [[Cộng hòa Cisalpine]] và [[Vương quốc Ý (Napoléon)|Vương quốc Ý]]. Năm 1801, Napoleon đã bồi thường cho người Nhà Bourbon-Parma [[Vương quốc Etruria]] (được lập ra từ lãnh thổ cũ của Đại công quốc Toscana của [[Nhà Habsburg-Lorraine]]). Năm 1807, một lần nữa họ bị Napoleon truất khỏi ngai vàng. | |||
* Sau khi Chiến tranh Napoleon kết thúc, [[Đại hội Viên]] đã trao cho [[Maria Ludovica của Áo]] (vợ của cựu hoàng Napoleon I) cai trị Công quốc Parma, đại hội bồi thường cho Bourbon-Parma [[Công quốc Lucca]] với điều kiện sau khi Maria Ludovica qua đời, Công quốc Parma sẽ được trao trả lại cho người Nhà Bourbon-Parma và điều này chỉ đến vào năm 1847. | |||
* Vị công tước có chủ quyền cuối cùng của Nhà Borbon-Parma chính là [[Roberto I xứ Parma]], lên kế vị sau khi cha mình là [[Carlo III của Parma]] bị ám sát vào năm 1854, lúc đó ông mới 6 tuổi. Chỉ 5 năm sau, khi Roberto được 11 tuổi thì ông bị phế truất và lãnh thổ của ông bị Vua [[Vittorio Emanuele II của Ý|Vittorio Emanuele II]] của [[Vương tộc Savoia]] sáp nhập và tạo ra [[Vương quốc Ý]]. | |||
* Năm 1919, [[Felice xứ Bourbon-Parma]] (người con thứ 6 và con trai thứ 3 của vị Công tước bị phế truất [[Roberto I xứ Parma]] và [[Maria Antónia của Bồ Đào Nha]], con gái út của [[Miguel I của Bồ Đào Nha]]) đã kết hôn với Nữ đại công tước [[Charlotte của Luxembourg]], em gái của Marie-Adélaïde (qua đời không lập gia đình), bà là con gái thứ 2 của [[Wëllem IV của Luxembourg]] và hậu duệ của họ là [[Jean của Luxembourg]] và con của ông, [[Henri của Luxembourg]] mang họ [[Vương tộc Borbone-Parma|Bourbon-Parma]]. Bourbon-Parma trị vì Luxembourg cho đến tận ngày nay. | |||
* Nhà Bourbon-Parma sản sinh ra 10 vị quân chủ cai trị, trong đó có 5 vị Công tước xứ Parma, 2 vị vua Etruria, 1 vị Công tước Lucca và 2 vị Đại công tước Luxembourg: | |||
** [[Công quốc Parma|Công tước xứ Parma]]: [[Filippo I xứ Parma|Filippo I]] (1748-1765); [[Ferdinando I xứ Parma|Ferdinando I]] (1765-1802); [[Carlo II xứ Parma|Carlo II]] (1847-1849) (trước đó là vua Etruria với vương hiệu Ludovico II và Công tước xứ Lucca với vương hiệu Carlo Ludovico); [[Carlo III xứ Parma|Carlo III]] (1849-1854); [[Robeto I xứ Parma]] (1854-1859). | |||
** [[Vương quốc Etruria|Vua của Etruria]]: [[Ludovico I của Etruria|Ludovico I]] (1801-1803); [[Carlo II xứ Parma|Ludovico II]] (1803-1807), sau trở thành Công tước xứ Lucca và Công tước xứ Parma. | |||
** [[Công quốc Lucca|Công tước xứ Lucca]]: [[Carlo II xứ Parma|Carlo Ludovico]] (1824-1847), trước đó là Vua Ludovico II của Etruria sau là Công tước Carlo II xứ Parma. | |||
**[[Luxembourg|Đại công tước xứ Luxembourg]]: [[Jean của Luxembourg]] (1964-2000); [[Henri của Luxembourg]] (2000-Nay). | |||
|- | |||
! style="background:#fbd"|[[Vương tộc Borbone-Hai Sicilie|Dòng Bourbon-Hai Sicilia]]<br>(1759-1861) | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
Dòng này cai trị 2 vương quốc Napoli và Sicilia sau đó 2 vương quốc hợp nhất với tên gọi [[Vương quốc Hai Sicilia]] và họ tiếp tục cai trị đến năm 1861 thì bị lật đổ, lãnh thổ bị sáp nhập vào [[Vương quốc Ý]] của [[Nhà Savoia]]. [[Vương tộc Borbone-Hai Sicilie]] được lập ra bởi [[Ferdinando I của Hai Sicilie|Vương tử Ferdinando]], con trai thứ 3 của Vua [[Carlos III của Tây Ban Nha|Carlos III]] và [[Maria Amalia của Ba Lan]] (vì thế ông là cháu nội của Vua [[Felipe V của Tây Ban Nha]], em trai của Vua [[Carlos IV của Tây Ban Nha]], gọi [[Filippo I xứ Parma]] - ông tổ của dòng Burbon-Parma là chú). Sau khi cha của ông là Carlo được thừa kế ngai vàng Tây Ban Nha năm 1759, cha ông đã rời Napoli để về Madrid và để lại Ferdinando lúc đó mới 8 tuổi thừa kế cả 2 ngai vàng, cai trị thông qua một hội đồng nhiếp chính, đây là dấu mốc tạo ra Vương tộc Bourbon-Hai Sicilia. | |||
* Năm 1806, quân Pháp chiếm đóng [[Vương quốc Napoli]] và Hoàng đế Napoleon I đã đưa anh trai của mình là [[Joseph Bonaparte]] lên làm vua, gia đình hoàng gia đã chạy đến [[Vương quốc Sicilia]] và vẫn giữ được vương quốc này cho đến hết [[Chiến tranh Napoleon]] dưới sự hỗ trợ của Hải quân hoàng gia Anh. Năm 1808, Joseph được đưa lên làm vua Tây Ban Nha, ngai vàng Napoli được kế thừa bởi [[Joachim Muras]], em rể của Napoleon. [[Đại hội Viên]] đã trao trả vương quốc Napoli lại cho Ferdinando và đến năm 1816 thì 2 vương quốc Napoli và Sicilia được hợp nhất trở thành Vương quốc Hai Siclia. | |||
* Năm 1860, Vua [[Vittorio Emanuele II của Ý|Vittorio Emanuele II]] đã quyết định xâm lược [[Lãnh địa Giáo hoàng]] và sau khi chiếm đóng Umbria và Marche, ông đã tiến vào Vương quốc Hai Sicilie. Quân đội của Garibaldi đã đánh bại những người theo chủ nghĩa bảo hoàng Neapolitan trong [[Trận Volturno]], diễn ra vào ngày 1 tháng 10 năm 1860. Francesco II và vợ đã chiến đấu ngoan cường cho đến 13 tháng 2 năm 1861, sau khi [[Gaeta]] bị thất thủ. Do đó, Vương quốc Hai Sicilia không còn tồn tại nữa, và lãnh thổ của nó được sáp nhập vào Vương quốc Sardinia (sớm đổi tên thành [[Vương quốc Ý]]), và Francesco II bị phế truất. | |||
* Tất cả hậu duệ trực hệ hiện nay của Nhà Borbon-Hai Sicilia đều đến từ Vương tử [[Alfonso xứ Caserta|Alfonso, Bá tước xứ Caserta]], em trai của Francesco II, vì vị vua này chỉ có 2 người con gái nhưng qua đời từ khi còn nhỏ. | |||
* Nhà Bourbon-Hai Sicilia sản sinh ra 4 vị quân chủ, gồm có: [[Ferdinando I của Hai Sicilie|Ferdinando I]] (1759-1816 và 1816-1825); [[Francesco I của Hai Sicilie|Francesco I]] (1825-1830); [[Ferdinando II của Hai Sicilie|Ferdinando II]] (1830-1859) và [[Francesco II của Hai Sicilie|Francesco II]] (1859-1861). | |||
===Isabell II (7)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Vương quốc Tây Ban Nha|VƯƠNG QUỐC TÂY BAN NHA]] <hr> [[Trienio Liberal]]<br>(1810 - 1873)'''}}||colspan="1"|{{center|[[Tập tin:Flag of Spain (1785–1873, 1875–1931).svg|center|130px]]}}||colspan="1"|{{center|[[Tập tin:Lesser Royal Coat of Arms of Spain (1700-1868 and 1834-1930) Pillars of Hercules Variant.svg|center|80px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Isabel II của Tây Ban Nha|Nữ vương Isabel II]] <br>(1833 - 1868)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị quân chủ thứ 7 của Nhà Bourbon Tây Ban Nha}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:20 Reales - Isabel II of Spain 1860.png|center|700px]]<hr>{{center|'''20 Reales [[Isabel II của Tây Ban Nha|Isabel II]] - 1860<hr>165 năm (2025)'''}}||{{center|[[Tập tin:Isabel II of Spain by Federico de Madrazo.jpg|120px]]<br>'''1856 - 1864<hr>[[AU]]'''}} || style="background:#ceb"colspan="1"|{{center|'''Đường kính'''<br>[[37.0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[26,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng'''<br>[[23,4 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[941.000]]<hr>2.849.000<br>[[(112,17$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#ecf"|ISABEL II | |||
|- | |||
|style="background:LemonChiffon;"| | |||
Isabel sinh ra tại [[Cung điện Hoàng gia Madrid]] năm 1830, là con gái cả của Vua [[Fernando VII của Tây Ban Nha]], và người vợ thứ tư, cũng là cháu gái của ông, [[Maria Cristina của Hai Sicilie]]. Vương thái hậu Maria Christina trở thành nhiếp chính vào ngày 29 tháng 9 năm 1833, khi cô con gái 3 tuổi Isabel của bà được tuyên bố là nữ vương Tây Ban Nha sau cái chết của vua cha Fernando VII. Chính phủ này đã thuyết phục Cortes tuyên bố Isabel lúc đó 13 tuổi, đã đủ tuổi cai trị. '''''Từ khi bà bắt đầu trị vì vào năm 1833 cho đến khi [[Margrethe II của Đan Mạch]] thoái vị vào năm 2024, tại bất kỳ thời điểm nào, đều có một nữ vương trị vì ở châu Âu''''''.<hr> | |||
Isabel lên ngôi vì Fernando VII đã thuyết phục [[Quốc hội Tây Ban Nha|Cortes Generales]] giúp ông bãi bỏ [[luật Salic]], do [[Nhà Bourbon]] sử dụng từ đầu thế kỷ XVIII, và tái lập luật kế vị cũ của Tây Ban Nha. Theo luật Salic thì nữ ko được kế vị, vì thế người đầu tiên lên ngôi sau cái chết của Fernando VII chính em trai của ông, [[Carlos María Isidro của Tây Ban Nha|Hoàng thân Carlos, Bá tước xứ Molina]], Carlos đã chiến đấu trong 7 năm trong thời kỳ Isabel còn nhỏ để tranh chấp ngai vàng của bà (xem [[Chiến tranh Carlist lần thứ nhất]]). Những người ủng hộ Carlos và hậu duệ của ông được gọi là Carlists, và cuộc chiến giành quyền kế vị là chủ đề của một số cuộc chiến tranh Carlist vào thế kỷ XIX.<hr> | |||
Dưới sự nhiếp chính của mẹ bà, Tây Ban Nha chuyển từ chế độ [[quân chủ chuyên chế]] sang chế độ [[quân chủ lập hiến]], thông qua [[Quy chế Hoàng gia Tây Ban Nha năm 1834|Quy chế Hoàng gia năm 1834]] và [[Hiến pháp Tây Ban Nha năm 1837]].<hr> | |||
Vào ngày 10 tháng 10 năm 1846, Đảng Ôn hòa đã ép nữ vương 16 tuổi của họ phải kết hôn với người em họ đời đầu của bà là [[Francisco de Asís của Tây Ban Nha|Francisco de Asís, Công tước xứ Cádiz]] (1822–1902), cùng ngày mà em gái của bà, [[María Luisa Fernanda của Tây Ban Nha|Infanta Luisa Fernanda]], kết hôn với [[Antoine, Công tước xứ Montpensier|Antoine d'Orléans, Công tước xứ Montpensier]]. Tuy nhiên, những cuộc hôn nhân này không hạnh phúc; có tin đồn dai dẳng cho rằng '''''không có đứa con nào của Isabella là con thật sự giữa bà với chồng, người được cho là [[đồng tính luyến ái]]'''''. Đảng Carlist khẳng định rằng người thừa kế ngai vàng, sau này trở thành vua [[Alfonso XII của Tây Ban Nha]], có cha là một đội trưởng đội cận vệ, Enrique Puigmoltó y Mayans. Francisco de Asís nhận tất cả các con của Isabel là con của mình: ông đóng vai kẻ bị xúc phạm, tiến hành tống tiền nữ vương để nhận tiền đổi lại việc giữ im lặng. Việc tống tiền của chồng bà sẽ tiếp tục và gia tăng trong thời gian Isabel sống lưu vong.<hr> | |||
Năm 1847, một vụ bê bối lớn đã xảy ra khi Isabella, lúc này 17 tuổi, công khai thể hiện tình yêu của mình với [[Francisco Serrano, Công tước thứ 1 xứ la Torre|Tướng Serrano]] và mong muốn ly hôn với chồng là Francisco de Asís;mặc dù Narváez và mẹ của Isabella là Maria Christina đã giải quyết được vấn đề đặt ra cho chế độ quân chủ—Serrano đã được chuyển khỏi thủ đô đến chức vụ tướng quân của Granada vào năm 1848—, nhưng hình ảnh của nữ vương trước công chúng ngày càng xấu đi kể từ đó.<hr> | |||
Vào ngày 2 tháng 2 năm 1852, Isabella bị một linh mục ám sát bằng dao, tác động của cuộc tấn công đã được giảm bớt nhờ lớp thêu vàng trên váy của bà và dây đai lưng của áo nịt ngực, và vết thương được cho là đâm vào ngực chỉ gây ra một vết rạch nhỏ ở bên phải bụng. Kẻ ám sát sau đó đã bị cách chức linh mục và bị xử tử bằng cách thắc cổ ([[Garrote]]).<hr> | |||
Trong [[Chiến tranh Tây Ban Nha-Maroc (1859-1860)]], Maroc phải công nhận chủ quyền của Tây Ban Nha đối với [[Ceuta]] và [[Melilla]]. Chuyển giao [[Santa Cruz de la Mar Pequeña]] cho Tây Ban Nha và bồi thường chiến phí 20 triệu [[Pesetas Tây Ban Nha|duros]]. | |||
|} | |||
===Alfonso XII (8)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Vương quốc Tây Ban Nha|VƯƠNG QUỐC TÂY BAN NHA]] <hr> [[Tây Ban Nha thời Phục Hưng]]<br>(1874 - 1931)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Bandera de España.svg|center|135px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Escudo de España (mazonado).svg|center|90px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Alfonso XII của Tây Ban Nha|Vua Alfonso XII]] <br>(1874 - 1885)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị vua thứ 8 của Nhà Bourbon Tây Ban Nha}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:5 Pesetas Alfonso XII of Spain 1st portrait - 1875 DEM.png|center|700px]]<hr>{{center|'''5 Pesetas [[Alfonso XII của Tây Ban Nha|Alfonso XII]]_[[1st portrait]] - 1875 DEM<hr>150 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Alfonso XII R.jpg|130px]]<br>'''1875 - 1877<hr>[[AU]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[37,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[25,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[22,5 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[8.641.000]]<hr>1.000.000<br>[[(42,92$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
===Alfonso XIII (9)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Vương quốc Tây Ban Nha|VƯƠNG QUỐC TÂY BAN NHA]] <hr> [[Tây Ban Nha thời Phục Hưng]]<br>(1874 - 1931)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Bandera de España.svg|center|135px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Escudo de España (mazonado).svg|center|88px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Alfonso XIII của Tây Ban Nha|Vua Alfonso XIII]] <br>(1886 - 1931)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị vua thứ 9 của Nhà Bourbon Tây Ban Nha}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:5 pesetas Alfonso XIII of Spain 1899-MS.png|center|700px]]<hr>{{center|'''5 Pesetas [[Alfonso XIII của Tây Ban Nha|Alfonso XIII]]_[[3rd portrait]] - 1899 DEM<hr>126 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Alfonso XIII por Gumersindo Pardo Reguera.jpg|120px]]<br>'''1895 - 1899<hr>[[MS]]'''}} ||{{center|'''Đường kính'''<br>[[37,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[25,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[22,5 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[13.930.000]]<hr>2.243.000<br>[[(94,64$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#ecf"|ALFONSO XIII | |||
|- | |||
|style="background:LemonChiffon;"| | |||
Ngày 10/12/1898, Tây Ban Nha và Mỹ ký [[Hiệp định Paris (1898)|Hiệp ước Paris]], hay còn gọi là '''''Hòa ước Mỹ-Tây Ban Nha'''''. Chính thức chấm dứt [[Chiến tranh Mỹ – Tây Ban Nha]] (25/4-12/8/1898). Theo đó, Tây Ban Nha từ bỏ mọi yêu sách về chủ quyền và trao quyền sở hữu cho Mỹ đối với các vùng lãnh thổ như: [[Puerto Rico]], [[Guam]], [[Philippines]] và trả quyền độc lập cho [[Cuba]], trong đó số nợ của Cuba trước đó sẽ do Tây Ban Nha trả. Người Mỹ sẽ bồi thường cho Tây Ban Nha 20 triệu đô la. Hiệp ước đã đánh dấu dự kết thúc của [[Đế quốc Tây Ban Nha|Đế chế Tây Ban Nha]]. Nó có tác động văn hóa lớn ở Tây Ban Nha được gọi là "Thế hệ '98". Nó đánh dấu sự khởi đầu của Hoa Kỳ như một cường quốc thế giới.<hr> | |||
Cha ông là [[Alfonso XII của Tây Ban Nha|Alfonso XII]] mất trước khi ông được sinh ra 6 tháng, vì thế, ông đã trở thành vua ngay sau khi ra đời, hay nói đúng hơn là ngay từ trong bụng mẹ. Mẹ ông là [[Maria Christina của Áo]] đã thực hiện quyền nhiếp chính cho đến khi ông 16 tuổi. <hr> | |||
Alfonso XIII bị bệnh nặng trong [[đại dịch 1889–1890|Đại dịch cúm châu Á]] hay Cúm Nga (1889-1890), đây là đại dịch đầu tiên không chỉ lây lan qua một khu vực như Âu Á mà còn trên toàn thế giới. Sức khỏe của ông suy yếu vào khoảng ngày 10 tháng 1 năm 1890, và các bác sĩ báo cáo tình trạng của ông khi bệnh cúm tấn công hệ thần kinh khiến vị vua trẻ tuổi trở nên lười biếng. Cuối cùng ông đã hồi phục.<hr> | |||
Trong chuyến thâm cấp nhà nước đến Vương quốc Anh, Alfonso đã gặp [[Victoria Eugenie của Battenberg]], người gọi [[Edward VII của Anh|Edward VII]] là cậu ruột, vì mẹ của bà là [[Beatrice của Liên hiệp Anh]], em gái ruột của Edward. Có nghĩa là Victoria Eugenie là cháu ngoại của [[Nữ hoàng Victoria]]. | |||
|} | |||
===Juan Carlos I (10)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Vương quốc Tây Ban Nha|VƯƠNG QUỐC TÂY BAN NHA]] <hr> [[Tây Ban Nha|Tây Ban Nha hiện đại]]<br>(1975 - Nay)}}||colspan="1"|{{center|[[File:Bandera de España.svg|center|135px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Escudo de España (mazonado).svg|center|86px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Juan Carlos I của Tây Ban Nha|Vua Juan Carlos I]] <br>(1975 - 2014)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị vua thứ 10 của Nhà Bourbon Tây Ban Nha}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:2000 Pesetas - Juan Carlos I Sprint.png|center|700px]]<hr>{{center|'''2.000 Pesetas [[Juan Carlos I của Tây Ban Nha|Juan Carlos I]] & [[Felipe VI của Tây Ban Nha|Felipe]]_[[Thế vận hội Mùa hè 1992|Olympic Barcelona 1992]]<hr>33 năm (2025)'''}}||{{center|[[Tập tin:Ministru prezidents Valdis Dombrovskis oficiālās pusdienās tiekas ar Spānijas karali Huanu Karlosu I un karalieni Sofiju (3506936051) (cropped).jpg|120px]]<br> '''1992<hr>[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[40,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[92,5%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,975 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[41.651]]<hr>1.050.000<br>[[(41,34$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
|} | |||
==🏆 TÂY BAN NHA (SAVOY)== | |||
===Amadeo I=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Vương quốc Tây Ban Nha|VƯƠNG QUỐC TÂY BAN NHA]] <hr> [[Vương tộc Savoia|Nhà Savoy]]<br>(1870 - 1873)}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Spain (1785–1873, 1875–1931).svg|center|135px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Escudo de España con Amadeo de Saboya.svg|center|86px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Amadeo I của Tây Ban Nha|Vua Amadeo I]] <br>(1870 - 1873)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị vua duy nhất của Tây Ban Nha đến từ Nhà Savoy}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:5 Pesetas - Amadeo I 1871.png|center|700px]]<hr>{{center|'''5 Pesetas [[Amadeo I của Tây Ban Nha|Amadeo I]] - 1871 SDM<hr>154 năm (2025)'''}}||{{center|[[Tập tin:Amadeo I King of Spain in color.jpg|120px]]<br> '''1871<hr>[[AU]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[37,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[25,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[22,5 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[13.641.162]]<hr>2.850.000<br>[[(110,17$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==🏆 TÂN TÂY BAN NHA == | |||
===Felipe V (1)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đế chế Tây Ban Nha|ĐẾ CHẾ TÂY BAN NHA - BOURBON]] <hr>[[Tân Tây Ban Nha|Phó vương quốc Tân Tây Ban Nha]]<br> (1521 - 1821)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Cross of Burgundy.svg|center|135px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Escudo del Reino de México.svg|center|65px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Felipe V của Tây Ban Nha|Vua Felipe V]] <br>(1700 - 1724 & 1724 - 1746)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị vua đầu tiên của Tây Ban Nha đến từ Nhà Bourbon}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:8 Reales - Felipe V 1740.jpg|center|700px]]<hr>{{center|'''8 reales [[Felipe V của Tây Ban Nha|Felipe V]] - 1740 MF<hr>285 năm (2025)'''}}||{{center|[[Tập tin:Felipe V de España.jpg|120px]]<br>1732 - 1747<hr>'''[[AU]]'''}} || style="background:#ceb"colspan="1"|{{center|'''Đường kính'''<br>[[40,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[91,7%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,07 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,82319 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[11%]]<hr>12.400.000<br>[[(487,42$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
===Fernando VI (3)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đế chế Tây Ban Nha|ĐẾ CHẾ TÂY BAN NHA - BOURBON]] <hr>[[Tân Tây Ban Nha|Phó vương quốc Tân Tây Ban Nha]]<br> (1521 - 1821)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Cross of Burgundy.svg|center|135px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Escudo del Reino de México.svg|center|65px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Fernando VI của Tây Ban Nha|Fernando VI]]<br> (1746 - 1759)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị vua thứ 3 của Tây Ban Nha đến từ Nhà Bourbon}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:8 reales of New Spain, Fernando VI - 1757 MM.png|center|700px]]<hr>{{center|'''8 reales [[Fernando VI của Tây Ban Nha|Fernando VI]] - 1757 MM<hr>268 năm (2025)'''}}||{{center|[[Tập tin:Ferdinand VI of Spain.jpg|120px]]<br>1747 - 1760<hr>'''[[AU]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[39,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[91,7%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,07 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,82319 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[9%]]<hr>5.000.000<br>[[(214,59$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
===Carlos III (4)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đế chế Tây Ban Nha|ĐẾ CHẾ TÂY BAN NHA - BOURBON]] <hr>[[Tân Tây Ban Nha|Phó vương quốc Tân Tây Ban Nha]]<br> (1521 - 1821)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Cross of Burgundy.svg|center|135px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Escudo del Reino de México.svg|center|65px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Carlos III của Tây Ban Nha|Vua Carlos III]] <br>(1759 - 1788)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị vua thứ 4 của Tây Ban Nha đến từ Nhà Bourbon}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:8 Reales of New Spain 1763 MF.png|center|700px]]<hr>{{center|'''8 reales [[Carlos III của Tây Ban Nha|Carlos III]] - 1763 MF<hr>262 năm (2025)'''}}||{{center|[[Tập tin:Charles III of Spain.jpg|120px]]<br>1760 - 1772<hr>'''[[XF]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[39,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[91,7%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,07 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,82319 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[4%]]<hr>5.500.000<br>[[(219,78$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:8 reales of New Spain, Carlos III - 1778 FF.png|center|700px]]<hr>{{center|'''8 reales [[Carlos III của Tây Ban Nha|Carlos III]] - 1778 FF<hr>247 năm (2025)'''}}||{{center|[[Tập tin:Charles III of Spain.jpg|120px]]<br>1772 - 1789<hr>'''[[AU]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[40,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[91,7%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,07 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,82319 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[4%]]<hr>3.200.000<br>[[(137,34$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#ecf"|CARLOS III | |||
|- | |||
|style="background:LemonChiffon;"| | |||
Ông là con trai trưởng của Felipe V của Tây Ban Nha với người vợ thứ 2 Elisabeth Farnese, nếu tính cả các con của người vợ đầu thì ông là con trai thứ 5, vì thế từ ban đầu không hề có cơ hội thừa kế ngai vàng Tây Ban Nha. Nên ông được mẹ ông thu xếp để thừa kế ngai vàng Đại công quốc Toscana và Công quốc Parma, sau được đưa lên ngai vàng Vương quốc Napoli và Sicilia ở Bán đảo Ý.<hr> | |||
Khi sinh ra đời, Carlos xếp thứ 4 trên hàng kế vị ngai vàng Tây Ban Nha, sau 3 người anh cùng cha khác mẹ là Louis, Felipe và Fernando. Năm ông 3 tuổi (1719), người anh cùng cha khác mẹ là Felipe qua đời nên ông xếp thứ 3 trong dòng kế vị; Năm Carlos 8 tuổi (1724), người anh cả cùng cha khác mẹ là vua Luis I tại vị chỉ được 7 tháng thì đột ngột qua đời mà không để lại con cái, nên ông xếp thứ 2 trên dòng kế vị, chỉ sau người anh Fernando; Năm 1759, khi đang cai trị 2 vương quốc Napoli và Sicilia ở bán đảo Ý, ông được triệu về Tây Ban Nha để kế vị ngai vàng, vì người anh cùng cha khác mẹ của ông là vua Fernando VI đã qua đời mà không để lại người kế vị.<hr> | |||
Ông trị vì Công quốc Parma từ năm 1731 - 1735 với tước hiệu Carlo I; ông cai trị Vương quốc Napoli với vương hiệu Carlo VI và Vương quốc Sicilia với vương hiệu Carlo IV trong 19 năm, từ năm 1734 - 1759. Sau cái chết của người anh cùng cha khác mẹ là vua Fernando VI, ông lên kế vị ngai vàng Tây Ban Nha từ năm 1759 cho đến lúc qua đời vào năm 1788.<br> | |||
Ông rời Bán đảo Ý để về kế vị ngai vàng Tây Ban Nha và để lại người con trai thứ 3 là Ferdinand trị vì Napoli và Sicilia, khai sinh ra Vương tộc Borbone-Hai Sicilie. Trong khi đó, em trai ông là Filippo trở thành Công tước xứ Parma và khai sinh ra Vương tộc Borbone-Parma. Con trai thứ 2 của ông kế vị ngai vàng Tây Ban Nha với Đế hiệu là Carlos IV. Con trai lớn nhất của ông là Felipe, Công tước xứ Calabria không được thừa kế bất cứ ngai vàng nào là vì ông ấy bị thiểu năng trí tuệ.<hr> | |||
Ông là người thành lập ra Ngân hàng Tây Ban Nha vào năm 1782 và nó tồn tại cho đến nay như là một ngân hàng trung ương của Tây Ban Nha.<hr> | |||
Carlos được xem là một vị vua tài năng và thành công nhất châu Âu nếu so với các nhà cai trị trong thế hệ của ông; Được xem là người đề xướng chủ nghĩa cai trị Chuyên chế khai sáng. Ông là người đã tạo ra quốc ca và quốc kỳ Tây Ban Nha. Năm 1770, Carlos III tuyên bố '''Marcha Real''' sẽ được sử dụng trong các nghi lễ chính thức. Quốc kỳ do ông đề xướng chính là quốc kỳ chính thức của Tây Ban Nha hiện tại với 2 sọc đỏ trên và dưới, một sọc vàng ở giữa có chiều rộng gấp đôi sọc đỏ, nằm trên sọc vàng hơi chếch về phía trái là huy hiệu của Castilla và León.<hr> | |||
[[Louise Élisabeth xứ Orléans]] vương hậu của Tây Ban Nha với tư cách là vợ của [[Luis I của Tây Ban Nha|Vua Luis I]], bà bị [[Rối loạn nhân cách ranh giới]] nghiêm trọng, nhưng thời đó người ta không hiểu về bệnh này, nên người ta không thích tính cách và con người của Louise. Chồng bà mất vào năm 1724, khi đó mới 17 tuổi và chị tại vị được hơn 7 tháng. Bà mất năm 1742, sau chồng 18 năm, lúc đó bà 33 tuổi, họ không có con cái gì. Louise là con gái thứ 4 của [[Philippe II xứ Orléans]], là nhiếp chính vươn cho vua Louis XV và là cháu nội của vua Louis XIII và gọi vua Louis XIV là bác ruột. | |||
|} | |||
==🏆 PHÓ VƯƠNG PERU== | |||
===Carlos IV (5)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đế chế Tây Ban Nha|ĐẾ CHẾ TÂY BAN NHA - BOURBON]] <hr>[[Phó vương quốc Peru]]<br> (1542 - 1824)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Cross of Burgundy.svg|center|135px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Lesser Coat of arms of Spain (1785-1873 and 1875-1931)-Version of the Flag.svg|center|51px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Carlos IV của Tây Ban Nha|Vua Carlo IV]]<br> (1788 - 1808)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị vua thứ 5 của Tây Ban Nha đến từ Nhà Bourbon}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:8 reales Calorus IV Peru colony - 1800AU.png|center|700px]]<hr>{{center|'''8 reales [[Carlos IV của Tây Ban Nha|Carlos IV]] - 1800<hr>225 năm (2025)'''}}||{{center|[[Tập tin:Carlos IV de rojo.jpg|120px]]<br>1791 - 1808<hr>'''[[AU]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[39,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[89,6%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,06 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,24576 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[4.207.000]] <hr>3.000.000<br>[[(129,59$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
* [[María Luisa Josefina của Tây Ban Nha]] vợ của [[Ludovico I của Etruria]] là con gái thứ 3 của ông. | |||
==🏆 PHÓ VƯƠNG RÍO DE LA PLATA== | |||
===Fernando VII (6)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đế chế Tây Ban Nha|ĐẾ CHẾ TÂY BAN NHA - BOURBON]] <hr>[[Phó vương quốc Río de la Plata]]<br> (1776 - 1814)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Spain (1785–1873, 1875–1931).svg|center|130px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Arms of Buenos Aires (Flag).svg|center|70px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Fernando VII của Tây Ban Nha|Hoàng đế Fernando VII]] <br>(1808 & 1813 - 1833)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị vua thứ 6 của Tây Ban Nha đến từ Nhà Bourbon}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:8 reales Fernando VII - 1823 PTSPJ.png|center|700px]]<hr>{{center|'''8 reales [[Fernando VII của Tây Ban Nha|Fernando VII]] - 1823 PTSPJ<hr>202 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Fernando VII - Vicente López.jpg|120px]]<br>'''1808 - 1825<hr>[[XF]]}}''' || {{center|'''Đường kính'''<br>[[38,5 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[89,6%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,07 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,25472 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[16%]]<hr>3.000.000<br>[[(128,76$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
[[María Luisa Josefina của Tây Ban Nha]] vợ của [[Ludovico I của Etruria]] là em gái ruột của ông. | |||
==🏆 TÂY BAN NHA FRANCO== | |||
===Francisco Franco=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Trọng lượng | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Tây Ban Nha thời Franco|QUỐC GIA TÂY BAN NHA]] <br> (1936 - 1975) <hr>[[Chế độ độc tài]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Spain (1945–1977).svg|center|130px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:COA Spain 1945 1977.svg|center|82px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Francisco Franco|Quốc trưởng Francisco Franco]] <br>(1936 - 1975)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Quốc trưởng duy nhất của Tây Ban Nha Franco}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:100 Pesetas - Francisco Franco 1966.png|center|700px]]<hr>{{center|'''100 Pesetas [[Francisco Franco]] - 1966<hr>59 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:RETRATO DEL GRAL. FRANCISCO FRANCO BAHAMONDE (adjusted levels).jpg|120px]]<br>'''1966 - 1970<hr>[[AU]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[34,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[80,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[19,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[15,2 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[15.045.000]]<hr>480.000<br>[[(20,43$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==📕 IRAN QAJAR== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#ccf"|[[Tập tin:Imperial Emblem of the Qajar Dynasty (Lion and Sun).svg|70px]] | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|Hoàng tộc Qajar <hr>(1789 - 1925) | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
Triều đại Qajar được kiến lập bởi [[Mohammad Khan Qajar]], có nguồn gốc từ xứ Turkic ở [[Kavkaz]] và đông nam của [[Thổ Nhĩ Kỳ]], nhà Qajar cai trị một phần của Ba Tư từ năm 1789 đến năm 1794 sau khi [[Mohammad Khan Qajar]] bắt và giết được vua [[Lotf Ali Khan]] của [[Nhà Zand]], [[Mohammad Khan Qajar]] lên ngôi Shah của Ba Tư vào cùng năm đó, tuy nhiên ở đó vẫn còn lực lượng của [[Nhà Afsharid]] nên ông vẫn phải tiếp tục chiến đấu với họ cho đến năm 1796, ông đã dễ dàng chiếm được thành phố [[Mashhad]] của họ, chấm dứt nhà Afsharid. | |||
Người Qajar về mặt lịch sử là một bộ tộc người Turk sống ở [[Armenia]]. Họ tái định cư ở khu vực Azerbaijan trong thế kỷ XVII và XVIII. Đôi khi họ được coi là một nhóm nhỏ của người Azerbaijan gốc Iran. Người Qajar ban đầu xuất hiện và lan rộng ở Tiểu Á vào khoảng thế kỷ X và XI. Sau đó, họ hỗ trợ cho [[Nhà Safavid]] kể từ những ngày đầu của triều đại này. Nhiều thành viên của bộ tộc Qajar nắm giữ các cấp bậc quan trọng trong nhà nước [[Iran Safavid]] (1501 - 1736). | |||
Sau cái chết của Hoàng đế [[Nader Shah]] của Ba Tư-Safavid, nhiều thủ lĩnh bộ lạc đã bắt đầu nổi dậy và bộ lạc nào cũng mong muốn quyền thống trị. Khi đó trong cuộc hỗn chiến, thủ lĩnh bộ lạc Qajar là [[Mohammad Hoseyn Khan]] bị giết chết, con trai của ông ta là Mohammad (vua [[Mohammad Khan Qajar|Mohammad]] sau này) bị đem đi thiến theo lệnh của Adel Shah, cháu ruột của [[Nadir Shah]], sau đó ông ta còn đặt thêm chữ <nowiki>''Agha''</nowiki> trước tên của Mohammad có nghĩa là kẻ bị thiến. Hành động tàn ác này đã góp phần tạo nên một tính cách vô cùng tàn bạo của Mohammad sau này. | |||
Năm 1750, [[Karim Khan]] chiến thắng trong cuộc đấu tranh ngai vàng. Ông cưới em gái của Agha Mohammad làm vợ và giam cầm ông ở [[Shiraz]]. 29 năm sau, [[Karim Khan]] chết. Agha Mohammad nhân cớ đó mà phi ngựa chạy khỏi kinh thành, ông phi ngựa đến [[Biển Caspi]], khi đến đây, ông được bộ lạc Qajar chào đón, ông ở đây tập trung xây dựng thế lực riêng cho mình. Trong lúc này, nhà Zand đang phải đối mặt với vấn nạn đấu tranh quyền lực bởi các hoàng tử. Agha Mohammad nhân cớ nhà Zand đang xuống dốc thì ông liền dẫn binh đánh vào kinh đô Shiraz của nhà Zand. | |||
Mohammad cùng đội quân của ông ta tiến về thành Shiraz, ở đây ông đã phải đối đầu với các lực lượng trung thành của nhà Zand còn sót lại. Sau hàng giờ giao tranh, quân trung thành của nhà Zand bị tan vỡ, Mohammad tiến vào thành tuyên bố thành lập nhà Qajar và làm lễ lên ngôi ở đây và sau đó là tuyên bố mình là Shahanshah (vua của các vị vua) và ông cũng chọn đây là thủ đô tạm thời của mình. | |||
Mohammad tiếp túc công cuộc chinh chiến, ông quy phục được các bộ lạc khác và sau đó vào năm 1794, lãnh địa cuối cùng của nhà Zand bị ông hạ bệ, ông thẳng tay dùng cực hình với [[Lotf Ali Khan]] bằng các phương pháp man rợ nhất, ông cũng cho xử tử dòng tộc của Adel Shah (kẻ đã thiến ông năm xưa). Tuy nhiên các lực lượng của nhà [[Nhà Afsharid]] vẫn còn đó nên ông vẫn phải tiếp tục chinh chiến, đến năm 1796 ông đã dễ dàng hạ bệ được thành [[Mashhad]], nhà Afsharid sụp đổ. '''''Ba Tư đã được thống nhất sau gần nửa thế kỷ bị chia cắt - kể từ sau khi [[Nhà Safavid]] xụp đổ'''''. | |||
===Ahmad Shah=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Tỷ lệ | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Qajar Iran|ĐẾ CHẾ QAJAR IRAN]] <br> (1789 - 1925) <hr> [[Nhà Qajar]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:State flag of Persia (1907–1933).svg|center|130px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Imperial Emblem of the Qajar Dynasty (Lion and Sun).svg|center|80px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Ahmad Shah Qajar|Vua Ahmad Shah Qajar]] <br>(1909 - 1925)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị vua thứ 7 và cuối cùng của Triều đại Qajar}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:5.000 Dinar Ahmad Shah of Iran - 1913.png|center|700px]]<hr>{{center|'''5.000 Dinar [[Ahmad Shah Qajar|Ahmad Shah]] - 1913<hr>112 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:AhmadShahQajar.jpg|120px]]<br>1913 - 1926<hr>'''[[AU]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[36,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc''' <br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[23,0251 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[20,72259 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[4%]]<hr>4.100.000<br>[[160,45$]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#ecf"|Ahmad Shah Qajar | |||
|- | |||
|style="background:LemonChiffon;"| | |||
'''[[Ahmad Shah Qajar]]''' là quân chủ thứ 7 và cuối cùng của Nhà Qajar cai trị [[Iran Qajar|Đế chế Iran Qajar]] (1794 - 1925). Ông tiếp nhận ngai vàng khi mới 12 tuổi, lúc đó cha của ông là [[Mohammad Ali Shah Qajar]] bị Quốc hội (Grand Majlis) lật đổ vì chính sách chuyên quyền của mình vào năm 1909. Vì chưa đủ tuổi cai trị nên chú của ông là [[Ali Reza Khan Azod al-Molk]], đã giữ vai trò là nhiếp chính cho đến năm 1914, lúc đó Ahmad Shah được 17 tuổi thì chính thức trị vì đất nước. | |||
Khi đế tuổi trưởng thành để nắm quyền cai trị, ông đã cố gắng sửa chữa thiệt hại do cha mình gây ra bằng cách bổ nhiệm những bộ trưởng giỏi nhất mà ông có thể tìm thấy. Tuy nhiên, ông là một nhà cai trị kém hiệu quả, phải đối mặt với tình trạng bất ổn nội bộ và sự xâm nhập của nước ngoài, đặc biệt là từ Đế quốc Anh và Đế quốc Nga. Quân đội Nga và Anh đã chiến đấu chống lại lực lượng Đế quốc Ottoman ở Iran trong Thế chiến thứ nhất. | |||
Năm 1917, người Anh đã sử dụng Iran làm [[Sự can thiệp quân sự của nước ngoài vào Nga|bàn đạp cho một cuộc tấn công vào Nga]] trong một nỗ lực không thành công nhằm đảo ngược [[Cách mạng Nga]] năm 1917. [[Liên Xô]] mới thành lập đã đáp trả bằng cách sáp nhập các phần của miền bắc Ba Tư làm các quốc gia đệm giống như hành động của các sa hoàng trước đây. Tiến về [[Tehran]], Liên Xô đã giành được nhiều nhượng bộ nhục nhã hơn từ chính phủ Iran. | |||
Đến năm 1920, chính phủ hầu như đã mất hết quyền lực bên ngoài thủ đô và Ahmad Shah đã mất quyền kiểm soát tình hình. Ahmad Shah cũng được mô tả là "thích hưởng lạc, yếu đuối và bất tài". Tình hình kinh tế yếu kém của Iran khiến Ahmad Shah và chính phủ của ông phải chịu sự chi phối của ảnh hưởng nước ngoài. | |||
Vào ngày 21 tháng 2 năm 1921, chính phủ của Ahmad Shah đã bị lật đổ trong một cuộc đảo chính quân sự do Đại tá [[Reza Shah|Reza Khan]], chỉ huy [[Lữ đoàn Cossack Ba Tư]], người sau đó đã được bổ nhiệm làm Bộ trưởng chiến tranh. Trong cuộc đảo chính, Reza Khan đã sử dụng ba nghìn người và chỉ có mười tám khẩu súng máy, một cuộc đảo chính không đổ máu diễn ra nhanh chóng. Một trong những hành động đầu tiên của Khan là hủy bỏ Hiệp định Anh-Ba Tư không được lòng dân. Ngoài ra, ông đã ký [[Hiệp ước hữu nghị Nga-Ba Tư (1921)]]. Hiệp ước này đã hủy bỏ tất cả các hiệp ước trước đó giữa hai nước và cũng trao cho Ba Tư quyền vận chuyển đầy đủ và bình đẳng ở [[Biển Caspi]]. | |||
Bị tước bỏ mọi quyền lực còn lại vào năm 1923 khi Raza Khan được bổ nhiệm làm thủ tướng. Sự thiếu quan tâm rõ ràng của Ahmad Shah trong việc giải quyết các vấn đề của nhà nước và sức khỏe kém đã thúc đẩy ông rời khỏi Iran trong một chuyến đi dài đến châu Âu. Ông chính thức bị phế truất vào ngày 31 tháng 10 năm 1925, khi Reza Khan được Grand Majlis tuyên bố là Shah, với hiệu Reza Shah Pahlavi. Điều này đã chấm dứt tồn tại của [[Nhà Qajar|triều đại Qajar]]. '''''Từ chuyến công du ở châu Âu, Ahmad chính thức sống lưu vong cho đến lúc qua đời'''''. | |||
[[Reza Shah|Reza Khan]], người đã lật đổ Ahmad Shah đã trở thành vị vua mới của Ba Tư, chính thức đăng quang vào ngày 25 tháng 04 năm 1926, mở ra [[triều đại Pahlavi]], đây cũng chính là triều đại cuối cùng trong lịch sử quân chủ Iran, nó chỉ tồn tại đến năm 1979 thì bị cách mạng Hồi giáo lật đổ, những người cách mạng đã lập ra [[Iran|Nhà nước Hồi giáo Iran]] và tồn tại đến tận ngày nay. | |||
|} | |||
|} | |||
==📕 IRAN PAHLAVI== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#ccf"|[[File:Imperial Emblem of the Pahlavi Dynasty (Lion and Sun).svg|70px]] | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|Hoàng tộc Pahlavi <hr>(1925 - 1979) | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
===Reza Shah=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Iran Pahlavi|NHÀ NƯỚC ĐẾ CHẾ BA TƯ]] <br> (1925 - 1979) <hr> [[Triều đại Pahlavi|Nhà Pahlavi]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:State flag of Iran (1964–1980).svg|center|120px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Imperial Emblem of the Pahlavi Dynasty (Lion and Sun).svg|center|82px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Reza Shah|Vua Rezā Shāh Pahlavi]] <br>(1925 - 1941)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị vua đầu tiên của Iran đến từ Nhà Pahlavi}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="3"| | |||
|- | |||
| [[File:5000 Dīnār - Rezā Pahlavī 1927L.png|center|700px]]<hr>{{center|'''5.000 Dinar [[Reza Shah|Rezā Shāh Pahlavi]] - 1927L<hr>96 năm (2025)'''}}||{{center|[[Tập tin:Reza Shah Pahlavi Official Portrait - Colorized 2.jpg|100px]]<br>1927 - 1929<hr>'''[[AU|AU-58]]'''}} || style="background:#ceb"colspan="1"|{{center|'''Đường kính'''<br>[[36,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[23,0251 gr]]<hr> '''Bạc ròng''' <br>[[20,72259 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[3.000.000]]<hr>8.032.000<br>[[(314,3$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:5 Rials - Rezā Pahlavī 1931.png|center|700px]]<hr>{{center|'''5 Rial [[Reza Shah|Rezā Shāh Pahlavi]] - 1931<hr>94 năm (2025)'''}}||{{center|[[Tập tin:Reza Shah Pahlavi Official Portrait - Colorized 2.jpg|100px]]<br>1927 - 1929<hr>'''[[MS|MS-63]]'''}} || style="background:#ceb"colspan="1"|{{center|'''Đường kính'''<br>[[37,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[82,8%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[25,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[22,5 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[5.471.000]]<hr>4.610.000<br>[[(180,40$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#ecf"| Reza Shah Pahlavi | |||
|- | |||
|style="background:LemonChiffon;"| | |||
Reza được xem là một ông vua chân đất đúng nghĩa, xuất phát từ vị trí thấp nhất trong quân đội, vươn lên chức tướng chỉ huy một lữ đoàn rồi tham gia chính trị với chức Bộ trưởng chiến tranh - Tổng tư lệnh quân đội, rồi thủ tướng và cuối cùng được Quốc hội bầu lên ngai vàng, mở ra [[Nhà Pahlavi|triều đại Pahlavi]], tuy chỉ giữ được ngai vàng trong 54 năm, với 2 đời quân chủ, nhưng Pahlavi được xem là triều đại tạo ra nước Iran hiện đại. | |||
Cha của Reza là một thiếu tá quân đội, nên gia cảnh khá sung túc, nhưng đã đột ngột qua đời khi Reza mới lên 8 tuổi. Ông và mẹ phải đến Tehran sống nương nhờ ở nhà người anh của mẹ. Chưa đến 1 năm sau, mẹ ông tái giá và ông ở lại với cậu, 3 năm sau ông được cậu gửi đến sống nhờ nhà gia đình một người bạn là Kazim Khan, một sĩ quan trong Lữ đoàn Cossack Ba Tư, tại đây, ông có một căn phòng riêng và được học ké với con cái của Kazim Khan, vì ông này thuê gia sư về nhà dạy học. Năm 16 tuổi, Reza gia nhập Lữ đoàn của Kazim Khan với cấp bậc nhỏ nhất trong quân đội. Năm 25 tuổi, ông trở thành lính canh và người hầu cho Tổng lãnh sự Hà Lan tại Iran. | |||
Reza phục vụ Quân đội Hoàng gia Iran với cấp bậc binh nhì, dưới quyền chỉ huy của Thân vương [[Abdol-Hossein Farman Farma]] (thuộc [[Nhà Qajar|Hoàng tộc Qajar]] mà sau này Reza lật đổ) và vị tướng này đã nhận thấy tiềm năng của ông nên đã cho đi học ở trường quân sự, sau khi tốt nghiệp giữ cấp bậc trung sĩ pháo binh. Từ năm 1911 đến 1915, Raza thăng từ trung uý lên đại tá, và cấp bậc cao nhất trong quân đội của ông là [[chuẩn tướng]]. Năm 1919, ông chọn họ Pahlavi, sau này trở thành tên triều đại do ông thành lập.<hr> | |||
Sau [[Cách mạng Nga]], người Anh đã dùng lãnh thổ Ba Tư làm bàn đạp để tấn công vào Liên Xô nhầm ủng hộ phong trào [[Bạch vệ]] để phục hoàng lại vương triều Romanov, và vì thế mà lãnh thổ Ba Tư trở thành chiến trường. Liên Xô đã phản ứng lại bằng cách sáp nhập một phần Bắc Ba Tư và lập ra [[Cộng hòa Xô viết Xã hội chủ nghĩa Ba Tư]]. Triều đình [[Qajar Ba Tư]] liên tục nhượng bộ Liên Xô, lúc này, vua [[Ahmad Shah Qajar]] và chính phủ của ông chỉ còn kiểm soát được thủ đô Tehran, các lãnh thổ ngoài thủ đô đều do người Anh và Liên Xô kiểm soát. | |||
Cuối năm 1920, Liên Xô đang chuẩn bị đưa quân tiến về Tehran, thấy bị đe doạ, tướng Anh là [[Edmund Ironside, Nam tước Ironside thứ 1|Edmund Ironside]] đã bổ nhiệm Reza Khan làm chỉ huy trưởng của Lữ đoàn Cossack Ba Tư với lực lượng 3.000-4.000 người, đồng thời tài trợ vũ khí và trả lương, để lực lượng này tiến về không chế Tehran. Sĩ quan chỉ huy pháo binh trấn giữ Tehran là [[Mahmud Mir-Djalali]] đã được ra lệnh bắng vào quân của Reza Khan, nhưng ông này từ chối và mở cổng thành cho quân Reza Khan đi vào, ông ấy còn cho quay đầu đại bác bắng vào [[Cung điện Golestan]] để thị uy, khiến cho vua [[Ahmad Shah Qajar]] kinh hãi, từ bỏ khán cự và đầu hàng sau đó. | |||
Cuộc đảo chính thành không mà không đổ máu đã giải tán chính phủ cũ, lập [[Zia ol Din Tabatabaee]] làm thủ tướng, bản thân Reza Khan trở thành Bộ trưởng Chiến tranh và Tổng tư lệnh quân đội. Trong khi Reza Khan và lữ đoàn Cossack của ông bảo vệ được Tehran, phái viên Ba Tư tại Moscow đã đàm phán một hiệp ước với những người Bolshevik để rút quân đội Liên Xô khỏi Ba Tư. Điều IV của [[Hiệp ước hữu nghị Nga-Ba Tư (1921)]] '''''cho phép Liên Xô xâm lược và chiếm đóng Ba Tư, nếu họ tin rằng quân đội nước ngoài đang sử dụng nơi này làm nơi tập trung cho một cuộc xâm lược lãnh thổ Liên Xô'''''.<hr> | |||
Tuy chỉ là bộ trưởng, nhưng vì nắm trong tay Lữ đoàn Cossack, nên quyền lực của Reza Khan lấn ác thủ tưởng. Đến năm 1923, Reza Khan đã phần lớn thành công trong việc bảo vệ nội địa Iran khỏi mọi mối đe dọa trong và ngoài nước còn sót lại. Khi trở về thủ đô, ông được bổ nhiệm làm thủ tướng. Ngay sau đó [[Ahmad Shah Qajar|Vua Ahmad Shah]] công du đến châu Âu cũng như kết hợp chữa bệnh. năm 1923, ông được nhận tước hiệu quý tộc với phong cách "His Serene Highness". Đến tháng 10 năm 1925, Reza Khan đã thành công trong việc gây sức ép buộc Grand Majlis phế truất và chính thức cấm vua Ahmad Shah trở về Ba Tư, và đưa ông lên làm Shah tiếp theo của Ba Tư. | |||
Ban đầu, ông đã có kế hoạch tuyên bố đất nước là một nước cộng hòa, giống như Atatürk thực hiện ở Thổ Nhĩ Kỳ, nhưng đã từ bỏ ý tưởng này trước sự phản đối của Anh và giới giáo sĩ. Grand Majlis, triệu tập như một hội đồng lập hiến, tuyên bố ông là Shah (Vua) của Ba Tư vào ngày 12 tháng 12 năm 1925, theo Hiến pháp Ba Tư năm 1906. Ba ngày sau, vào ngày 15 tháng 12, ông tuyên thệ nhậm chức hoàng đế và do đó trở thành shah đầu tiên của triều đại Pahlavi. Lễ đăng quang của Reza Shah diễn ra muộn hơn nhiều, vào ngày 25 tháng 4 năm 1926. Vào thời điểm đó, con trai ông, [[Mohammad Reza Pahlavi]], được tuyên bố là thái tử. | |||
Năm 1926, Rezā Shāh cho làm ra chiếc [[Vương miện Pahlavi]], được đính 3.380 viên kim cương, dành cho lễ đăng quan của mình, '''''đây được xem là một trong những vương miện đính nhiều kim cương nhất thế giới từng tồn tại'''''. <hr> | |||
Trong 16 năm trị vì của Reza Shah, những dự án canh tân lớn đã được tiến hành, chẳng hạn như các dự án xây dựng đường bộ và [[Tuyến đường sắt xuyên Iran|Đường sắt xuyên Iran]], nền giáo dục hiện đại được đưa vào và [[Đại học Tehran]], trường đại học đầu tiên của Iran, được thành lập. Ông đã cấm chụp ảnh những khía cạnh của Iran mà ông coi là lạc hậu như lạc đà, và ông đã cấm trang phục giáo sĩ và khăn trùm đầu để ủng hộ trang phục phương Tây. | |||
Reza Shah là Quốc vương Iran đầu tiên trong 1400 năm đã tỏ lòng tôn trọng [[người Do Thái]] bằng cách cầu nguyện trong giáo đường Do Thái khi đến thăm cộng đồng Do Thái ở [[Isfahan]]; một hành động thúc đẩy lòng tự trọng của người Do Thái Iran và đưa Reza Shah trở thành nhà lãnh đạo Iran được kính trọng thứ hai của người Do Thái, sau '''[[Cyrus Đại đế]]'''. | |||
|} | |||
|} | |||
==📕 ĐẾ CHẾ SASAN - TÂN ĐẾ CHẾ BA TƯ== | |||
===🛑 Yazdegerd I (Dát-đây-gợt)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đế quốc Sasan|ĐẾ CHẾ SASANID - TÂN ĐẾ CHẾ BA TƯ]]<br>(224 - 651) <hr> [[Nhà Sasan|Vương triều Sasan]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Derafsh kaviani.svg|center|90px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Senmurv.svg|center|90px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Yazdegerd I|Hoàng đế Yazdegerd I]]<br> (399 - 420)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Hoàng đế thứ 14 của vương triều Sasan}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 Dirachm Yazdegerd I - (390-420).png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 Dirachm [[Yazdegerd I]] - (390-420)<hr>1.626 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Name-ye Khosrovan bsb11180462 00144.jpg|100px]]<br>390-420<hr>'''[[AU]]'''}} || style="background:#ceb"colspan="1"|{{center|'''Đường kính'''<br>[[20,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[?%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[4,08 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[? gr]] <hr>'''Số lượng'''<br>[[?]]<hr>2.537.000<br>[[(101,47$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#ecf"|YAZDEGERD I | |||
|- | |||
|style="background:LemonChiffon;"| | |||
* Ông là con trai của [[Shapur III]],, cháu nội của [[Shapur II]] và em trai của [[Bahram IV]], ông trở thành hoàng đế Sansa sau khi anh trai của mình bị ám sát. Tên của ông trong tiếng Ba Tư có nghĩa là '''"Do thần linh tạo ra"'''. Yazdegerd I thừa hưởng một đế chế đã trải qua thời kỳ hỗn loạn; ba người tiền nhiệm trước của ông là Bahram IV, Shapur III và [[Ardashir II]], đã bị giới quý tộc sát hại. Hầu hết giới quý tộc cao cấp đều thuộc về các gia đình quý tộc [[Người Parthia|Parthia]] hùng mạnh (được gọi là ''[[wuzurgan]]'') tập trung ở [[Cao nguyên Iran]]. Là xương sống của quân đội phong kiến Sasanid, họ phần lớn là những người tự chủ.<hr> | |||
* Mặc dù ông thỉnh thoảng được gọi là "Kẻ tội đồ" trong các nguồn tài liệu bản địa, Yazdegerd có năng lực hơn những người tiền nhiệm trước đó của mình. Ông có mối quan hệ thân thiện với Đế chế Đông La Mã và được Hoàng đế [[Arcadius]] giao phó nhiệm vụ bảo vệ con trai của mình là [[Theodosius II|Theodosius]].<hr> | |||
* Yazdegerd I được biết đến với mối quan hệ hữu nghị với [[người Do Thái]] và người theo đạo Kitô giáo của [[Cảnh giáo|Giáo hội phương Đông]], điều mà ông đã thừa nhận vào năm 410. Vì lý do này, ông được người Do Thái và người theo Kitô giáo ca ngợi là [[Cyrus Đại đế]] mới (trị vì 550 – 530 trước Công nguyên, vua của [[Đế quốc Achaemenid]] Iran, vị hoàng đế đã giải phóng người Do Thái khỏi cảnh giam cầm ở [[Babylon]]).<hr> | |||
* Chính sách tôn giáo, hòa bình của hoàng đế không được giới quý tộc và giáo sĩ [[Hỏa giáo]] ưa chuộng, những người mà ông cố gắng kiềm chế quyền lực và ảnh hưởng. Điều này cuối cùng đã phản tác dụng, và Yazdegerd I đã gặp phải kết cục bị giết dưới tay giới quý tộc ở vùng đông bắc xa xôi. Sau đó, giới quý tộc tìm cách ngăn cản các con trai của Yazdegerd lên kế vị. Con trai cả của ông, Shapur IV, đã nhanh chóng bị giết chỉ sau 5 năm lên ngôi và được Khosrow thay thế. Một người con trai khác của Bahram V, đã vội vã đến kinh đô [[Ctesiphon]] của Sasan cùng với một đội quân Ả Rập và gây sức ép buộc giới quý tộc phải công nhận ông là [[shah]].<hr> | |||
* Ông có một người vợ Do Thái là [[Shushandukht]], bà là mẹ của Hoàng đế [[Bahram V]]. Theo [[Iran học|nhà nghiên cứu Iran]] [[Ernst Herzfeld]], [[Lăng mộ của Esther và Mordechai]] ở [[Hamadan]] không phải là nơi chôn cất [[Esther]] và [[Mordechai]] mà là nơi chôn cất Shushandukht.<hr> | |||
* Các nguồn tài liệu La Mã mô tả Yazdegerd I là một nhà cai trị thông minh, nhân từ và thân thiện. Được cho là người đọc nhiều, "ngay từ đầu" ông đã được biết đến với "tính cách cao thượng" và là người bảo vệ "người nghèo và người khốn khổ". Tuy nhiên, các nguồn tài liệu Ba Tư và Ả Rập gọi ông là "kẻ tội đồ" (bazehkar hoặc bezehgar) và "kẻ bị ruồng bỏ" (dabhr). Họ mô tả ông là một vị vua đã lạm dụng quyền lực của mình bằng cách đe dọa và đàn áp giới quý tộc và giáo sĩ [[Hỏa giáo]]. Quan điểm thù địch này đối với Yazdegerd là do thái độ ôn hòa của ông đối với người La Mã và sự khoan dung về mặt tôn giáo của ông đối với những người không theo Hỏa giáo (người theo Kitô giáo và người Do Thái) trong đế chế Sasan.<hr> | |||
* Danh hiệu Ramshahr (người gìn giữ hòa bình trong lãnh thổ của [ông]) được thêm vào danh hiệu ''"Vua của các vị vua của người Iran và những người không phải người Iran"'' truyền thống trên đồng tiền của Yazdegerd. Trong [[sử thi]] của người Ba Tư Trung cổ ''[[Ayadgar-i Zariran]]'' (Di chúc của Zarer), danh hiệu này được sử dụng bởi vị vua cuối cùng của người Kayani ([[Vishtaspa]]) và xuất hiện trong [[Denkard]] của người Zoroastri vào thế kỷ thứ X. Sự quan tâm của người Sasanid đối với hệ tư tưởng và lịch sử của người Kayani vẫn tiếp tục cho đến khi đế chế kết thúc.<hr> | |||
* Yazdegerd I mất năm 420. Theo sử gia [[người Armenia]] thế kỷ thứ V là [[Movses Khorenatsi]], nguyên nhân cái chết của ông là do bệnh tật.[1] Tuy nhiên, theo một truyền thuyết phổ biến cũ được [[Ferdowsi]] đề cập trong ''[[Shahnameh]]'', ông đã bị một con ngựa trắng bất ngờ xuất hiện từ Chishmih-i Su hoặc Chishmih-i Sabz (suối xanh) gần thành phố [[Tus, Iran|Tus]] ở tỉnh [[Abarshahr]] phía đông đá đến chết. Người ta nói rằng con ngựa đột nhiên biến mất sau đó. [[Đông phương học|Nhà phương Đông học]] người Đức [[Theodor Nöldeke]] suy đoán rằng "Ferdowsi đã ghép truyền thống này vào truyền thống của quê hương mình, Tus, một cách vụng về", và vụ giết người có thể đã xảy ra ở [[Hyrcania|Gurgan]]; truyền thuyết này có từ trước tác phẩm của Ferdowsi. Cho dù Yazdegerd qua đời ở Tus hay Gurgan, thì truyền thuyết này có lẽ là do giới quý tộc Parthia bịa ra, những người đã giết Yazdegerd I ở vùng đông bắc xa xôi (quê hương truyền thống của người Parthia và là một phần lãnh địa của ba gia tộc Parthia hùng mạnh, bao gồm cả [[Kanarang|Kanarangiyan]], có trụ sở tại vùng Tus).<hr> | |||
* Giới quý tộc và giáo sĩ, những người khinh thường Yazdegerd I, giờ đây cố gắng tước bỏ quyền kế vị của các con trai ông. Có ba người được biết đến: Shapur, Bahram và Narseh. Shapur (vua-thống đốc của Armenia) vội vã đến Ctesiphon và lên ngôi với đế hiệu [[Shapur IV]], nhưng đã bị các cận thần phản bội và giết chết. Giới quý tộc sau đó đã đưa con trai của [[Bahram IV]] là Khosrow, lên ngôi. Bahram, người lớn lên trong [[Vương quốc Lakhmid|triều đình Lakhmid]] của [[al-Hira]], đã đến Ctesiphon cùng với một đội quân Ả Rập và gây sức ép buộc giới quý tộc công nhận ông là Shah với đế hiệu [[Bahram V]]. Em trai của ông, Narseh, được bổ nhiệm làm thống đốc Abarshahr. '''''Ông chế vì bị ám sát, giống trường hợp của [[Carlos I của Bồ Đào Nha]]'''''. | |||
|} | |||
===🛑 Khosrau II (Khốt-rau)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đế quốc Sasan|ĐẾ CHẾ SASANID - TÂN ĐẾ CHẾ BA TƯ]]<br>(224 - 651) <hr> [[Nhà Sasan|Vương triều Sasan]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Derafsh kaviani.svg|center|90px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Senmurv.svg|center|90px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Khosrau II|Hoàng đế Khosrau II]]<br> (590 & 591 - 628)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Hoàng đế thứ 27 của vương triều Sasan}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 Drachm - Khusro II 620.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 Dirachm [[Khosrau II]] - 620<hr>1.405 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Khosrow II (The Shahnama of Shah Tahmasp).jpg|100px]]<br>620<hr>'''[[AU]]'''}} || style="background:#ceb"colspan="1"|{{center|'''Đường kính'''<br>[[? mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[?%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[4,19 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[? gr]] <hr>'''Số lượng'''<br>[[?]]<hr>2.530.000<br>[[(100,00$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==📜 ĐẾ CHẾ ABBASID (ABBAS)== | |||
===🛑 Harun Al-Rashid=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Nhà Abbas|ĐẾ CHẾ ABBASID/ĐẠI THỰC]] <br>(750 - 1258 & 1261 - 1517)<hr> [[Tabaristan|Tỉnh Tabaristan]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Abbasid banner.svg|center|150px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Abbasid Caliphate 850 (orthographic projection).png|center|90px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Harun Al-Rashid|Hoàng đế Harun Al-Rashid]]<br> (786 - 809)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Caliphate thứ 5 đến từ Nhà Abbas}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1-2 Dirachm Tabaristan - (776 - 793).png|center|700px]]<hr>{{center|'''1/2 Dirachm [[Tabaristan]] - (776 - 793)<hr>1.239 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Hārūn al-Rashīd.png|120px]]<br>776 - 793<hr>'''[[MS]]'''}} || style="background:#ceb"colspan="1"|{{center|'''Đường kính'''<br>[[24,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[?%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[1,99 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[? gr]] <hr>'''Số lượng'''<br>[[?]] <hr>2.434.000<br> [[(95,83$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==📜 VƯƠNG QUỐC PHÙ NAM== | |||
===Rudravarman I=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Phù Nam|VƯƠNG QUỐC PHÙ NAM]] <br>(50 - 627)<hr> [[Triều đại Varman|Vương tộc Varman]]'''}}||colspan="2"|[[File:Angkor Wat in Flag of Cambodia.svg|center|167px]] | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Rudravarman|Vua Rudravarman I]]<br> (514-540)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị vua cuối cùng của Phù Nam}} | |||
|- | |||
| [[File:1 unit of Pyu city-states.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 Unit [[Phù Nam]] <hr>1.500 năm (2025)'''}}||{{center|50 - 627<hr>'''[[AU]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[30,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[?%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[10,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[? gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[?]]<hr>3.700.000<br>[[(145,67$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==📕 VƯƠNG QUỐC BỒ ĐÀO NHA== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#ccf"|[[Tập tin:Brasao-Brigantina.png|70px]] | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|VƯƠNG TỘC BRAGANCA<hr> (1640 - 1910) | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
[[Vương tộc Bragança|Nhà Bragança]] ('''B-ra-gan-sà''') được lập ra bởi [[Afonso I xứ Bragança]], ông là con trai [[Con hoang hoàng gia|ngoài giá thú]] của [[João I của Bồ Đào Nha|Vua João I]], vị vua đầu tiên của Bồ Đào Nha đến từ [[Nhà Aviz]] ('''E-vịt'''). Bản thân cha ông cũng là con ngoài giá thú của Vua [[Pedro I của Bồ Đào Nha]] (vua cuối cùng của [[Nhà Borgonna Bồ Đào Nha]]). Có lẽ vì từng là con ngoài giá thú nên vua João rất đồng cảm, điều này dẫn đến việc ông nuôi dạy và chăm sóc Afonso rất kỹ, ông trao cho Afonso danh hiệu [[Bá tước xứ Barcelos]] và thu xếp cuộc hôn nhân với nữ thừa kế [[Beatriz Pereira de Alvim]], con gái duy nhất của người bạn thân là '''''Thống chế [[Nuno Álvares Pereira]] (Được [[Giáo hoàng Biển Đức XV]] phong chân phước năm 1918 và [[Giáo hoàng Biển Đức XVI]] phong thánh năm 2009 - Thánh Condestável hay Thánh Nuno xứ Saint Mary)'''''. '''''Năm 1442, anh trai cùng cha khác mẹ của Afonso là Công tước [[Pedro xứ Coimbra]] lúc này đang giữ chức nhiếp chính cho [[Afonso V của Bồ Đào Nha|Vua Afonso V]], đã nhân danh nhà vua ban cho ông tước hiệu [[Công tước xứ Bragança]] và đây là dấu mốc mở ra triều đại Bragança'''''. | |||
* Con cháu của Afonso I rất tài năng và quyền lực trong giới quý tộc Bồ Đào Nha đương thời. Đến đời công tước thứ ba là Fernando II xứ Braganza, Nhà Braganza chắc chắn là một trong những gia tộc quý tộc vĩ đại nhất của Bồ Đào Nha và Bán đảo Iberia nói chung. Fernando II tiếp tục di sản của tổ tiên và được nhận thêm tước phong [[Công tước xứ Guimarães]]. Tuy nhiên, Vua [[João II của Bồ Đào Nha]] với kế hoạch kiềm chế giới quý tộc để củng cố quyền lực hoàng gia đã khéo tội phản quốc cho Fernando II và xử tử ông vào năm 1483. Tài sản bị tịch thu, con cháu bị lưu đày đến [[Vương quốc Castilla]]. | |||
* Do những bất hạnh của cha mình, những đứa con của Fernando II, từ cuộc hôn nhân của ông với [[Isabel xứ Viseu]], con gái của [[Ferdinand, Công tước xứ Viseu|Fernando, Công tước xứ Viseu và Beja]], ban đầu đã có một tuổi thơ đầy biến động; nhưng người kế vị của João II là Vua [[Manuel I của Bồ Đào Nha]], người trước đây cũng là Công tước xứ Beja, đã chọn tha thứ cho người Nhà Bragança và trả lại cho họ tất cả tài sản để đổi lấy lòng trung thành của họ. Người con trai và người kế vị lớn tuổi nhất còn sống của Fernando II là [[Jaime I xứ Bragança]], đã trở về Bồ Đào Nha và tái lập vị trí của mình tại [[Vila Viçosa]], nơi trước đây là trụ sở của Công tước.<hr> | |||
Sau cái chết của [[Henrique I của Bồ Đào Nha]] (ông là một hồng y Công giáo nên không lập gia đình; bản thân [[Giáo hoàng Grêgôriô XIII]] không muốn xung đột với vua [[Felipe II của Tây Ban Nha]] nên cũng không ban cho nhà vua quyền được kết hôn) không để lại người kế vị dẫn đến sự tuyệt tự của [[Nhà Avis]], [[Chiến tranh Kế vị Bồ Đào Nha]] diễn ra vào năm 1580. Ngai vàng bị rơi vào tay của Vua [[Felipe II của Tây Ban Nha]] thuộc [[Nhà Habsburg]], ông cai trị Bồ Đào Nha trong một liên minh cá nhân với vương hiệu Felipe I, [[Liên minh Iberia]] ra đời và kéo dài trong 60 năm (1580-1640). Để hoà giải và tạo đồng minh với Nhà Braganza, vua Felipe đã trao cho vị Công tước đời thứ 6 là [[João I xứ Braganza]] rất nhiều quyền lợi và đất đai. Công tước thứ 7 là [[Teodósio II xứ Braganza]] đã thề trung thành với [[Vương triều Philippines]] và thậm chí còn bảo vệ Lisbon khỏi những người phục hoàng Bồ Đào Nha. Sự ủng hộ và phục vụ của Công tước đối với Vương triều Philippines đã giúp Nhà Braganza giành được nhiều đất đai và danh hiệu hơn, và đến năm 1640, Gia tộc đã tập hợp được khoảng 80.000 chư hầu, cùng với nhiều nhà thờ, giáo đoàn và tổ chức dưới sự bảo trợ của mình.<hr> | |||
Đời công tước thứ 8 và João II đã phát động [[Chiến tranh phục hồi Bồ Đào Nha]], lất đổ vương quyền của Nhà Habsburg ở Bồ Đào Nha, '''''ông được tôn lên ngôi vua với vương hiệu [[João IV của Bồ Đào Nha]], do đó đưa Gia tộc này trở thành triều đại cai trị của Bồ Đào Nha kể từ năm 1640'''''. Nếu tính từ khi Afonso I được phong Công tước xứ Braganza vào năm 1442, lập ra Nhà Braganza thì '''''gia tộc này chỉ mất 198 năm để trở thành một vương tộc cai trị Bồ Đào Nha'''''. | |||
* Theo các sử gia của triều đình, Công tước João II là một người đàn ông khiêm tốn và không có tham vọng đặc biệt nào đối với ngai vàng. Theo truyền thuyết, vợ ông, Dona Luisa de Guzmán, con gái của công tước xứ Medina-Sidonia, đã thúc giục ông chấp nhận lời đề nghị của giới quý tộc Bồ Đào Nha nổi dậy chống lại vương quyền Nhà Habsburg, bà nói rằng '''''"Tôi thà làm vương hậu một ngày còn hơn làm công tước phu nhân cả đời"'''''. Ông chấp nhận lãnh đạo cuộc nổi loạn, cuộc nổi loạn đã thành công và ông được tôn lên ngai vàng Bồ Đào Nha với vươn hiệu [[João IV của Bồ Đào Nha]] vào ngày 1 tháng 12 năm 1640.<hr> | |||
Nhà Bragança cai trị Bồ Đào Nha trong 270 năm (1640-1910), đã sản sinh ra [[Danh sách vua Bồ Đào Nha|15 vị quân chủ cho Bồ Đào Nha]] và [[Danh sách quân chủ Brasil|4 quân chủ cho Brasil]], rất nhiều vương hậu cho các quân chủ [[châu Âu]] khác nhau, chẳng hạn như [[Catarina Henriqueta của Bồ Đào Nha]] (vợ của [[Charles II của Anh]], người đã giới thiệu [[trà]] sang Anh) và [[Maria Isabel của Braganza|Maria Isabel của Bragança]] (vợ của [[Fernando VII của Tây Ban Nha]], người thành lập [[Bảo tàng Prado|Bảo tàng El Prado]]), cũng như các ứng cử viên cho ngai vàng của Ba Lan và Hy Lạp như: [[Manuel, Bá tước xứ Ourém]] và [[Pedro I của Brasil|Pedro, Công tước của Bragança]], và nhiều nhân vật đáng chú ý khác trong lịch sử của [[châu Âu]] và [[châu Mỹ]]. Người Nhà Bragança bị phế truất khỏi ngai vàng ở châu Âu và châu Mỹ vào đầu thế kỷ XIX - XX, khi [[Pedro II của Brasil|Hoàng đế Pedro II]] bị phế truất ở Brazil năm 1889 và [[Manuel II của Bồ Đào Nha|Vua Manuel II]] bị phế truất ở Bồ Đào Nha vào năm 1910.<hr> | |||
Sau triều đại của [[João VI của Bồ Đào Nha|Vua João VI]], Vương tộc Bragança được chia thành ba nhánh chính, gồm: | |||
* '''''[[Vương thất Brasil|Nhánh Brazil]]''''', được tạo ra bởi con trai cả của Vua João VI là [[Pedro I của Brasil|Hoàng đế Pedro I của Brasil]], người thừa kế là con trai của Pedro I là [[Pedro II của Brasil|Pedro II]], ông bị một cuộc đảo chính phế truất khỏi ngai vàng vào năm 1889, và người thừa kế của ông là Hoàng nữ [[Isabel của Brasil]], chồng bà là [[Gaston, Bá tước xứ Eu]] đến từ [[Vương tộc Orléans]], vì thế dòng này đã tuyệt tự dòng nam sau cái chết của cựu hoàng đế Pedro II vào năm 1891. Nhà Braganza-Brasil đã được đổi thành [[Nhà Orléans-Braganza|Nhà Orléans-Bragança]]. | |||
* '''''[[Nhánh Hiến pháp Braganza]]''''', do [[Maria II của Bồ Đào Nha]] (con gái của Pedro I) đứng đầu. Nhưng sau khi bà qua đời vào năm 1853, ngai vàng được thừa kế bởi con trưởng của bà với [[Fernando II của Bồ Đào Nha|Thân vương Ferdinand August]], nên theo đúng quy trình, Triều đại Braganza được thay thế bởi Triều đại [[Vương tộc Bragança-Saxe-Coburgo-Gota|Bragança-Saxe-Coburgo-Gota]] dù 4 vị vua cuối cùng của Bồ Đào Nha gẫn gọi triều đại của mình là Braganza. Nhánh Hiến pháp đã tuyệt tự sau cái chết của [[Manuel II của Bồ Đào Nha|Vua Manuel II]] vào năm 1932. | |||
* '''''[[Nhánh Miguelist]]''''', được tạo ra bởi [[Miguel I của Bồ Đào Nha]], con trai út của João VI và em trai của Pedro I. Sau khi thất bại trong việc tranh quyền kế vị ngai vàng Bồ Đào Nha với cháu gái là Maria II thì ông và gia đình phải sống lưu vong ở Đức. Sau khi Nhánh Hiến pháp tuyệt tự dòng nam, quyền dòng trưởng của Braganza thuộc về [[Duarte Nuno de Bragança|Duarte Nuno, Công tước xứ Bragança]], hậu duệ của Miguel I. Yêu sách đối với ngai vàng Bồ Đào Nha được chuyển cho con trai của Duarte Nuno là [[Duarte Pio, Công tước xứ Braganza|Duarte Pio, Công tước xứ Bragança]], người hiện được công nhận nhiều nhất đối với ngai vàng của Bồ Đào Nha. | |||
|- | |||
! style="background:#ccf"| [[File:Brasão do Fernando II.svg|70px]] | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|Triều đại Bragança-Saxe-Coburgo-Gota <hr> 1853 - 1910 | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
Con trai trưởng của [[Ferdinand xứ Sachsen-Coburg và Gotha|Thân vương Ferdinand xứ Sachsen-Coburg Gotha-Koháry]] và [[Mária Antónia Koháry xứ Csábrág và Szitnya|Thân vương nữ Mária Antónia Koháry]] người thừa kế của [[Nhà Koháry]] giàu có là [[Fernando II của Bồ Đào Nha|Thân vương Ferdinand August]] trở thành chồng thứ 2 của Nữ vương [[Maria II của Bồ Đào Nha]], sau khi sinh được người thừa kế thì Ferdinand August chiếu theo Luật ''[[Jure uxoris]]'' ông được tôn lên làm vua đồng cai trị với vợ, lấy vương hiệu Fernando II vào năm 1837, nâng nhà [[Vương tộc Saxe-Coburg và Gotha-Koháry|Sachsen-Coburg và Gotha-Koháry]] lên hàng vương tộc, dù các vua của Bồ Đào Nha vẫn gọi triều đại của mình là [[Vương tộc Bragança|Bragança]].<hr> | |||
Bốn vị vua cuối cùng của Vương quốc Bồ Đào Nha đều đến từ vương tộc này: [[Pedro V của Bồ Đào Nha|Pedro V]] (1853-1861); [[Luís I của Bồ Đào Nha|Luís I]] (1861-1889); [[Carlos I của Bồ Đào Nha|Carlos I]] (1889-1908) và [[Manuel II của Bồ Đào Nha|Manuel II]] (1908-1910). Sau cái chết của cựu vương [[Manuel II của Bồ Đào Nha|Manuel II]] năm 1932, vương tộc tuyệt tự dòng nam. | |||
===Carlos I (14)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Vương quốc Bồ Đào Nha|VƯƠNG QUỐC BỒ ĐÀO NHA]]<hr>[[Vương tộc Bragança-Saxe-Coburgo-Gota|Triều đại Braganza-Saxe-Coburg và Gotha]] <br> (1853 - 1910)'''}}|| colspan="1" |{{center|[[File:Flag of Portugal (1830).svg|center|125px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of Arms of the Kingdom of Portugal 1640-1910 (3).svg|center|105px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Carlos I của Bồ Đào Nha|Vua Carlos I]] <br>(1889 - 1909)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị quân chủ thứ 33 của Bồ Đào Nha, thứ 14 đến từ Nhà Braganza và thứ 3 cũng như áp chót của Braganza-Saxe-Coburg và Gotha}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1.000 reis Carlos I 1898.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1.000 Reis [[Carlos I của Bồ Đào Nha|Carlos I]]_[[Đường biển từ châu Âu đến Ấn Độ|Kỷ niệm 400 năm Khám phá Ấn Độ]] (1498-1898)<hr>127 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:D. Carlos - A. Roque Gameiro (1902).png|120px]]<br>'''1898<hr>[[AU]]'''}}|| {{center|'''Đường kính'''<br>[[37,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[91,67%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[25,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[22,9175 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[300.000]]<hr>2.210.000<br>[[(87,00$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
* Ông qua đời vì bị ám sát, giống trường hợp của Hoàng đế [[Yazdegerd I]] của Đế chế Sasan. | |||
===Manuel II (15)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Vương quốc Bồ Đào Nha|VƯƠNG QUỐC BỒ ĐÀO NHA]]<hr>[[Vương tộc Bragança-Saxe-Coburgo-Gota|Triều đại Braganza-Saxe-Coburg và Gotha]] <br> (1853 - 1910)'''}}|| colspan="1" |{{center|[[File:Flag of Portugal (1830).svg|center|125px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of Arms of the Kingdom of Portugal 1640-1910 (3).svg|center|105px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Manuel II của Bồ Đào Nha|Vua Manuel II]] <br>(1908 - 1910)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị quân chủ thứ 34 của Bồ Đào Nha, thứ 15 đến từ Nhà Braganza và thứ 4 cũng như cuối cùng của Nhà Braganza-Saxe-Coburg và Gotha}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[Tập tin:1000 reis Manuel 1910 - Peninsula War.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1.000 reis [[Manuel II của Bồ Đào Nha|Manuel II]]_[[Chiến tranh Bán đảo|Kỷ niệm 100 năm Chiến tranh Bán đảo]] - 1910<hr>115 năm (tính đến 2025)'''}}||{{center|[[File:Manuel II por George Hillyard Swinstead.jpg|120px]]<br>'''1910<hr>[[MS]]'''}}|| {{center|'''Đường kính'''<br>[[37,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[83,5%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[25,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[20,88 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[200.000]]<hr>3.500.000<br>[[(153,51$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==📕 BRASIL THUỘC ĐỊA== | |||
===Maria I và João VI=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đế quốc Bồ Đào Nha|ĐẾ CHẾ BỒ ĐÀO NHA]] <hr> [[Thuộc địa Brasil|Nhà nước Brasil]]<br> (1549 - 1815)'''}}||colspan="1"|{{center|[[Tập tin:Flag of the Princes of Brazil.svg|center|115px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of Colonial Brazil.svg|center|75px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Maria I của Bồ Đào Nha|Nữ vương Maria I]] <br>(1777 - 1816)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#fcc;"colspan="6"|{{center|Vị quân chủ thứ 6 của Bồ Đào Nha thuộc Nhà Braganza}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[João VI của Bồ Đào Nha|Nhiếp chính vương João]]<br>(1792 - 1816)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị quân chủ thứ 7 của Bồ Đào Nha thuộc Nhà Braganza}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:960 reis of Brasil 1812B.png|center|700px]]<hr>{{center|'''960 Réi [[João VI của Bồ Đào Nha|Nhiếp chính vương João VI]] - 1812B<hr>208 năm (2025)'''}}||{{center|[[Tập tin:Maria I, Queen of Portugal - Giuseppe Troni, atribuído (Turim, 1739-Lisboa, 1810) - Google Cultural Institute.jpg|100px]]<br>1810 - 1818<hr>'''[[AU|AU-55]]'''}}||style="background:#ceb"colspan="1"|{{center|'''Đường kính'''<br>[[40,6 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[89,6%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[26,89 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,09344 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[352.306]]<hr>7.992.000<br>[[(317,14$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#fbd"|JOÃO VI | |||
|- | |||
|style="background:LemonChiffon;"| | |||
* [[Xu bạc]] 960 rei loại này thường được đúc trên đồng [[Đô la Tây Ban Nha|8 reales của Tây Ban Nha]] thuộc địa. (Người Anh kiểm soát các mỏ bạc; Brazil phải sử dụng tiền xu nước ngoài để đúc dập lên). Nếu có thể xác định được loại tiền được đúc dập lên là tiền gì thì đồng tiền này sẽ có giá trị sưu tầm cao hơn đáng kể. Theo luật pháp Hoa Kỳ thời đó, đồng 960 rei của Brasil không phải là tiền tệ hợp pháp trừ khi có thể nhìn thấy loại tiền 8 reales của Tây Ban Nha mà nó đúc dập lên. | |||
<hr> | |||
{{center|'''[[João VI của Bồ Đào Nha]]'''}} | |||
Ông là con trai thứ 2 trong 3 người con của Vương nữ [[Maria I của Bồ Đào Nha]] (1777-1816) và [[Pedro III của Bồ Đào Nha|Pedro]] (1777-1786)- '''Cha mẹ của João là chú cháu ruột'''. Con trai trưởng của ông là [[Pedro I của Brasil]] cùng từng thu xếp một cuộc hôn nhân giữa con gái mình là [[Maria II của Bồ Đào Nha]] với chính em ruột của mình là [[Miguel I của Bồ Đào Nha|Miguel]] để tránh trường hợp chú cướp ngôi của cháu, nhưng không thành. Cuối cùng Pedro phải trở về Bồ Đào Nha để giành lại ngai vàng cho con gái từ tay của em trai Miguel.<hr> | |||
Cha của João trở thành vua Bồ Đào Nha theo luật ''[[Jure uxoris]]''. Cha ông mất vào năm 1786, kể từ đó mẹ ông trị vì một mình cho đến khi qua đời vào năm 1816. Tuy nhiên, từ năm 1792 đến 1816, João trở thành [[Nhiếp chính vương]] trị vì Đế chế Bồ Đào Nha, vì mẹ ông bị vấn đề về tâm thân nên mất khả năng điều hành chính sự. Anh trai trưởng của ông là [[José, Thân vương xứ Brasil|José, Thân vương xứ Brasil, Công tước xứ Braganza]] là người thừa kế ngai vàng cho đến năm 1788, sau khi người anh này qua đời vì bệnh [[đậu mùa]] thì João trở thành người thừa kế chính thức, lúc đó ông 21 tuổi.<hr> | |||
Ông trở thành nhiếp chính vương Bồ Đào Nha ngay thời điểm [[Napoleon Bonaparte]] thực hiện đảo chính và trở thành [[Chế độ tổng tài Pháp|Đệ nhất Tổng tài]]. Lúc đầu ông liên minh với Anh và Tây Ban Nha để chống Pháp, sau đó phải giả bộ hòa thuận với Pháp, việc ông đứng giữa Anh - Pháp đã khiến cho Bồ Đào Nha có thể xảy ra chiến tranh với cả 2 cường quốc này. Tháng 10 năm 1807, sau khi có tin quân Pháp đang tiến về phía Lisbon, người Anh đã cử 1 hạm đội gồm 7 nghìn người đến, họ được trao một mệnh lệnh kép: hộ tống hoàng gia Bồ Đào Nha đến Brasil hoặc, nếu Bồ Đào Nha đầu hàng Pháp, thì hạm đội sẽ tấn công và đánh chiếm kinh đô Lisbon. Cuối cùng, João đã lên tàu vượt Đại Tây Dương đến lưu trú ở [[thuộc địa Brasil]]. Ông và gia đình hoàng gia đã sống ở Brasil trong 13 năm, dù Napoleon đã bại trận và Bồ Đào Nha được Đại hội Viên tái lập ông cũng không trở về Bồ Đào Nha cho đến khi ông bị Quốc hội và giới chịnh trị nước này đặt vào thế ép phải về vào năm 1822.<hr> | |||
Việc João cùng gia quyết rời bỏ Bồ Đào Nha để vượt Đại Tây Dương sang Brasil được xem là một quyết định thiếu thận trọng vào thời điểm đó, ông cùng với 2 con trai đi trên một chiến thuyền, nếu có gì xảy ra thì vương tộc sẽ tuyệt tự dòng nam. Theo số liệu thế kỷ XIX, người ta ước tính có đến 30.000 người lên thuyền sang Nam Mỹ với gia đình hoàng gia, nhưng trên thực tế sức chứa tối đa của hạm đội Anh hộ tóng chỉ có thể chở theo 15.000 người, bao gồm cả thuỷ thủ đoàn. Số lượng khả thi nhất là khoảng 4-7 nghìn người, cộng với thuỷ thủ đoàn. Đoàn thuyền của nhiếp chính vương đến [[Salvador, Bahia]] rồi sau đó mới đến [[Rio de Janeiro]] và định đô ở đây. | |||
Việc ông và hoàng gia Bồ Đào Nha định cư ở Brasil được xem là khởi đầu của một đất nước Brasil hiện đại. Năm 1815, sau khi Napoleon được đánh bại ở châu Âu, [[Đại hội Viên]] được tiến hành. Đại sứ Bồ Đào Nha tại Đại hội là Bá tước xứ Palmela, đã khuyên nhiếp chính vương ở lại Brasil, giống như lời khuyên của [[Charles-Maurice de Talleyrand-Périgord|Hoàng thân Talleyrand]] dành cho ông, để củng cố mối quan hệ giữa thủ đô và thuộc địa, bao gồm cả đề xuất nâng Brasil lên thành một vương quốc thống nhất với Bồ Đào Nha. Đại diện Anh tại Đại hội cũng đã ủng hộ ý tưởng này, dẫn đến việc thành lập [[Vương quốc Liên hiệp Bồ Đào Nha, Brasil và Algarve]] vào ngày 16 tháng 12 năm 1815, một thể chế pháp lý được các quốc gia khác nhanh chóng công nhận.<hr> | |||
Vợ ông là [[Carlota Joaquina của Tây Ban Nha]] là một người phụ nữ mưu mô và luôn cố gắng tiếm quyền lực và làm lợi cho quê hương mình là Tây Ban Nha. Bà đã từng nhiều lần muốn lật đổ chồng mình, xúi giục con trai út của mình là [[Miguel I của Bồ Đào Nha|Miguel]] làm loạn để phế tuất cha, nhưng mọi kế hoạch đều bất thành. Bà mất sau chồng mình 3 năm, vào năm 1830.<hr> | |||
Khi sống ở Bồ Đào Nha, João hay sầu muộn và có nhiều nỗi sợ, ông cũng ít vận động. Nhưng khi đến lưu vong ở Brasil, trong môi trường bấp bênh và giản dị của Rio, thói quen cá nhân của Nhà vua rất đơn giản. Trái ngược với sự cô lập tương đối của mình ở Bồ Đào Nha, ông trở nên năng động hơn về mặt cá nhân và quan tâm đến thiên nhiên. Ông đi săn và ngủ vui vẻ trong lều hoặc dưới gốc cây. Ông thích vùng nông thôn, mặc dù có rất nhiều muỗi và các loài gây hại khác và cái nóng thiêu đốt của vùng nhiệt đới mà phần lớn người Bồ Đào Nha và những người nước ngoài khác ghét cay ghét đắng.<hr> | |||
Những gì ông thực hiện ở Brasil: Theo họa sĩ Henry L’Evêque, '''''"Nhiếp chính vương, cùng với một Bộ trưởng Ngoại giao, một Thị thần và một số viên chức trong gia đình, đã tiếp nhận tất cả các đơn thỉnh cầu được trình lên ông; lắng nghe chăm chú tất cả các khiếu nại, tất cả các yêu cầu của những người nộp đơn; an ủi một người, khuyến khích những người khác.... Sự thô tục trong cách cư xử, sự thân mật trong lời nói, sự khăng khăng của một số người, sự rườm rà của những người khác, không điều gì trong số này làm ông chán. Ông dường như quên rằng mình là chủ nhân của họ, và chỉ nhớ rằng mình là cha của họ".''''' Oliveira Lim đã viết rằng ông '''''"không bao giờ nhầm lẫn khuôn mặt hay lời cầu xin, và những người nộp đơn ngạc nhiên về việc ông biết rõ cuộc sống của họ, gia đình họ, thậm chí cả những sự cố nhỏ đã xảy ra trong quá khứ và họ không thể tin rằng đã được Nhà vua chú ý đến".'''''<hr> | |||
Bất chấp việc trở thành một nhà cai trị trong thời kỳ biến động, João VI đã để lại dấu ấn lâu dài, đặc biệt là ở Brasil, nơi ông đã giúp tạo ra nhiều tổ chức và dịch vụ đặt nền móng cho quyền tự chủ quốc gia, và nhiều nhà sử học coi ông là người khởi đầu để tạo dựng ra một nhà nước Brasil hiện đại. Những người cùng thời với João coi ông là '''''một vị vua tốt bụng và nhân từ''''', mặc dù các thế hệ sau của người Bồ Đào Nha và Brasil đã biến ông thành chủ đề của những bức biếm họa thường xuyên. Tuy nhiên, trong những thập kỷ gần đây, danh tiếng của ông đã được khôi phục như một vị vua thông minh, người có thể cân bằng nhiều lợi ích cạnh tranh.<hr> | |||
Vào những năm 1990, một nhóm điều tra viên đã khai quật chiếc bình gốm Trung Quốc chứa ruột của João. Các mảnh tim của ông đã được ngâm nước trở lại và tiến hành phân tích, phát hiện ra một lượng thạch tín đủ để giết chết hai người, xác nhận nghi ngờ lâu nay về vụ ám sát bằng thuốc độc.<hr> | |||
Trước khi chết ở [[Saint Helena]], kẻ thù mạnh nhất của João là Cựu hoàng đế [[Napoleon I]], đã nói về ông thế này: '''''"Ông ấy là người duy nhất lừa dối tôi"'''''. Vì ông giả vờ phục tùng Pháp, đến mức đề nghị với Vua George III của Anh tuyên bố tình trạng chiến tranh giả giữa hai nước, nhưng ông không tuân theo chỉ thị của Napoleon về [[Hệ thống phong tỏa Lục địa]] của Napoleon (một cuộc phong tỏa chống lại Vương quốc Anh).<hr> | |||
'''''[[Maria Theresa của Bồ Đào Nha]]''''' là con gái thứ 3 của [[Miguel I của Bồ Đào Nha]], vì thế bà gọi Vua João VI là ông nội. Maria Theresa kết hôn với [[Karl Ludwig của Áo]], em trai của 2 hoàng đế [[Franz Joseph I của Áo]] và [[Maximilian I của Mexico]]. Đại công tước [[Franz Ferdinand của Áo]], người bị ám sát tại [[Sarajevo]] năm 1814 đã châm ngòi cho [[Thế chiến thứ nhất]] chính là con trai của họ. Cháu nội của cặp đôi này là [[Karl I của Áo]]. Hậu duệ trực hệ của [[Vương tộc Habsburg-Lothringen]] hiện này đều là hậu duệ của họ.<hr> | |||
[[Ana de Jesus Maria của Bồ Đào Nha|Vương nữ Ana de Jesus Maria]] là con gái út của João, khi bà được 1 tuổi thì đã cùng cha mẹ chạy đến Brasil, vì thế mà lớn lên ở Nam Mỹ, đến năm 14 tuổi bà mới trở về Bồ Đà Nha. Không giống như cuộc hôn nhân của các chị gái, Ana de Jesus kết hôn không vì mục đích chính trị. '''''Vương nữ Ana de Jesus Maria chính là Vương nữ Bồ Đào Nha đầu tiên kết hôn với người không có xuất thân hoàng tộc hay vương thất, và thậm chí Ana còn kết hôn khi đang mang thai'''''. Chồng của bà là [[Nuno José Severo de Mendoça Rolim de Moura Barreto, Công tước thứ nhất xứ Loulé|Hầu tước thứ 2 xứ Loulé]], sau giữ ghế thủ tướng Bồ Đào Nha trong nhiều giai đoạn. Dù rằng Gia tộc Loulé là hậu duệ [[con hoang hoàng gia|ngoài giá thú]] của Vương thất Bồ Đào Nha, nhưng cuộc hôn nhân đã bị phản đối và thậm chí còn bị phe bảo thủ của triều đình coi là một vụ bê bối làm mất uy tín của Vương thất. | |||
|} | |||
|} | |||
==📕 ĐẾ CHẾ BRASIL== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#ccf"|[[File:ArmasImperiaisBrasileiras.png|70px]] | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|HOÀNG TỘC BRAGANZA - BRASIL | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
[[Đế quốc Brasil|Hoàng tộc Braganza-Brasil]] là nhánh trưởng nam của [[Vương tộc Braganza]], được chính thức tạo ra bởi [[Pedro I của Brasil|Nhiếp chính vương Pedro, Công tước xứ Braganza]] khi ông này tuyên bố nền độc lập của Brasil và tuyên bố mình là hoàng đế của nó, đưa địa vị của Brasil từ vương quốc lên thành đế chế vào năm 1822. | |||
* Vào ngày 16 tháng 12 năm 1815, [[João VI của Bồ Đào Nha|Nhiếp chính vương João]], đã nâng [[Thuộc địa Brasil]] lên thành [[Vương quốc Brasil]] và trở thành một nhà nước cấu thành nên [[Vương quốc Liên hiệp Bồ Đào Nha, Brasil và Algarve]], do đó đưa mẹ của ông là Nữ vương [[Maria I của Bồ Đào Nha|Maria I]], trở thành quân chủ đầu tiên của Brasil và cũng như của Liên hiệp Bồ Đào Nha, Brasil và Algarve. | |||
* Ngày 20 tháng 3 năm 1816, sau cái chết của mẹ là Maria I, [[João VI của Bồ Đào Nha|Nhiếp chính vương João]] lên kế vị ngai vàng [[Vương quốc Liên hiệp Bồ Đào Nha, Brasil và Algarve]] với vương hiệu '''João VI''', lúc này ông và gia đình hoàng gia vẫn ở Brasil (kể từ năm 1810). Năm 1921, vì áp lực từ giới chính trị Bồ Đào Nha, nhà vua và triều đình phải rời Rio Janeiro để trở về Lisbon, thiết lập lại vương quyền của Nhà Braganza tại mẫu quốc, chứ không cai trị Đế chế Bồ Đào Nha từ cựu thuộc địa Brasil. | |||
* Theo sắc lệnh ban hành ngày 22 tháng 4 năm 1821 trước khi rời Brasil để về Bồ Đào Nha, Vua João VI đã bổ nhiệm người con trưởng là [[Pedro I của Brasil|Pedro, Công tước xứ Braganza]] làm nhiếp chính vương Brasil. Bản thân Pedro là người sẽ thừa kế ngai vàng của Vương quốc Liên hiệp, nên địa vị của Brasil đã được củng cố hơn nữa. | |||
* Vào ngày 7 tháng 9 năm 1822, Nhiếp chính vương Pedro tuyên bố [[Vương quốc Brasil]] tách ra khỏi Vương quốc Liên hiệp với Bồ Đào Nha và trở nên độc lập. Ngày 12 tháng 10 năm 1822, Pedro xưng đế với hiệu Pedro I của Brasil, đưa Vương quốc Brasil thành [[Đế quốc Brasil]]. Đây cũng là dấu mốc khai sinh ra Hoàng tộc Braganza-Brasil và nó được xem là nhánh trưởng của Nhà Braganza. | |||
<hr> | |||
Tuy nhiên, nền độc lập của Đế chế Brasil chỉ được công nhận thông qua [[Hiệp ước Rio de Janeiro (1825)|Hiệp ước Rio de Janeiro]], năm 1825. | |||
* '''[[Gia tộc Rothschild]]''' đã trực tiếp tham gia vào quá trình [[Brasil độc lập|giành độc lập của Brasil]] khỏi [[Bồ Đào Nha]]. Theo một thỏa thuận, chính phủ Đế chế Brasil phải trả khoản bồi thường 2 triệu bảng Anh cho [[Vương quốc Bồ Đào Nha]] để họ chấp nhận nền độc lập của Brasil. N M Rothschild & Sons là công ty nổi trội trong việc huy động vốn này cho chính phủ của [[Đế chế Brasil]] mới thành lập trên thị trường London. Năm 1825, Nathan Rothschild đã huy động được 2.000.000 bảng Anh, và thực sự có thể đã tham gia một cách kín đáo vào đợt vay trước đó đã huy động được 1.000.000 bảng Anh vào năm 1824. Một phần số tiền phải trả để Bồ Đào Nha công nhận nền độc lập của Brasil, được đảm bảo vào năm 1825, là Brasil sẽ tiếp quản việc trả nợ gốc và lãi cho khoản vay 1.500.000 bảng Anh mà [[Rothschild & Co|N M Rothschild & Sons]] đã trả cho chính phủ Bồ Đào Nha vào năm 1823. Một lá thư từ Samuel Phillips & Co. vào năm 1824 cho thấy sự tham gia chặt chẽ của gia tộc Rothschild trong sự kiện này. | |||
* Theo một trong những điều khoản của Hiệp ước Rio de Janeiro, Vua [[João VI của Bồ Đào Nha]], được trao danh hiệu cá nhân là Hoàng đế của Brasil, do đó vẫn là quân chủ của Brasil về danh nghĩa, cho đến khi ông qua đời vào năm 1826. | |||
<hr> | |||
Sau cái chết của vua cha João VI, [[Pedro I của Brasil]] vào năm 1826, với tư cách là con trưởng đã kế vị ngai vàng [[Vương quốc Bồ Đào Nha]] với vương hiệu '''Pedro IV'''. Nhưng vì nhận thấy không thể thống nhất 2 ngai vàng Brasil và Bồ Đào Nha nên chỉ sau 53 ngày, ông quyết định thoái vị khỏi ngai vàng Bồ Đào Nha và nhường ngôi lại cho con gái trưởng của mình là Hoàng nữ Maria, bà lên ngôi với vương hiệu [[Maria II của Bồ Đào Nha]], nhưng em trai của Pedro I là [[Miguel I của Bồ Đào Nha|Vương tử Miguel]] đã cướp ngôi của con gái ông và lên ngôi vào năm 1828 với vương hiệu '''Miguel I'''.<hr> | |||
Năm 1831, Pedro I tuyên bố thoái vị khỏi ngai vàng Đế chế Brasil để nhường ngôi lại cho người con trai trưởng mới 5 tuổi của mình là [[Pedro II của Brasil]], ông cùng gia đình và con gái Maria trở về châu Âu để cùng phe ủng hộ mình chống lại người em là Miguel I để giành lại ngai vàng Bồ Đào Nha cho con gái. Cuộc đấu tranh thành công, con gái ông lên ngôi lần 2 vào ngày 26 tháng 5 năm 1834 và tất cả 4 vị quân chủ còn lại của Bồ Đào Nha đều là hậu duệ của bà. Chỉ vài tháng sau khi con gái giành lại được ngai vàng, Pedro I qua đời vì bệnh lao vào ngày 24 tháng 9 năm 1834. <hr> | |||
Người kế vị Pedro I là [[Pedro II của Brasil]] (được mệnh danh là '''Người cao thương'''), ông trở thành một vị hoàng đế rất tốt, được hậu thế xem là một trong những người có ảnh hưởng nhất mọi thời đại trong lịch sử Brasil. Ông cũng là một hoàng đế thông thái và yêu khoa học bậc nhất trong lịch sử thế giới. Ông đã đưa Brasil thành một cường quốc ở Nam Mỹ, nhưng 2 người con trai của ông mất sớm khiến cho ông không còn thiết tha với ngai vàng, dù ông có quyền nhường ngôi cho những người con gái còn sống của ông, trong đó con trưởng là [[Isabel của Brasil|Hoàng nữ Isabel]]. | |||
* Ngày 15 tháng 11 năm 1889, ông bị lật đổ bởi một cuộc đảo chính của những người cộng hoà, thật ra thì Pedro II tự nguyện rời bỏ ngai vàng để Brasil tránh khỏi việc nội chiến, ông cùng gia đình đã rời Brasil trở về châu Âu và sống lưu vong ở đó cho đến khi ông qua đời vào năm 1891. Các nhà phân tích xem cuộc đảo chính lật đổ Pedro II là một sự kiện bất thường, vì người dân rất yêu thương hoàng đế, rất ít người ủng hộ cuộc đảo chính và nền cộng hoà. | |||
* Di hài của Pedro I, cũng như của vợ ông, đã được trở về Brasil vào năm 1921, kịp thời kỷ niệm 100 năm ngày Brasil giành độc lập. Chính phủ cộng hoà đã trao cho Pedro II các phẩm giá xứng đáng với một nguyên thủ quốc gia. Một ngày lễ quốc gia đã được tuyên bố và sự trở lại của Hoàng đế như một anh hùng dân tộc đã được tổ chức trên khắp cả nước. | |||
<hr> | |||
Hoàng tộc Braganza-Brasil nắm quyền cai trị từ năm 1822 đến khi bị lật đổ vào năm 1889, trải qua 67 năm với 3 đời hoàng đế, trong đó có 2 hoàng đế chính thức: [[Pedro I của Brasil|Pedro I]] (1822-1831) và [[Pedro II của Brasil|Pedro II]] (1831-1889). Hoàng tộc đã tuyệt tự dòng nam sau cái chết của Pedro II vào năm 1891, cuộc hôn nhân giữa con gái trưởng của ông là [[Isabel của Brasil|Hoàng nữ Isabel]] với [[Gaston, Bá tước xứ Eu]] của [[Vương tộc Orléans]] đã tạo ra dòng [[Nhà Orléans-Braganza|Orléans-Braganza]]. <hr><hr> | |||
===Pedro II=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đế quốc Brazil|ĐẾ CHẾ BRAZIL]]<br>(1822 - 1889) <hr> [[Nhà Braganza|Nhà Braganza-Brasil]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Brazil (1853-1889).svg|center|136px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of the Empire of Brazil.svg|center|69px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Pedro II của Brazil|Hoàng đế Pedro II]] <br>(1831 - 1889)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="3"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị Hoàng đế thứ 2 cũng như cuối cùng của Đế chế Brasil}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="3"| | |||
|- | |||
| [[File:2000 reis of Pedro II, 1851.png|center|700px]]<hr>{{center|'''2000 rei [[Pedro II của Brazil|Pedro II]] - 1851<hr>175 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Delfim da Câmara - D. Pedro II. 1875.jpg|120px]]<br>1851 - 1852<hr>'''[[AU|AU-55]]'''}}|| style="background:#ceb"colspan="1"|{{center|'''Đường kính'''<br>[[37,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[91,7%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[25,5 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[23,3835 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[256.192]]<hr>3.024.000<br>[[(121,45$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:2000 reis Pedro II - 1888.png|center|700px]]<hr>{{center|'''2000 rei [[Pedro II của Brazil|Pedro II]] - 1888<hr>137 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Delfim da Câmara - D. Pedro II. 1875.jpg|120px]]<br>1886 - 1889<hr>'''[[AU]]'''}}|| {{center|'''Đường kính'''<br>[[37,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[91,7%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[25,5 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[23,3835 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[746,788]]<hr>1.500.000<br>[[(64,38$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#fbd"|PEDRO II | |||
|- | |||
|style="background:LemonChiffon;"| | |||
Pedro II (1825 - 1891), trở thành hoàng đế Brazil khi mới 5 tuổi dưới sự nhiếp chính, chính thức nắm quyền vào năm 14 tuổi, ông tại vị từ năm 1831 đến khi bị lất đổ vào năm 1889. Năm 1 tuổi, mẹ của ông là [[Maria Leopoldine của Áo]] qua đời, năm 2 tuổi rưỡi cha của ông là [[Pedro I của Brasil]] lấy vợ 2 là [[Amélie xứ Leuchtenberg]] và bà này rất yêu thương các con của chồng, vì thế Pedro II xem bà như mẹ ruột. | |||
* Thông qua mẹ mình, Pedro II là cháu ngoại của [[Franz II của Thánh chế La Mã|Hoàng đế Franz I của Áo]] (Franz II của Thánh chế La Mã) và [[Maria Teresa của Napoli và Sicilia]]. Vì thế, qua bà ngoại, ông là cháu cố của [[Ferdinando I của Hai Sicilie]] và chắc của [[Carlos III của Tây Ban Nha]]. Qua ông ngoại, Pedro II là cháu cố của [[Leopold II của Thánh chế La Mã]] và là chắc của [[Maria Theresia của Áo]] và [[Franz I của Thánh chế La Mã]]. | |||
* Thông qua cha mình, Pedro II là cháu nội của [[João VI của Bồ Đào Nha]] và [[Carlota Joaquina của Tây Ban Nha]]. Vì thế, qua bà nội, ông là cháu cố của [[Carlos IV của Tây Ban Nha]] và chắc của [[Carlos III của Tây Ban Nha]]. Qua ông nội, ông là cháu cố của [[Maria I của Bồ Đào Nha]] và [[Pedro III của Bồ Đào Nha]], chắc của [[José I của Bồ Đào Nha]] và [[João V của Bồ Đào Nha]]. | |||
* Thông qua mẹ mình, ông gọi [[Maria Ludovica của Áo]], vợ của [[Napoleon I|Hoàng đế Napoleon]] là bác, vì bà là chị ruột của mẹ ông, vì thế [[Napoleon II]] là anh họ đời đầu của ông. Ông cũng gọi [[Ferdinand I của Áo]] là bác và gọi [[Franz Karl của Áo]] là cậu, vì thế 3 người con của Franz Karl là Hoàng đế [[Franz Joseph I của Áo]] và Hoàng đế [[Maximiliano I của México]], [[Karl Ludwig của Áo]] là em họ đời đầu, [[Franz Ferdinand của Áo]] - người bị ám sát vào năm 1914 ở Sarajevo và gây ra Thế chiến thứ nhất chính là cháu họ của Pedro II.<hr> | |||
Pedro II là người con thứ 7 và cũng là con út của [[Pedro I của Brasil]] và [[Maria Leopoldine của Áo]], chị cả của ông là [[Maria II của Bồ Đào Nha]] và em gái cùng cha khác mẹ của ông là [[Maria Amélia của Brasil]]. Ngày 7/4/1831, cha ông là Pedro I thoái vị nhường ngôi cho ông và giong buồm trở về châu Âu để tranh ngai vàng Bồ Đào Nha cho con gái, lúc đó đang bị người em ruột là [[Miguel I của Bồ Đào Nha]] chiếm giữ.<hr> | |||
Pedro II là bạn của [[Richard Wagner]] - nhà soạn nhạc đã được bảo trợ bởi Vua Thiêng Nga '''[[Ludwig II của Bayern]]'''. Ông cũng là bạn của [[Louis Pasteur]], tài trợ cho việc thành lập [[Viện Pasteur]], giúp bảo lãnh việc xây dựng Bayreuth Festspielhaus của Wagner. Pedro nhận được kính trọng và ngưỡng mộ của các học giả đương thời như [[Charles Darwin]], [[Victor Hugo]] và [[Friedrich Nietzsche]].<hr> | |||
Pedro II kế thừa một đế chế đang trên đà tan rã, nhưng với tình yêu và trách nhiệm của mình, ông đã đưa Brasil trở thành một cường quốc mới nổi trên trường quốc tế. Đế quốc Brasil ngày càng trở nên khác biệt với các nước láng giềng gốc Tây Ban Nha nhờ sự ổn định chính trị, tự do ngôn luận được bảo vệ nhiệt tình, tôn trọng quyền công dân, tăng trưởng kinh tế sôi động và chính phủ được tổ chức theo cơ chế Quân chủ lập hiến với một quốc hội quyền lực và dân chủ.<hr> | |||
Pedro tuy chưa từng gặp mặt người em gái cùng cha khác mẹ là '''[[Maria Amélia của Brasil|Maria Amélia]]''', nhưng ông rất yêu thương em gái mình. Khi ông còn thơ ấu, triều đình của ông nằm trong tay các quan nhiếp chính nên chính phủ đã từ chối tính hợp pháp của em gái ông, vì họ cho rằng bà đã sinh ra ở nước ngoài. Năm 1840, ngay sau khi ông được tuyên bố đủ tuổi để trực tiếp trị vì đế chế, một trong những hành động đầu tiên của Pedro chính là yêu cầu chính phủ công nhận tư cách Hoàng nữ của Maria Amélia và là thành viên của gia đình hoàng gia Brasil. Ngày 5/7/1841, Quốc hội Brasil đã công nhận điều này thông qua sự yêu cầu của Tử tước Sepetia, Bộ trưởng Ngoại giao của đế chế.<hr> | |||
Em họ của ông là [[Maximilian I của Mexico|Đại công tước Maximilian của Áo]] trong một lần đến thăm Đế chế Brazil đã rất ngưỡng mộ sự phát triển của đất nước Nam Mỹ này dưới sự trị vì của Pedro II, vì thế ông đã chấp nhận trở thành hoàng đế của Mexico sau lời mời của phe bảo hoàng Mexico, vì ông muốn tạo ra một nhà nước thịnh vượng tương tự như Brazil của Pedro II. Kết quả là, [[Đệ Nhị Đế chế México]] của Maximilian đã không tồn tại lâu, bản thân ông bị phe cộng hòa bắt và tử hình. Lý do Maximilian đến thăm Đế chế Brazil là vì ông muốn thăm những vùng đất gắn liền với [[Maria Amélia của Brasil]], em gái cùng cha khác mẹ của Pedro II, người hôn thê quá cố của Maximilan.<hr> | |||
Pedro II làm việc chăm chỉ và đòi hỏi rất khắt khe. Ông ấy thường thức dậy lúc 7 giờ và không ngủ trước 2 giờ sáng. Cả ngày ông dành cho công việc quốc gia và thời gian rảnh rỗi ít ỏi dành cho việc đọc và nghiên cứu. Ông sống rất tiếc kiệm, hoàng đế từng nói: '''"Tôi cũng hiểu rằng chi tiêu vô ích cũng giống như ăn trộm của Tổ quốc"'''. Niềm đam mê ngôn ngữ học đã thôi thúc ông nghiên cứu các ngôn ngữ mới trong suốt cuộc đời và ông có thể '''nói và viết 11 thứ tiếng''', bao gồm: tiếng Bồ Đào Nha mà còn cả tiếng La Tinh, tiếng Pháp, tiếng Đức, tiếng Anh, tiếng Ý, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Hy Lạp, tiếng Ả Rập, tiếng Do Thái, tiếng Phạn, tiếng Trung, tiếng Occitan và tiếng Tupi.<hr> | |||
Hoàng đế xem giáo dục là tầm quan trọng quốc gia và chính ông là tấm gương cụ thể về giá trị của việc học. Ông đã từng viết: '''"Nếu tôi không phải là Hoàng đế, tôi muốn trở thành một giáo viên. Tôi không biết nhiệm vụ nào cao cả hơn là hướng dẫn trí tuệ cho trẻ em và chuẩn bị cho những người đàn ông của ngày mai"'''. [[Charles Darwin]] đã nói về ông: '''"Hoàng đế làm rất nhiều việc cho khoa học, đến nỗi mọi nhà khoa học đều phải thể hiện sự tôn trọng tối đa với ông"'''; Hoàng đế chấp nhận những ý tưởng mới, chẳng hạn như thuyết tiến hóa của Charles Darwin, trong đó ông nhận xét rằng '''"các quy luật mà ông [Darwin] đã khám phá ra tôn vinh Đấng sáng tạo"'''<hr> | |||
Năm 1875, ông được bầu vào [[Viện Hàn lâm Khoa học Pháp]], một vinh dự trước đây chỉ được trao cho hai nguyên thủ quốc gia khác: [[Pyotr I của Nga|Peter Đại đế]] và [[Napoléon Bonaparte]].<hr> | |||
Năm 1871, Pedro và vợ đến thăm châu Âu, ông đến Lisbon để thăm mẹ kế của mình là '''[[Amélie xứ Leuchtenberg]]'''. Hai người đã không gặp nhau trong 40 năm và cuộc gặp gỡ thật xúc động. Pedro II đã ghi lại trong nhật ký của mình: '''"Tôi đã khóc vì hạnh phúc và cũng vì buồn khi thấy Mẹ tôi rất yêu thương tôi nhưng lại quá già và quá ốm yếu"''', lúc này người con duy nhất của Amelie là [[Maria Amélia của Brasil|Vương nữ Maria Amélia]] đã qua đời được 19 năm (1852).<hr> | |||
Vào năm 1870, rất ít người Brasil phản đối [[chế độ nô lệ]], nhưng Pedro II ngoài việc không sở hữu bất kỳ nô lệ nào, ông còn công khai chống lại nó. Động thái công khai đầu tiên của ông diễn ra vào năm 1850, khi ông đe dọa sẽ thoái vị trừ khi Đại hội đồng tuyên bố [[buôn bán nô lệ Đại Tây Dương]] là bất hợp pháp. Đến năm 1871, [[Luật Rio Branco]] được thông qua, theo đó trẻ em được sinh ra bởi phụ nữ nô lệ sẽ là người tự do. Đến năm 1888, trước khi ông bị lật đổ 1 năm, Quốc hội đã thông qua việc bãi bỏ chế độ nô lệ ở Brasil, khi đó ông đang ở trên giường bệnh. Với giọng nói yếu ớt và nước mắt lưng tròng, ông nói, '''"Những người vĩ đại! Những người vĩ đại!"'''.<hr> | |||
Ngày 15/11/1889, một nhóm sĩ quan quân đội làm cuộc đảo chính, bắt giữ thủ tướng Brasil với mong muốn lập ra chế độ cộng hòa. Pedro II không biểu lộ cảm xúc như thể không quan tâm đến kết quả. Ông bác bỏ mọi đề xuất dập tắt cuộc nổi loạn mà các chính trị gia và lãnh đạo quân sự đưa ra. Khi nghe tin về việc mình bị phế truất, ông chỉ bình luận: '''"Nếu vậy, đây sẽ là thời điểm tôi nghỉ hưu. Tôi đã làm việc quá sức và tôi mệt mỏi. Vậy thì tôi sẽ đi nghỉ ngơi"'''. Ông và gia đình đã rời bỏ Brazil để sang châu Âu lưu vong vào ngày 17 tháng 11. Các nhà sử học đánh ra giá rằng, trên thực tế, hoàng đế đã chủ động từ bỏ ngai vàng, chứ cuộc đảo chính không được bất cứ người dân Brasil nào ủng hộ.<hr> | |||
Pedro II qua đời vào 00:35, ngày 5/12/189, người ta đã tìm thấy một gói hàng được niêm phong, trong đó có 1 hủ đất và 1 lá thư: '''"Đó là đất từ đất nước của tôi, tôi muốn nó được đặt trong quan tài của tôi trong trường hợp tôi chết xa quê hương của mình"'''. Hoàng nữ Isabel muốn tổ chức một buổi lễ mai táng kín đáo, nhưng cuối cùng bà đã đồng ý với yêu cầu của chính phủ Pháp về một lễ tang cấp nhà nước. Các đại diện ngoại giao từ khắp nơi trên thế giới đã đến lễ tang của Pedro, bao gồm cả Nhà Thanh, Nhật Bản, Ba Tư, Ottoman... Trên đường đưa quan tài của ông ra ga xe lửa để đến Bồ Đào Nha, đã có 300.000 người xếp hàng dọc tuyến đường dưới trời mưa và giá lạnh.<hr> | |||
Thông tin Pedro II qua đời đã truyền đến Brasil, dù chính phủ cộng hoà đã lo sợ và găn cấm tưởng nhớ cố hoàng đế, nhưng người dân trên toàn quốc đã cầu nguyện, treo cờ rũ, đóng cửa doanh nghiệp để tưởng nhớ, bất chấp chính phủ đàn áp. Các thánh lễ được tổ chức để tưởng nhớ Pedro trên khắp Brazil, và ông cùng chế độ quân chủ đã được ca ngợi trong những bài điếu văn sau đó. Quan điểm này thậm chí còn mạnh mẽ hơn trong cộng đồng người Brazil gốc Phi, những người coi chế độ quân chủ ngang bằng với tự do vì ông và con gái Isabel đã tham gia vào việc bãi bỏ chế độ nô lệ.<hr> | |||
Di hài của ông, cũng như của vợ ông, đã được trả về Brazil vào năm 1921, kịp thời kỷ niệm một trăm năm ngày Brazil giành độc lập. Chính phủ đã trao cho Pedro II các phẩm giá xứng đáng với một nguyên thủ quốc gia. Một ngày lễ quốc gia đã được tuyên bố và sự trở lại của Hoàng đế như một anh hùng dân tộc đã được tổ chức trên khắp cả nước. | |||
|} | |||
|} | |||
==🟪 ĐẾ CHẾ OTTOMAN== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#ccf"|[[Tập tin:Coat of arms of the Ottoman Empire (1882–1922).svg|70px]] | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|TRIỀU ĐẠI VÀ HOÀNG TỘC OSMAN | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
[[File:00-Ottoman Empire map 1590-00.png|thumb|250px|Đế chế Ottoman]] | |||
[[Triều đại Ottoman]] hay '''Osmanlilar''' theo tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, là một hoàng tộc có nguồn gốc từ [[bộ tộc Kayi]], một trong 22 bộ tộc của [[người Thổ Oghuz]]. Triều đại này được đặt tên của [[Osman I]] (1299-1326) người đã sáng lập ra Nhà nước Ottoman. '''''Hoàng tộc này đã cai trị [[Đế quốc Ottoman]] từ năm 1299 đến 1922, trải qua 623 năm, với [[Danh sách sultan của đế quốc Ottoman|36 đời sultan]]'''''. Khi con trai của Osman là [[Orhan I]], lên nắm quyền sau cái chết của cha mình, ông đã đổi tên bộ tộc Kayi thành Osmanli để vinh danh cha mình.<hr> | |||
Hoàng tộc này có nguồn gốc bản địa ở Trung Á, vào đầu thế kỷ XIII, dưới sự bành trướng của người Mông Cổ, gia tộc này đã chạy đến định cư ở Anatolia, trong khu vực thuộc [[Hồi quốc Rûm]] của Nhà Seljuk, có nguồn cho rằng họ đến Anatolia sớm hơn 2 thế kỷ. Sau đó, họ tham gia vào quân đội của Sultan [[Kayqubad I]] và chiến đấu chống lại người [[Nhà Khwarezm-Shah]], người Mông Cổ và [[Đế quốc Đông La Mã|Đế chế Byzantine]], những thế lực đang tấn công vùng đất Seljuk. | |||
* Theo một số tài liệu, các chiến binh Kayı nổi tiếng về kỹ năng chiến đấu cùng lòng dũng cảm, đây là một trong những yếu tố chính giúp người Seljuk giành chiến thắng trong nhiều trận chiến. Thực tế này đã thúc đẩy Sultan Kayqubad bổ nhiệm [[Ertuğrul]], Emir của bộ lạc, làm Moqaddam, và thưởng cho người Kayıs một số vùng đất màu mỡ gần Ankara, nơi họ định cư và phục vụ Sultan trong nhiều năm. | |||
* Thủ lĩnh [[Ertuğrul]] của người Kayi đã được trao quyền cai trị [[Söğüt]], ở phía Tây Bắc Anatolia, trên biên giới với Byzantine và tước hiệu [[Uch bey]] (Lãnh chúa vùng biên cương). Ertuğrul là người tham vọng nên đã nhân danh Sultan đánh vào lãnh thổ của Byzantine và chiếm thêm nhiều lãnh thổ để mở rộng vùng đất của mình, ông đã trở thành thống đốc Seljuk và qua đời năm 1281 ở tuổi gần 90.<hr> | |||
Ông tổ của Nhà Ottoman là [[Osman I|Osman Gazi]], con trai của [[Ertuğrul]], trở thành thủ lĩnh của bộ lạc Kayi vào năm 1281 sau cái chết của cha mình, năm đó ông 23 tuổi. Việc kế thừa này không diễn ra một cách êm đẹp, ông phải thực hiện những hành động chống lại người chú của mình là [[Dündar Bey]]. Khi lên nắm quyền, Osman đã nỗ lực thống nhất các bộ lạc người Turkmen. Ông tiếp tục tấn công vào lãnh thổ Byzantine để mở rộng lãnh thổ, đồng thời tránh xung đột với các tiểu quốc Thổ xung quanh lãnh thổ của mình. | |||
* Trong thời gian trị vì của Osman, người Ottoman đã có những bước tiến lớn trong quá trình chuyển đổi từ hệ thống bộ lạc du mục sang định cư tại các khu định cư cố định. Điều này giúp họ củng cố vị thế và nhanh chóng phát triển thành một cường quốc. | |||
* Lãnh thổ của Osman kiểm soát nằm khá xa so với các vùng chiến sự của người Mông Cổ cũng như các nhà nước Turk hùng mạnh khác, nó lại nằm trên con [[đường tơ lụa]] và giáp ranh với các lãnh thổ Byzantine chưa bị chinh phục, điều này khiến nơi đây trở thành điểm thu hút nhiều nông dân, chiến binh người Turkmen chạy trốn Mông Cổ và khát khao chinh phục những vùng đất mới với lý do kinh tế và tôn giáo.<hr> | |||
'''[[Giấc mơ của Osman]]''': | |||
Đây là một thần thoại, xuất hiện lần đầu tiên vào thế kỷ XV, hơn 100 năm sau khi Osman qua đời. Câu chuyện này cung cấp một lý do chính đáng cho sự mở rộng và phát triển hùng mạnh cho hoàng tộc Ottoman. Giấc mơ này của Osman xảy ra khi ông ngủ tại nhà của một vị giáo sĩ tên là [[Sheikh Edebali]]: | |||
* ''Osman thấy mình và đoàn tùy tùng đang nghỉ ngơi gần nhau. Từ lòng ngực Edebali, vầng trăng tròn nhô lên và nghiêng về phía lòng ngực Osman, nó chìm xuống và khuất khỏi tầm mắt. Sau đó, một cái cây đẹp đẽ mọc lên, ngày càng đẹp đẽ và mạnh mẽ, ngày càng lớn hơn. Màu xanh tươi bao trùm của cành cây và nhánh cây vẫn tỏa bóng mát ngày càng rộng hơn, cho đến khi chúng che phủ đường chân trời cực đại của ba phần thế giới. Dưới gốc cây có bốn ngọn núi, mà ông biết là [[Dãy núi Kavkaz|Caucasus]], [[Dãy núi Atlas|Atlas]], [[Dãy núi Taurus|Taurus]] và [[Dãy núi Balkan|Haemus]] (Balkan). Những ngọn núi này là 4 cột trụ dường như nâng đỡ mái vòm của tán lá cây thiêng liêng mà trái đất hiện đang ở trung tâm. Từ rễ cây tuôn ra bốn con sông: [[Tigris]], [[Euphrates]], [[Danube]] và [[Nile]]. Những con tàu cao và thuyền buồm vô số nằm trên mặt nước. Những cánh đồng nặng trĩu mùa màng. Các sườn núi được bao phủ bởi rừng. Từ đó, trong sự sung túc hân hoan và màu mỡ, những đài phun nước và dòng suối chảy róc rách qua những bụi cây bách và hoa hồng. Trong các thung lũng, những thành phố uy nghi lấp lánh, với [[tháp giáo đường Hồi giáo]] và mái vòm, với kim tự tháp và tháp nhọn, với các tháp và tháp cao. Lưỡi liềm tỏa sáng trên đỉnh của chúng: từ các phòng trưng bày của chúng vang lên tiếng gọi cầu nguyện của Muezzin. Âm thanh đó hòa lẫn với giọng hát ngọt ngào của hàng ngàn con chim họa mi và tiếng líu lo của vô số con vẹt đủ mọi màu sắc. Mọi loài chim hót đều ở đó. Đám đông có cánh líu lo và bay lượn xung quanh bên dưới mái nhà tươi mới của những cành cây đan xen của cây bao phủ toàn bộ; và mỗi chiếc lá của cây đó đều có hình dạng giống như một thanh kiếm cong. Đột nhiên, một cơn gió mạnh nổi lên, và hướng những mũi kiếm về phía các thành phố khác nhau trên thế giới, nhưng đặc biệt là về phía Constantinople. Thành phố đó, nằm ở ngã ba của hai biển và hai lục địa, trông giống như một viên kim cương được đặt giữa hai viên ngọc bích và hai viên ngọc lục bảo, tạo thành viên đá quý nhất trong chiếc nhẫn của đế chế toàn cầu. Osman nghĩ rằng ông đang đeo chiếc nhẫn viễn tưởng đó vào ngón tay mình, khi ông thức dậy.'' | |||
* Giấc mơ đã trở thành một huyền thoại nền tảng quan trọng cho đế chế, truyền cho Nhà Osman quyền lực do Chúa ban cho trên trái đất và cung cấp cho khán giả thế kỷ mười lăm của mình một lời giải thích cho thành công của Ottoman. Câu chuyện giấc mơ cũng có thể đóng vai trò như một hình thức giao ước: giống như Chúa đã hứa sẽ ban cho Osman và con cháu của ông chủ quyền, thì cũng ngụ ý rằng Osman có nhiệm vụ cung cấp sự thịnh vượng cho thần dân của mình. | |||
* Osman đã kể giấc mơ này lại cho [[Sheikh Edebali]], và ông đã chúc mừng Osman đã được thượng đế trao cho hoàng quyền, ông ấy đã gả con gái của mình là [[Rabia Bala Hatun]] cho Osman. Hậu duệ của họ chính là tất cả các Sultan sau này của Đế chế Ottoman.<hr> | |||
Sau khi [[Mehmed II]] (Sultan thứ 7) [[Constantinopolis thất thủ|chinh phục Constantinople]] vào năm 1453 và chấn dứt Đế chế Byzantine, các sultan Ottoman sau đó tự coi mình là những người kế vị của Đế chế La Mã, do đó họ thỉnh thoảng sử dụng các danh hiệu '''[[Caesar (tước hiệu)|caesar]]''' và Hoàng đế, cũng như [[Khalifah]] của Hồi giáo. Các nhà cai trị Ottoman mới lên ngôi được thắt lưng bằng [[Thanh kiếm Osman]], một nghi lễ quan trọng tương đương với lễ đăng quang của các quốc vương châu Âu. Mặc dù về lý thuyết và nguyên tắc là tuyệt đối, nhưng quyền lực của sultan bị hạn chế trong thực tế. Các quyết định chính trị phải tính đến ý kiến và thái độ của các thành viên quan trọng của triều đại, các cơ quan hành chính và quân sự, cũng như các nhà lãnh đạo tôn giáo.<hr> | |||
'''Sultan thứ 9 [[Selim I]]''' (1512–1520) đã mở rộng đáng kể biên giới phía đông và phía nam bằng cách đánh bại [[Ismail I]] của [[Safavid Iran]], trong [[Trận Chaldiran]]. Selim I đã thiết lập sự cai trị của Ottoman ở Ai Cập bằng cách đánh bại và sáp nhập [[Vương quốc Hồi giáo Mamluk (Cairo)|Vương quốc Hồi giáo Mamluk của Ai Cập]] và tạo ra sự hiện diện của hải quân Ottoman trên [[Biển Đỏ]]. Sau sự bành trướng này của Ottoman, sự cạnh tranh bắt đầu giữa Đế chế Bồ Đào Nha và người Ottoman để trở thành cường quốc thống trị trong khu vực. Vào đêm trước khi Selim I qua đời năm 1520, Đế chế Ottoman trải dài trên '''''diện tích khoảng 3,4 triệu km2, tăng 70% so với trước khi Selim lên ngôi'''''.<hr> | |||
Sultan thứ 10 là '''[[Suleiman I]]''' (1520–1566) chiếm được [[Belgrade]] năm 1521, chinh phục các vùng phía nam và trung tâm của [[Vương quốc Hungary]] như một phần của [[Chiến tranh Ottoman-Hungary]], và sau chiến thắng lịch sử của mình trong [[Trận Mohács]] năm 1526, ông thiết lập sự cai trị của Ottoman trên lãnh thổ Hungary ngày nay và các vùng lãnh thổ Trung Âu khác. Ông đã tấn công [[Viên]] 2 lần vào năm 1529 và 1532 nhưng đều thất bại. Đưa Transylvania, Wallachia và thỉnh thoảng là Moldavia thành chư hầu. Ở phía đông, người Ottoman chiếm [[Baghdad]] từ người Ba Tư vào năm 1535, giành quyền kiểm soát Lưỡng Hà và quyền tiếp cận bằng đường biển đến [[Vịnh Ba Tư]]. Vào cuối triều đại của Suleiman, Đế chế trải dài trên diện tích 2.273.720 km2, trải dài trên ba châu lục.<hr> | |||
'''[[TRYỀN THỐNG KẾ VỊ ĐẪM MÁU]]:''' Quá trình kế vị trong giai đoạn đầu tiên của Ottoman bị chi phối bởi bạo lực và xung đột nội bộ gia đình, trong đó các con trai khác nhau của vị Sultan quá cố đã chiến đấu cho đến khi chỉ còn một người sống sót và người sống sót cuối cùng sẽ thừa kế ngai vàng. Truyền thống này được gọi là giết anh em trong Đế chế Ottoman nhưng có thể đã phát triển từ ''[[Tanistry]]'', một thủ tục kế vị tương tự tồn tại trong nhiều [[Truyền thống Thổ-Mông Cổ|triều đại Turco-Mông Cổ]] trước thời Ottoman. | |||
* Từ thế kỷ XIV đến cuối thế kỷ XVI, người Ottoman thực hành chế độ kế vị công khai – điều mà nhà sử học Donald Quataert đã mô tả là "sự sống còn của đứa con trai khỏe mạnh nhất, chứ không phải đứa con trai cả". Con trai của Sultan thường được trao các vùng lãnh thổ cấp tỉnh để cai trị cho đến khi Sultan qua đời, và đến lúc đó họ sẽ đánh nhau để giành ngai vàng. Theo nhà sử học H. Erdem Cipa, mỗi người con trai phải "chứng minh rằng vận may của mình vượt trội hơn vận may của các đối thủ". Hình thức bạo lực này không bị coi là bất thường. Như Cipa đã lưu ý, các từ Ottoman cho "người kế vị" và "xung đột" có cùng gốc [[tiếng Ả Rập]]. Trong 200 năm đầu tiên của triều đại, kế vị ngai vàng đều là phải tranh giành đẫm máu. | |||
**Người con trai đầu tiên đến kinh đô và nắm quyền kiểm soát triều đình thường sẽ trở thành người cai trị mới. Sự gần gũi của một Şehzade (=Hoàng tử) với Constantinople đã cải thiện cơ hội thành công của ông, đơn giản vì ông có thể nghe tin về cái chết của cha mình, nắm quyền kiểm soát triều đình Ottoman ở thủ đô và tự xưng là Sultan trước tiên. Do đó, một Sultan có thể ám chỉ đến người kế vị ưa thích của mình bằng cách trao cho người con trai được yêu thích một quyền thống đốc gần hơn. | |||
* Trong thời kỳ trị vì cuối cùng của [[Mehmed II]] (1451–1481), giết anh em ruột đã được hợp pháp hóa như một thông lệ chính thức; trong thời kỳ trị vì của [[Bayezid II]] (1481–1512), giết anh em ruột giữa các con trai của Bayezid II đã xảy ra trước khi chính Bayezid II qua đời; và sau thời kỳ trị vì của [[Murad III]] (1574–1595), người kế vị của ông là [[Mehmed III]] đã xử tử 19 anh em để giành lấy ngai vàng. | |||
* Trong giai đoạn thứ hai, truyền thống giết anh em ruột đã được thay thế bằng một thủ tục đơn giản và ít bạo lực hơn. Bắt đầu với sự kế vị từ [[Ahmed I]] đến [[Mustafa I]] vào năm 1617, ngai vàng Ottoman được thừa kế bởi người họ hàng nam lớn tuổi nhất trong huyết thống - không nhất thiết phải là con trai - của Sultan, bất kể có bao nhiêu thành viên gia đình đủ điều kiện còn sống. Tiền lệ được thiết lập vào năm 1617 vẫn tồn tại, vì thành viên lớn tuổi nhất còn sống trong gia đình đã kế thừa ngai vàng thành công trong mỗi 21 lần kế vị sau đó. | |||
* Trong thời kỳ trị vì của [[Suleiman I]] và [[Selim II]], [[Haseki Sultan]] hoặc người phối ngẫu chính đã trở nên nổi tiếng hơn. Khi giành được quyền lực trong Hậu cung Hoàng gia, người được sủng ái đã có thể điều động để đảm bảo quyền kế vị cho một trong những người con trai của mình. Điều này dẫn đến một thời kỳ ngắn ngủi của chế độ trưởng nam có hiệu lực. | |||
** Tuy nhiên, không giống như giai đoạn trước, khi quốc vương đã đánh bại anh em mình và những đối thủ tiềm năng giành ngai vàng trong trận chiến, những quốc vương này gặp vấn đề về nhiều anh em cùng cha khác mẹ có thể trở thành tâm điểm cho các phe phái đối địch. Do đó, để ngăn chặn các nỗ lực chiếm đoạt ngai vàng, các quốc vương trị vì đã thực hiện hành vi giết anh em cùng cha khác mẹ khi lên ngôi, bắt đầu từ [[Murad I]] vào năm 1362. Cả [[Murad III]] và con trai ông là [[Mehmed III]] đều ra lệnh giết anh em cùng cha khác mẹ của mình. | |||
** Việc giết tất cả anh em trai và anh em cùng cha khác mẹ của quốc vương mới (thường khá đông) theo truyền thống được thực hiện bằng cách siết cổ bằng dây lụa. Qua nhiều thế kỷ, nghi lễ giết người theo nghi lễ dần được thay thế bằng việc giam cầm biệt lập suốt đời trong "Lồng Vàng" hay kafes, một căn phòng trong hậu cung mà anh em trai của quốc vương không bao giờ có thể trốn thoát, trừ khi họ trở thành người thừa kế hợp pháp. Một số người đã trở nên bất ổn về mặt tinh thần vào thời điểm họ được yêu cầu trị vì. | |||
* [[Mehmed III]] là vị vua cuối cùng từng giữ chức thống đốc tỉnh. Con trai giờ đây vẫn ở trong hậu cung cho đến khi cha qua đời. Điều này không chỉ phủ nhận khả năng thành lập các phe phái hùng mạnh có khả năng cướp ngôi cha mà còn phủ nhận cơ hội sinh con khi cha còn sống. Từ thế kỷ 17, hệ thống thế tập sang hệ thống dựa trên thâm niên agnatic, trong đó nam giới lớn tuổi nhất trong triều đại sẽ kế vị, cũng để đảm bảo các vị vua trưởng thành và ngăn chặn cả tình trạng giết anh em ruột cũng như phụ nữ chiếm ngai vàng. Do đó, Mustafa đã kế vị anh trai mình là Ahmed; [[Suleiman II]] và [[Ahmed II]] kế vị anh trai của họ là Mehmed IV trước khi được con trai của Mehmed là Mustafa II kế vị. Quyền thừa kế [[Agnatic seniority]] (thâm niên) giải thích tại sao từ thế kỷ 17 trở đi, một vị vua đã khuất hiếm khi được con trai kế vị, mà thường là chú hoặc em trai. Điều đó cũng có nghĩa là những người cai trị tiềm năng phải chờ đợi một thời gian dài trong kafes trước khi lên ngôi, do đó một số vị hoàng đế khi lên ngôi đã rất già. | |||
** ''[[Agnatic seniority]] là nguyên tắc thừa kế theo dòng cha, trong đó thứ tự kế vị ngai vàng ưu tiên em trai của quốc vương hơn là con trai của quốc vương. Con cái của quốc vương (thế hệ tiếp theo) chỉ kế vị sau khi tất cả nam giới của thế hệ trước đã hết. Quyền thừa kế theo Agnatic seniority loại trừ phụ nữ của triều đại và con cháu của họ khỏi quyền kế vị. Ngược lại với [[Agnatic primogeniture]], trong đó con trai của nhà vua có thứ hạng kế vị cao hơn so với anh em trai của mình''. | |||
|} | |||
===Mustafa II=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đế quốc Ottoman|ĐẾ CHẾ OTTOMAN]]<br>(1299 - 1922) <hr> [[Nhà Osman]]}}'''||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of the Ottoman Empire (1844–1922).svg|center|134px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of the Ottoman Empire (1882–1922).svg|center|72px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Mustafa II|Hoàng đế Mustafa II]] <br>(1695 - 1703)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị hoàng đế thứ 22 của Ottoman}} | |||
|- | |||
| [[File:1 Kuruș Mustafa II of Ottoman 1695-1704.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 Kuruș [[Mustafa II]]_[[Constantinople]] - 1695<hr>330 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:II Mustafa.jpg|120px]]<br>1695 <hr>'''[[AU]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[38,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[42,5%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[19,7 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[8,3725 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[?]]<hr>3.956.000 <br>[[(166,92$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
* Trị vì trong giai đoạn Đại chiến Thổ Nhĩ Kỳ khiến cho đế chế Ottoman mất nhiều lãnh thổ ở châu Âu và không còn là một thế lực có thể đe doạ châu Âu nữa. | |||
===Mustafa III=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đế quốc Ottoman|ĐẾ CHẾ OTTOMAN]]<br>(1299 - 1922) <hr> [[Nhà Osman]]}}'''||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of the Ottoman Empire (1844–1922).svg|center|134px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of the Ottoman Empire (1882–1922).svg|center|72px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Mustafa III|Hoàng đế Mustafa III]] <br>(1757 - 1774)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị hoàng đế thứ 26 của Ottoman}} | |||
|- | |||
| [[File:2 zolota Mustafa III Constantinople - 1759.png|center|700px]]<hr>{{center|'''2 zolota [[Mustafa III]]_[[Constantinople]] - 1759<hr>266 năm (2025)'''}}||{{center|[[Tập tin:BASA-516K-1-2080-26-Mustafa III.JPG|120px]]<br>1758 - 1772<hr> '''[[AU]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[45,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[46,5%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[30,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[13,95 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[22%]]<hr>1.400.000<br>[[(62,78$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
===Abdul Hamid I=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đế quốc Ottoman|ĐẾ CHẾ OTTOMAN]]<br>(1299 - 1922) <hr> [[Nhà Osman]]}}'''||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of the Ottoman Empire (1844–1922).svg|center|134px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of the Ottoman Empire (1882–1922).svg|center|72px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Abdul Hamid I|Hoàng đế Abdul Hamid I]] <br>(1774 - 1789)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị hoàng đế thứ 27 của Ottoman}} | |||
|- | |||
| [[File:2 zolota Abdul Hamid I Constantinople - 1780.png|center|700px]]<hr>{{center|'''2 zolota [[Abdul Hamid I]]_[[Constantinople]] - 1780<hr>245 năm (2025)'''}}||{{center|[[Tập tin:Portrait of Abdülhamid I of the Ottoman Empire.jpg|120px]]<br>1780 - 1785<hr> '''[[AU]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[43,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[46,5%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[26,4 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[12,3225 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[24%]]<hr>2.159.000<br>[[85,0$]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
===Mahmud II=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đế quốc Ottoman|ĐẾ CHẾ OTTOMAN]]<br>(1299 - 1922) <hr> [[Nhà Osman]]}}'''||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of the Ottoman Empire (1844–1922).svg|center|134px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of the Ottoman Empire (1882–1922).svg|center|72px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Mahmud II|Hoàng đế Mahmud II]] <br>(1808 - 1839)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị hoàng đế thứ 30 của Ottoman}} | |||
|- | |||
| [[File:6 kurus Mahmud II Constantinople - 1834.png|center|700px]]<hr>{{center|'''6 kurus [[Mahmud II]]_[[Constantinople]] - 1834<hr>163 năm (2025)'''}}||{{center|[[Tập tin:MahmutII.jpg|120px]] <br>1833 - 1838<hr>[[AU|AU-53]]}} || style="background:#ceb"colspan="1"|{{center|'''Đường kính'''<br>[[38,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[43,5%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[12,8 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[5,568 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[?]]<hr>3.074.000<br>[[(121,02$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:LightCoral;"|Mahmud II | |||
|- | |||
|style="background:LemonChiffon;"| | |||
Ông là Sultan thứ 30 của [[Đế quốc Ottoman]], con trai của [[Abdul Hamid I]] (sultan thứ 27) và là em trai của [[Mustafa IV]] (sultan thứ 29). Ông là cha của 2 vị Sultan [[Abdül Mecid I]] (sultan thứ 31) và [[Abdul Aziz]] (sultan thứ 32).<hr> | |||
Ông có ít nhất 19 người vợ, ít nhất 18 người con trai, nhưng chỉ có 2 người sống đến tuổi trưởng thành và cả 2 người con này đều trở thành sultan của Ottoman. Ông cũng có ít nhất 19 người con gái, nhưng chỉ có 6 người sống sót qua tuổi thơ và 4 người sống đến tuổi kết hôn.<hr> | |||
Mahmud đã tiến hành các cải cách hành chính, quân sự và tài chính sâu rộng trong Đế chế Ottoman. Vì thế ông được mệnh danh là [[Pyotr I của Nga|Peter Đại đế]] của Ottoman. Ông cũng cho xoá bỏ lực lượng [[Janissary]], điều này đã loại bỏ một trở ngại lớn đối với các cải cách của ông và những người kế nhiệm ông trong Đế chế sau này.<hr> | |||
Năm 1808, người tiền nhiệm và là anh cùng cha khác mẹ của Mahmud là [[Mustafa IV]] đã ra lệnh xử tử ông cùng với anh họ của mình là Sultan [[Selim III]] bị phế truất, để xoa dịu cuộc nổi loạn. Selim III đã bị giết, nhưng Mahmud được mẹ mình giấu an toàn và được đưa lên ngai vàng sau khi quân nổi loạn phế truất Mustafa IV. Người lãnh đạo cuộc nổi loạn này là [[Alemdar Mustafa Pasha]], sau này trở thành [[Wazir|tể tướng]] của Mahmud II.<hr> | |||
Mahmud lên ngôi sau một cuộc [[Đảo chính Ottoman 1807–1808|đảo chính năm 1808]] đã phế truất người anh cùng cha khác mẹ của ông là [[Mustafa IV]]. Vào đầu thời kỳ trị vì của mình, Đế chế Ottoman đã nhượng [[Bessarabia]] cho [[Đế quốc Nga]] vào cuối [[Chiến tranh Nga – Thổ Nhĩ Kỳ (1806–1812)|Chiến tranh Nga-Thổ 1806–1812]]. Hy Lạp đã tiến hành một cuộc [[Chiến tranh giành độc lập Hy Lạp|chiến tranh giành độc lập]] thành công bắt đầu vào năm 1821 với sự hỗ trợ của Anh, Pháp và Nga, và Mahmud buộc phải công nhận nhà nước Hy Lạp độc lập vào năm 1832. Người Ottoman đã mất thêm lãnh thổ vào tay Nga sau [[Chiến tranh Nga-Thổ (1828–1829)]], và [[Algérie thuộc Ottoman]] đã bị [[Pháp chinh phục Algeria|Pháp chinh phục]] bắt đầu từ năm 1830.<hr> | |||
Sau khi Ottoman mất quyền kiểm soát Hy Lạp sau [[Trận Navarino]] trước đội tàu chiến Anh-Pháp-Nga vào năm 1827, Mahmud II đã ưu tiên hàng đầu cho việc xây dựng lại một lực lượng hải quân Ottoman hùng mạnh. Những tàu hơi nước đầu tiên của Hải quân Ottoman được mua vào năm 1828. Năm 1829, tàu chiến lớn nhất thế giới trong nhiều năm, tàu chiến tuyến Mahmudiye.<hr> | |||
Trong quá trình Hoàng đế [[Napoleon I]] chuẩn bị [[Chiến tranh Nga – Pháp (1812)|xâm lược Nga]]. Ông muốn mời người Ottoman tham gia cuộc hành quân của mình vào [[Đế quốc Nga]]. Tuy nhiên, Napoleon, không thể tin tưởng và chấp nhận làm đồng minh; vì thế Mahmud đã từ chối lời đề nghị.<hr> | |||
Theo [[Hiệp ước Bucharest (1812)]], Ottoman đã nhượng lại nửa phía đông của [[Moldavia]] cho Nga (đổi tên lãnh thổ này thành [[Bessarabia]]), mặc dù đã cam kết bảo vệ khu vực đó. Nga trở thành một thế lực mới ở khu vực hạ lưu sông Danube và có một biên giới có lợi về kinh tế, ngoại giao và quân sự. Ở [[Ngoại Kavkaz]], Ottoman đã lấy lại gần như tất cả những gì đã mất ở phía đông: [[Poti]], [[Anapa]] và [[Akhalkalaki]]. Nga giữ lại [[Sukhumi|Sukhum-Kale]] trên bờ biển [[Abkhazia]]. Đổi lại, Sultan chấp nhận việc Nga sáp nhập [[Vương quốc Imereti]] vào năm 1810. Hiệp ước đã được Hoàng đế [[Aleksandr I của Nga]] chấp thuận vào ngày 11 tháng 6, khoảng 13 ngày trước khi cuộc xâm lược của Napoleon bắt đầu. Các chỉ huy Nga đã có thể đưa nhiều binh lính của họ ở [[Bán đảo Balkan]] trở lại các khu vực phía tây của đế chế trước cuộc tấn công dự kiến của Napoleon.<hr> | |||
Triều đại của ông cũng đánh dấu sự ly khai đầu tiên khỏi Đế chế Ottoman, với việc [[Đệ Nhất Cộng hòa Hy Lạp|Hy Lạp tuyên bố độc lập]] sau cuộc nổi loạn bắt đầu vào năm 1821. Sau tình hình bất ổn liên tục, ông đã ra lệnh hành quyết [[Thượng phụ Đại kết thành Constantinopolis]] là [[Gregory V của Constantinopolis|Gregory V]] vào Chủ nhật Phục sinh năm 1821 vì không thể ngăn chặn cuộc nổi loạn. Vài năm sau, vào năm 1827, hải quân Anh, Pháp và Nga kết hợp đã đánh bại Hải quân Ottoman trong [[Trận Navarino]]; sau đó, Đế chế Ottoman buộc phải công nhận sự độc lập của Hy Lạp thông qua [[Hiệp ước Constantinople (1832)|Hiệp ước Constantinople]] vào tháng 7 năm 1832. Sự kiện này, cùng với cuộc [[Pháp chinh phục Algeria|chinh phục Algeria]] của Pháp, một tỉnh của Ottoman (xem [[Algérie thuộc Ottoman]]) vào năm 1830, đánh dấu sự khởi đầu cho quá trình tan rã dần dần của Đế chế Ottoman. Các nhóm dân tộc không phải người Thổ Nhĩ Kỳ sinh sống trên các lãnh thổ của đế chế, đặc biệt là ở châu Âu, đã bắt đầu các phong trào giành độc lập của riêng họ. | |||
|} | |||
===Abdul Aziz=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Trọng lượng | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đế quốc Ottoman|ĐẾ CHẾ OTTOMAN]]<br>(1299 - 1922) <hr> [[Nhà Osman]]}}'''||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of the Ottoman Empire (1844–1922).svg|center|134px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of the Ottoman Empire (1882–1922).svg|center|72px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Abdul Aziz|Hoàng đế Abdul Aziz]] <br>(1861 - 1876)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị hoàng đế thứ 32 của Ottoman}} | |||
|- | |||
| [[File:20 kurus Abdulaziz 1862.png|center|700px]]<hr>{{center|'''20 kurus [[Abdul Aziz]]_[[Constantinople]] - 1862<hr>163 năm (2025)'''}}||{{center|[[Tập tin:Abdulaziz.jpg|120px]] <br>1861 - 1874<hr>[[XF]]}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[37,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[83,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[24,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[19,92 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[3.106.000]]<hr>1.500.000<br>[[(64,38$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
===Abdul Hamid II=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đế quốc Ottoman|ĐẾ CHẾ OTTOMAN]]<br>(1299 - 1922) <hr> [[Nhà Osman]]}}'''||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of the Ottoman Empire (1844–1922).svg|center|134px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of the Ottoman Empire (1882–1922).svg|center|72px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Abdul Hamid II|Hoàng đế Abdul Hamid II]] <br>(1876 - 1909)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị hoàng đế thứ 34 của Ottoman}} | |||
|- | |||
| [[File:20 kurus Abdul Hamid II - 1877.png|center|700px]]<hr>{{center|'''20 kurus [[Abdul Hamid II]]_[[Constantinople]] - 1877<hr>148 năm (2025)'''}}||{{center|[[Tập tin:Ahamid.jpg|120px]]<br>1876 - 1878<hr>[[XF]]}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[37,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[83,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[24,5 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[20,335 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[1.357.000]]<hr>1.200.000<br>[[(51,50$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
===Mehmed V=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đế quốc Ottoman|ĐẾ CHẾ OTTOMAN]]<br>(1299 - 1922) <hr> [[Nhà Osman]]}}'''||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of the Ottoman Empire (1844–1922).svg|center|134px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of the Ottoman Empire (1882–1922).svg|center|72px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Mehmed V|Hoàng đế Mehmed V]] <br>(1909 - 1918)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị hoàng đế thứ 35 của Ottoman}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:20 kurus Mehmed V - 1916.png|center|700px]]<hr>{{center|'''20 kurus [[Mehmed V]]_[[Constantinople]] - 1916<hr>109 năm (2025)'''}}||{{center|[[Tập tin:MehmedV.jpg|120px]]<br>'''1816 - 1918<hr>[[AU]]}}''' || {{center|'''Đường kính'''<br>[[37,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[83,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[24,055 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[19,96565 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[713.000]]<hr>1.200.000<br>[[(51,50$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:20 kurus Mehmed V - 1918.png|center|700px]]<hr>{{center|'''20 kurus [[Mehmed V]]_[[Constantinople]] - 1918<hr>107 năm (2025)'''}}||{{center|[[Tập tin:MehmedV.jpg|120px]]<br>'''1816 - 1918<hr>[[MS|UNC]]}}''' || {{center|'''Đường kính'''<br>[[37,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[83,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[24,055 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[19,96565 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[11.025.000]]<hr>1.600.000<hr>[[(68,67$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==🟪 TRIPOLITANIA THUỘC OTTOMAN== | |||
===Abdul Hamid I=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đế quốc Ottoman|ĐẾ CHẾ OTTOMAN]] <hr> [[Tripolitania thuộc Ottoman]]<br>(1551-1912)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Tripoli 18th century.svg|center|132px]]}}||colspan="1"|{{center|[[Tập tin:Coat of arms of Tripoli 18th century.svg|center|75px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Abdul Hamid I|Hoàng đế Abdul Hamid I]] <br>(1774 - 1789)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị hoàng đế thứ 27 của Ottoman}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 Piastre of Ottoman Tripolitania, Abdul Hamid I 1773.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 Piastre [[Abdul Hamid I]] 1773<hr>252 năm (2025)'''}}||{{center|[[Tập tin:Portrait of Abdülhamid I of the Ottoman Empire.jpg|120px]]<br>1773 <hr>'''[[AU]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[40,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[?%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[18,75 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[?gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[?]]<hr>2.293.000<br>[[(96,75$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==🟪 ALGÉRIE THUỘC OTTOMAN== | |||
===Mahmud II=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đế quốc Ottoman|ĐẾ CHẾ OTTOMAN]] <hr> [[Algérie thuộc Ottoman]]<br>(1516-1830)}}'''||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Algiers.jpg|center|125px]]}}||colspan="1"|{{center|[[Tập tin:Emblem of the regency of Algiers (1708).svg|center|96px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Mahmud II|Hoàng đế Mahmud II]] <br>(1808 - 1839)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị Sultan thứ 30 của Đế chế Ottoman}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:2 Budju of Ottoman Algeria - Mahmud II 1823.png|center|700px]]<hr>{{center|'''2 Budju - [[Mahmud II]] 1823<hr>202 năm (2025)'''}}||{{center|[[Tập tin:MahmutII.jpg|120px]]<br>1821-1829 <hr>'''[[AU]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[38,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[85,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[20,3 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[17,255 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[31%]]<hr>3.600.000<br>[[(151,90$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==📕 VƯƠNG QUỐC ANH== | |||
===George III=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Vương quốc Liên hiệp Anh và Ireland|VƯƠNG QUỐC LIÊN HIỆP ANH VÀ IRELAND]] <br> (1801 - 1922)<hr>[[Vương tộc Hannover|Triều đại Hannover]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of the United Kingdom.svg|center|145px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of Arms of the United Kingdom in Scotland (1837-1952).svg|center|80px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[George III của Anh|Vua George III]]<br> (1760 - 1820)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị quân chủ thứ 3 đến từ Nhà Hannover}} | |||
|- | |||
| [[File:1 crown George III 1820XF.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 crown [[George III của Anh|George III]] - 1820<hr>205 năm (2025)'''}} ||{{center|[[File:Sir Thomas Lawrence (1769-1830) - George III (1738-1820) - RCIN 402405 - Royal Collection.jpg|120px]]<br>1818 - 1820<hr>'''[[XF]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[37,6 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[92,5%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[28,28 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[26,159 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[448.200]]<hr>3.944.000 <br>[[(169,27$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:LightCoral;"|NHỮNG THÔNG TIN ĐẶC BIỆT LIÊN QUAN | |||
|- | |||
|style="background:LemonChiffon;"| | |||
* Ông là vị vua thứ 3 của Vương quốc Anh đến thừ [[Nhà Hannover]], ông trị vì từ năm 1760 - 1820, triều đại kéo dài trong 59 năm, 96 ngày và sống thọ 81 tuổi. Từ năm 1810 cho đến khi qua đời vào năm 1820, bệnh tâm thần của ông tái phát nên vương quốc được cai trị bởi con trai ông là [[George IV của Anh|Vương tử George, Thân vương xứ Wales]] với vai trò là [[nhiếp chính vương]]. Năm 1814, [[Đại hội Viên]] trao trả [[Tuyển hầu xứ Hannover]] lại cho George III và nâng nó thành [[Vương quốc Hannover]], nhưng lúc này ông đã bị tâm thần nên sẽ không ý thức được rằng mình có thêm một vương miện.<hr> | |||
* <span style="background: #FFCCCC;">Ông là cha của 3 vị vua</span>, trong đó, con trường của ông thừa kế ngai vàng Vương quốc Anh với vương hiệu <span style="background: #DDFDDD;">[[George IV của Anh|George IV]] (1820-1830)</span>, George IV qua đời mà không có người thừa tự nên ngai vàng để lại cho em trai là <span style="background: #DDFDDD;">[[William IV của Anh|Vương tử William, Công tước xứ Clarence và St. Andrews]] (1830-1837) với vương hiệu William IV</span>, con trai thứ 3 của George III. Vua William IV qua đời mà không có con cái hợp pháp nên ngai vàng để lại cho cháu gái [[Nữ hoàng Victoria|Victoria, Nữ công tước xứ Kent và Strathearn]], con gái của [[Vương tử Edward, Công tước xứ Kent và Strathearn]], con trai thứ thứ 4 của George III, theo [[Luật Salic|luật bán Salic]] thì nữ không được thừa kế ngai vàng Hannover nếu vẫn còn hậu duệ nam, vì thế ngài vàng Hannover đã được để lại cho người con trai thứ 5 của George III là <span style="background: #DDFDDD;">[[Ernst August của Hannover|Vương tử Ernst August, Công tước xứ Cumberland và Teviotdale]] (1837-1851) với vương hiệu Ernst August I</span>. Người con trai út của George III là <span style="background: #DDFDDD;">[[Vương tử Adolphus, Công tước xứ Cambridge]]</span> là Phó vương của Hannover từ năm 1816 đến năm 1837.<hr> | |||
* <span style="background: #FFCCCC;">Con trai út của George III là [[Vương tử Adolphus, Công tước xứ Cambridge]]</span> là con trai của một vị vua và là em trai của 3 vị vua khác, bao gồm [[George IV của Anh]], [[William IV của Anh]] và [[Ernst August của Hannover]]. Thông qua con gái mình là [[Mary Adelaide xứ Cambridge]], ông trở thành ông cố ngoại của 2 vị vua là [[Edward VIII của Anh]] và [[George VI của Anh]]. Thông qua con gái [[Augusta xứ Cambridge]] ông là ông nội của [[Adolf Friedrich VI]], [[Đại công quốc Mecklenburg-Strelitz|Đại công tước cuối cùng của xứ Mecklenburg-Strelitz]].<hr> | |||
* Ông là con trai của [[Frederick, Thân vương xứ Wales]] và [[Augusta xứ Sachsen-Gotha-Altenburg]], vì thế ông là cháu nội của [[George II của Anh]] và gọi <span style="background: #DDFDDD;">[[Friedrich III xứ Sachsen-Gotha-Altenburg]]</span> là cậu.<hr> | |||
* Ông kết hôn với [[Charlotte xứ Mecklenburg-Strelitz]] và có với nhau 15 người con, trong đó có 13 người sống đến tuổi trưởng thành.<hr> | |||
* Đầu triều đại George III, nước Anh đánh bại Vương quốc Pháp của [[Louis XV của Pháp|Vua Louis XV]] trong [[Chiến tranh Bảy Năm]] (1756-1763) và vươn lên địa vị đế quốc ở châu Âu nắm quyền thống trị Bắc Mỹ và Ấn Độ. Tuy nhiên, sau [[Chiến tranh Cách mạng Mỹ]] (1775-1783) [[Mười ba thuộc địa]] ly khai và trở thành [[Hoa Kỳ|Hợp chủng quốc Hoa Kỳ]] dưới sự giúp sức của Pháp dưới triều đại [[Louis XVI của Pháp|Vua Louis XVI]]. Sau đó quân Anh tham gia cuộc chiến chống lại [[Cách mạng Pháp]] và [[Đệ Nhất Đế chế Pháp]] của Hoàng đế [[Napoléon I]] từ năm 1793 cho đến thất bại của Napoléon tại [[trận Waterloo]] năm 1815.<hr> | |||
* Ông là vị vua đầu tiên đến từ Nhà Hannover sinh ra tại Anh và nói tiếng Anh như tiếng mẹ đẻ và chưa bao giờ đến thăm Hannover. Trong suốt triều đại của mình, ông sở hữu các tước vị như sau: Vua của Vương quốc Anh và Ireland (1760-1801), Vua của Liên hiệp Anh và Ireland (1801-1820), Tuyển hầu xứ Hannover (1760-1814) và Vua của Hannover (1814-1820). | |||
* George III và <span style="background: #FFCCCC;">[[Wilhelm I, Tuyển hầu xứ Hessen]]</span> (1785 - 1821) là anh em họ đời đầu của nhau, vì cha của George III là [[Frederick, Thân vương xứ Wales]] và mẹ của Wilhelm I, [[Mary của Đại Anh]] là anh em ruột của nhau. Wilhelm giữ tước hiệu [[Bá quốc Hessen-Kassel|Bá tước xứ Hessen-Kassel]] với phong hiệu là Wilhelm IX, năm 1803 ông được Hoàng đế Napoleon I nâng lên làm [[Tuyển hầu xứ Hessen]] với phong hiệu Wilhelm I. Ông đã thuê <span style="background: #FFCCCC;">[[Mayer Amschel Rothschild]]</span> làm "Hoffaktor" vào năm 1769, để giám sát hoạt động của các điền trang và việc thu thuế của mình. Sự giàu có của điền trang Wilhelm đã mở đầu cho sự hình thành Đế chế tài chính của [[Gia tộc Rothschild]].<hr> | |||
* Năm 1801, khi Vương quốc Anh và Ireland được hợp nhất, ông từ bỏ danh xưng vua của Pháp, vốn được người Anh tuyên bố chủ quyền từ thời vua [[Edward III của Anh]] vào thời Trung cổ. Kể từ đó, Vua của Anh từ bỏ xưng hiệu là vua của Pháp, nhưng vẫn giữ lại tước hiệu [[Công tước xứ Normandie]], đây là tước hiệu được sử dụng cho dù quân chủ Anh là Vua hay Nữ vương. | |||
|} | |||
===George IV=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Vương quốc Liên hiệp Anh và Ireland|VƯƠNG QUỐC LIÊN HIỆP ANH VÀ IRELAND]] <br> (1801 - 1922)<hr>[[Vương tộc Hannover|Triều đại Hannover]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of the United Kingdom.svg|center|145px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of Arms of the United Kingdom in Scotland (1837-1952).svg|center|80px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[George IV của Anh|Vua George IV]] <br>(1820 - 1830)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị quân chủ thứ 4 đến từ Nhà Hannover}} | |||
|- | |||
| [[File:1 Crown - George IV 1st portrait 1822.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 crown [[George IV của Anh|George IV]] - 1822<hr>203 năm (2025)'''}} ||{{center|[[File:King George IV of the United Kingdom in Coronation Robes (by Thomas Lawrence) - Royal Collection (RCIN 405918).jpg|120px]]<br>1821 - 1822<hr>'''[[XF]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[37,6 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[92,5%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[28,28 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[26,159 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[125.000]]<hr>2.950.000 <br>[[(125,53$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
===Victoria=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Trọng lượng | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Vương quốc Liên hiệp Anh và Ireland|VƯƠNG QUỐC LIÊN HIỆP ANH VÀ IRELAND]] <br> (1801 - 1922)<hr>[[Vương tộc Hannover|Triều đại Hannover]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of the United Kingdom.svg|center|145px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of Arms of the United Kingdom in Scotland (1837-1952).svg|center|80px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Victoria của Anh|Nữ hoàng Victoria]] <br>(1837 - 1901)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị quân chủ thứ 6 và cuối cùng đến tư Nhà Hannover}} | |||
|- | |||
| [[File:2 florin Victoria - 1887MS.png|center|700px]]<hr>{{center|'''2 florin [[Victoria của Anh|Victoria của Anh]] - 1887<hr>138 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Queen Victoria 1859.jpg|120px]]<br>'''1887 - 1890<hr>[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[36,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[92,5%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[22,62 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[20,9235 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[483.300]]<hr>2.040.000<br>[[(88,31$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|- | |||
| [[File:1 Crown Victoria of UK 1893.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 crown [[Victoria của Anh|Victoria của Anh]] [[3rd]] - 1893<hr>132 năm (2025)'''}} ||{{center|[[File:Queen Victoria 1859.jpg|120px]]<br>1893 - 1900<hr>'''[[AU]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[38,61 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[92,5%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[28,28 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[26,159 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[497.800]]<hr>2.050.000<br>[[(88,75$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
<span style="background: #FFCCCC;">'''Gia tộc Rothschild tại Anh''': Năm 1838, Nữ hoàng Victoria cho phép người nhà Rothschild ở Anh sử dụng tước '''Freiherr von Rothschild''' của Hoàng đế Áo trao vào năm 1822; Năm 1847, Nữ hoàng phong cho [[Anthony de Rothschild, Tòng Nam tước thứ nhất|Anthony de Rothschild]] danh hiệu [[Tòng nam tước]]; Năm 1885, Nữ hoàng phong cho [[Nathan Rothschild, Nam tước Rothschild thứ nhất|Nathan Rothschild]] tước hiệu [[Nam tước Rothschild]] và tước này vẫn được thừa tự bởi hậu duệ của ông cho đến tận ngày nay, đã là Nam tước đời thứ 5</span> | |||
* Năm 1817, [[Franz II của Thánh chế La Mã|Hoàng đế Franz I của Áo]] mới phong tước hiệu cho [[Mayer Amschel Rothschild]] (1744 - 1812), lúc đó ông ấy đã mất được 5 năm.<hr> | |||
* Năm 1822, Hoàng đế Franz I của Áo đã phong cho 5 người con trai của [[Mayer Amschel Rothschild]], người khởi đầu đế chế tài chính ngân hàng của [[Gia tộc Rothschild]] tước vị '''''Freiherr von Rothschild''''' (Nam tước Rothschild), 5 người con gồm có: | |||
**Con trai cả [[Amschel Mayer Rothschild]], đứng đầu ngân hàng M. A. Rothschild & Söhne tại Frankfurt. | |||
**Con trai thứ 2 [[Salomon Mayer von Rothschild]], sáng lập ra chi nhánh Áo của gia tộc. | |||
**Con trai thứ 3 [[Nathan Mayer Rothschild]], người sáng lập chi nhánh Anh của gia tộc, nổi tiếng vì đã thắng lớn trong việc thao túng thị trường trái phiếu Anh sau [[trận Waterloo]]. | |||
**Con trai thứ 4 [[Carl Mayer von Rothschild]], người lập ra chi nhánh ở Hai Sicilia, Ý của gia tộc. | |||
**Con trai thứ 5 [[James Mayer de Rothschild]], người lập ra chi nhánh Pháp của gia tộc.<hr> | |||
*[[Nathan Mayer Rothschild]] người mở đầu chi nhánh ở Anh không yêu cầu Vương quốc Anh công nhận tước hiệu Nam tước của Đế chế Áo trao cho mình. Năm 1838, hai năm sau khi ông qua đời, '''[[Nữ hoàng Victoria]]''' đã cho phép sử dụng tước hiệu này ở Vương quốc Anh và người con cả của ông là [[Lionel de Rothschild]] được thừa kế tước hiệu. <span style="background: #FFCCCC;">''[[Hành động này của Nathan đã chứng minh rằng, ông ấy không tham quyền lực quý tộc, vì ông tin rằng, việc nắm được tiền có thể chi phối bất cứ quyền lực chính trị hay nhà nước nào]]''</span><hr> | |||
*Năm 1847, con trai thứ 2 của [[Nathan Mayer Rothschild]] là [[Anthony de Rothschild, Tòng Nam tước thứ nhất|Anthony de Rothschild]] đã được '''Nữ hoàng Victoria''' phong [[Tòng nam tước]], vì ông này qua đời mà không để lại hậu duệ nam nên tước vị được để lại cho cháu trai của ông là <span style="background: #DDFDDD;">[[Nathan Rothschild, Nam tước Rothschild thứ nhất|Nathan Rothschild]]</span> là con của [[Lionel de Rothschild]] (con trưởng của Nathan Mayer Rothschild). Năm 1885, Nathan Rothschild được '''Nữ hoàng Victoria''' trao tước hiệu [[Nam tước Rothschild]] xứ [[Tring]] trong [[Hertfordshire|Hạt Hertfotd]] thuộc [[Đẳng cấp quý tộc Vương quốc Liên hiệp Anh]], đồng thời, ông cũng kế thừa tước Freiherr (Nam tước) của Đế chế Áo từ cha mình. Khi sở hữu tước hiệu Nam tước Anh, Nathan Rothschild trở thành thượng nghị sĩ trong [[Viện Quý tộc]] và là thành viên Do Thái đầu tiên trong viện này không cải sang Ki-tô giáo. Ông giữ chức Lord Lieutenant xứ Buckinghamshire từ năm 1889 đến 1915 trải qua 3 đời quân chủ của Vương quốc Anh: Victoria, Edward VII và George V. | |||
===Edward VII=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Vương quốc Liên hiệp Anh và Ireland|VƯƠNG QUỐC LIÊN HIỆP ANH VÀ IRELAND]] <br> (1801 - 1922)<hr>[[Vương tộc Sachsen-Coburg và Gotha|Triều đại Sachsen-Coburg và Gotha]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of the United Kingdom.svg|center|145px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of Arms of the United Kingdom in Scotland (1837-1952).svg|center|80px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Edward VII của Anh|Vua Edward VII]]<br> (1901 - 1910)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị quân chủ đầu tiên đến từ Nhà Sachsen-Coburg và Gotha}} | |||
|- | |||
| [[File:1 Crown Edward VII of England 1902.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 Crown [[Edward VII của Anh|Edward VII]] - 1902<hr>123 năm (2025)'''}} ||{{center|[[File:Edward VII in coronation robes (2).jpg|120px]]<br>1902<hr>'''[[AU]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[38,61 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[92,5%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[28,28 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[26,159 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[256.000]]<hr>4.000.000 <br>[[(163,6$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
* Sau cái chết của người bác ruột là [[Ernst II xứ Sachsen-Coburg và Gotha]] không có con trai thừa kế nên ngai vàng của công quốc này sẽ được thừa kế bởi Edward VII, nhưng ông đã từ chối và để quyền thừa kế lại cho em trai mình là [[Alfred xứ Sachsen‑Coburg và Gotha|Vương tử Alfred]]. Nếu Edward VII thừa kế Sachsen-Coburg và Gotha thì ông sẽ phải cai trị nó với Anh dưới hình thức [[liên minh cá nhân]]. | |||
* Khi Alfred qua đời cũng không có con trai thừa kế, ngai vàng của công quốc lại để lại cho người cháu trai là [[Carl Eduard xứ Sachsen-Coburg và Gotha|Charles Edward]], con trai của [[Vương tử Leopold, Công tước xứ Albany]], là em trai úc của Edwad VII và Alfred. Charles Edward trở thành công tước cuối cùng của xứ Sachsen-Coburg và Gotha, sau đó ông gia nhập Đảng quốc xã và trở thành một chính trị gia ở Đức quốc xã. | |||
===George V=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland|VƯƠNG QUỐC LIÊN HIỆP ANH VÀ BẮC IRELAND]] <br> (1922 - Nay) <hr> [[Vương tộc Sachsen-Coburg và Gotha|Triều đại Sachsen-Coburg và Gotha]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of the United Kingdom.svg|center|165px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of Arms of the United Kingdom in Scotland (1837-1952).svg|center|90px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[George V của Anh|Vua George V]]<br> (1910 - 1936)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị quân chủ thứ 2 đến từ Nhà Sachsen-Coburg và Gotha}} | |||
|- | |||
| [[File:1 Crown George V of UK 1935.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 crown_[[George V của Anh|Kỷ niệm 25 năm ngày lên ngôi của Vua George V]] - 1935<hr>90 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:George V of the united Kingdom (cropped).jpg|120px]]<br>'''1935<hr>[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[38,61 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[50%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[28,28 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[14,14 gr]] <hr>'''Số lượng'''<br>[[14.700]]<hr>1.600.000<br>[[(68,67$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
George V là con trai thứ 2 của vua Edward VII, anh trưởng của ông là [[Albert Victor, Công tước xứ Clarence và Avondale]] qua đời ở tuổi 28 vì viêm phổ nên ngai vàng mới đến tay của ông.<hr> | |||
Vợ của George V là [[Mary xứ Teck]], bà là con gái của [[Mary Adelaide xứ Cambridge]], em họ đời đầu của bà ngoại ông [[Nữ hoàng Victoria]], lúc đầu, Mary được Nữ hoàng Victoria chọn cho người anh trưởng Albert Victor, nhưng vì người này đột ngột qua đời nên nữ hoàng mới thuyết phục ông lấy Mary.<hr> | |||
Cha vợ của ông là [[Francis, Công tước xứ Teck]] là một thành viên hoàng thất của Vương quốc Wurttemberg, nhưng lại không được quyền thừa kế và tước phong hoàng gia, vì ông là một sản phẩm của [[quý tiện kết hôn]]. Trước khi ông lấy vợ được 3 năm thì mới được người họ hàng là vua [[Wilhelm I của Württemberg]] phong làm Thân vương xứ Teck vào năm 1863, đến năm 1871 vua [[Karl I của Württemberg]] nâng ông lên làm [[Công tước xứ Teck]].<hr> | |||
[[Mary Adelaide xứ Cambridge]] là mẹ vợ của George V, nhưng vừa là bà ngoại họ, vì Mary Adelaide là em họ đời đầu của Nữ hoàng Victoria. Bà Mary Adelaide ngoài 30 tuổi mà vẫn chưa có chồng vì thân hình của bà bị béo phì, thời đó bà được mệnh danh là "Fat Mary", thương em họ nên Nữ hoàng mới cố gắng đứng ra tìm người và nhấm đến Francis, dù ông này không phải là thân vương hoàng gia dù được sinh ra bởi một nhân vật hoàng gia. | |||
Năm 1919, [[Dagmar của Đan Mạch|Thái hậu Maria Feodorovna]], vợ của Sa hoàng Alexander III và mẹ của Nicholas II, đã trốn thoát khỏi nước Nga cách mạng trên tàu [[HMS Marlborough (1912)|HMS Marlborough]], do cháu trai bà, Vua [[George V của Anh]], cử đến để giải cứu bà, theo sự thúc giục của chính mẹ mình là [[Alexandra của Đan Mạch|Thái hậu Alexandra]], chị gái của Maria. Trước đó, cả gia đình hoàng gia, bao gồm con trai Nikolas II và các cháu của bà đã bị sát hại. Sau một thời gian ở Anh, bà trở về quê hương Đan Mạch, đầu tiên sống tại Cung điện Amalienborg, với cháu trai của bà, [[Christian X của Đan Mạch|Vua Christian X]], và sau đó, tại Villa Hvidøre, bà qua đời vào năm 1928. | |||
===George VI=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland|VƯƠNG QUỐC LIÊN HIỆP ANH VÀ BẮC IRELAND]] <br> (1922 - Nay) <hr> [[Vương tộc Sachsen-Coburg và Gotha|Triều đại Sachsen-Coburg và Gotha]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of the United Kingdom.svg|center|155px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of Arms of the United Kingdom in Scotland (1837-1952).svg|center|90px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[George VI của Anh|Vua George VI]]<br>(1936 - 1952)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị quân chủ thứ 4 đến từ Nhà Sachsen-Coburg và Gotha}} | |||
|- | |||
| [[File:1 crown George VI of UK 1937.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 crown_[[George VI của Anh|Lễ đăng quang của Vua George VI]] - 1937<hr>88 năm (2025)'''}} ||{{center|[[File:King George VI crop (cropped).jpg|140px]]<br>'''1937<hr>[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[38,61 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[50%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[28,28 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[14,14 gr]] <hr>'''Số lượng'''<br>[[418.600]]<hr>1.200.000<br>[[(51,50$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==🔄 BRUNSWICK-WOLFENBUTTEL== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#ccf"|[[File:Coat of Arms of Brunswick-Lüneburg.svg|70px]] | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|TRIỀU ĐẠI WELF | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
[[Vương tộc Welf|Nhà Welf]] hay Guelf hoặc Guelph, là một triều đại ở châu Âu, bao gồm nhiều quân chủ cai trị các lãnh thổ đến từ [[Đế chế La Mã Thần thánh]] và [[Vương quốc Anh]] từ thế kỷ XI đến thế kỷ XX, Hoàng đế [[Ivan VI của Nga]] cũng đến từ vương tộc này. | |||
Nhà Welf (trẻ) có nguồn gốc từ [[Nhà Este]], một triều đại được biết đến ở Veneto và Lombardy trên [[Bán đảo Ý]] vào thế kỷ thứ IX-X, đôi khi được gọi là Welf-Este. Thành viên đầu tiên của gia tộc này là [[Welf I xứ Bayern|Welf I, Công tước xứ Bayern]] còn được gọi là Welf IV. Ông thừa kế tài sản của Nhà Welf (lớn) khi chú ruột của ông là [[Welf III xứ Carinthia|Welf III]], Công tước xứ Carinthia và Verona qua đời vào năm 1055 mà không để lại người thừa tự, dẫn đến sự tuyệt tự dòng nam của dòng này. | |||
* Welf IV là con trai của chị gái Welf III là [[Kunigunde xứ Altdorf]] và chồng bà là [[Albert Azzo II xứ Milan|Albert Azzo II, Phiên hầu xứ Milan]]. Năm 1070, Welf IV trở thành Công tước xứ Bayern. | |||
* [[Welf II xứ Bayern]] kết hôn với Nữ bá tước [[Matilda xứ Toscana]], người đã mất mà không có con và để lại cho ông tài sản của bà, bao gồm [[Toscana]], [[Ferrara]], [[Modena]], [[Mantua]] và [[Reggio]], đóng vai trò trong cuộc xung đột [[Tranh cãi việc bổ nhiệm giáo sĩ]]. Vì triều đại Welf đứng về phía [[Giáo hoàng]] trong cuộc tranh cãi này, những người ủng hộ Giáo hoàng được biết đến ở Ý là Guelphs (Guelfi). | |||
<hr> | |||
[[Heinrich IX xứ Bayern]] (1120-1126), là người đầu tiên trong ba công tước của triều đại Welf lấy tên là Heinrich. Vợ ông là [[Wulfhild xứ Sachsen]] là người thừa kế của nhà [[Billung]], sở hữu lãnh thổ xung quanh [[Lüneburg]] ở Hạ Sacshen. Con trai của họ là [[Heinrich Kiêu hãnh]], là con rể và người thừa kế của Hoàng đế [[Lothar III của Thánh chế La Mã]] và cũng trở thành [[Công quốc Sachsen|Công tước xứ Sachsen]] sau khi Lothar qua đời. | |||
* Lothar để lại lãnh thổ của mình xung quanh [[Braunschweig]], được thừa kế từ mẹ của ông thuộc Gia tộc [[Brunonids]], cho con gái ông là Gertrud. Chồng bà là Henry Kiêu hãnh sau đó trở thành ứng cử viên được ưa chuộng trong cuộc bầu cử hoàng gia chống lại [[Konrad III của Đức|Conrad III]] của [[Vương tộc Staufer]]. Heinrich đã thua cuộc bầu cử, vì các thân vương khác sợ quyền lực và tính khí của ông, và bị Conrad III tước đoạt các công quốc. | |||
* Em trai của Heinrich là [[Welf VI]] (1115–1191), Phiên hầu xứ Toscana, sau đó đã để lại vùng lãnh thổ Swabian của mình xung quanh Ravensburg, vốn là tài sản ban đầu của Nhà Welf (Lớn), cho cháu trai của mình là Hoàng đế [[Friedrich I của Thánh chế La Mã]], và do đó thuộc về [[Vương tộc Staufer]]. | |||
<hr> | |||
Công tước tiếp theo của triều đại Welf là '''[[Heinrich Sư tử]]''' (1129/1131–1195) đã giành lại hai công quốc của cha mình là Sachsen vào năm 1142 và Bayern vào năm 1156. Năm 1168, ông kết hôn với [[Matilda của Anh]] (1156–1189), con gái của [[Henry II của Anh]] và [[Aliénor xứ Aquitaine]], và là chị gái của [[Richard I của Anh]], ngày càng có nhiều ảnh hưởng hơn. | |||
* Người em họ đời đầu của ông là [[Friedrich I của Thánh chế La Mã]] của [[Vương tộc Staufer]], đã cố gắng hòa thuận với ông, nhưng khi Heinrich từ chối hỗ trợ ông một lần nữa trong chiến dịch ở Ý, xung đột trở nên không thể tránh khỏi. | |||
* Hoàng đế Friedrich I đã tước đoạt các công quốc của Heinrich Sư tử sau [[Trận Legnano]] năm 1176, ông ấy phải sống lưu vong tại triều đình của cha vợ Henry II ở Normandy vào 1180 và trở lại Thánh chế La Mã ba năm sau đó. | |||
* Heinrich Sư tử đã làm hòa với Hoàng đế Friedrich I vào năm 1185 và trở về vùng đất đã bị thu hẹp rất nhiều của mình xung quanh Brunswick mà không lấy lại được hai công quốc cũ. [[Công quốc Bayern]] đã được trao cho [[Otto I xứ Bayern|Otto I của Nhà Wittelsbach]], và [[Công quốc Sachsen]] đã được chia cho Tổng giám mục vương quyền Cologne, [[Nhà Ascania]] và những gia tộc khác. | |||
<hr> | |||
Con trai của Heinrich Sư tử là Otto xứ Brunswick, được bầu làm Vua của người La Mã và lên ngôi Hoàng đế La Mã Thần thánh với hiệu [[Otto IV của Thánh chế La Mã|Otto IV]] sau nhiều năm xung đột với các hoàng đế của [[Vương tộc Staufer]]. Ông đã phải chịu cơn thịnh nộ của [[Giáo hoàng Innôcentê III]] và bị [[Vạ tuyệt thông]] vào năm 1215. Otto bị [[Friedrich II của Thánh chế La Mã|Friedrich II của Nhà Staufer]] buộc phải thoái vị khỏi ngai vàng. '''''Ông là người Nhà Welf duy nhất trở thành [[Hoàng đế La Mã Thần thánh]]'''''. | |||
<hr> | |||
Các dòng cai trị của Nhà Welf: [[Otto I xứ Braunschweig-Lüneburg|Otto Trẻ]], cháu [[Heinrich Sư Tử]], đã được Hoàng đế [[Friedrich II của Thánh chế La Mã]] trao lại các lãnh thổ của gia tộc ông (khu vực phía Đông Hạ Sachsen và Bắc Sachsen-Anhalt ngày nay) vào ngày 21/08/1235, với tên gọi là [[Công quốc Braunschweig-Lüneburg]]. Công quốc này bị chia cắt vào năm 1267/1269 bởi các con trai của ông. | |||
* '''''[[Thân vương quốc Braunschweig-Wolfenbüttel|Dòng Braunschweig-Wolfenbüttel]] (1269-1815):''''' | |||
** [[Albrecht I xứ Brunswick-Lüneburg|Albrecht]] (1236 - 1279) được trao cho các vùng xung quanh [[Braunschweig]]-[[Wolfenbüttel]], [[Thân vương quốc Grubenhagen|Einbeck-Grubenhagen]] và [[Thân vương quốc Göttingen|Göttingen-Oberwald]]. Ông đã lập ra Dòng Braunschweig, đặt nền tảng cho sự ra đời của [[Thân vương quốc Braunschweig-Wolfenbüttel]]. | |||
** Sau lần phân chia thứ mười hai của công quốc vào năm 1495, theo đó Công quốc Brunswick-Calenberg-Göttingen được chia lại thành các vùng lãnh thổ thành phần, Công tước [[Heinrich xứ Brunswick-Lüneburg|Heinrich Trưởng lão]] được trao vùng đất Braunschweig, và Wolfenbüttel được thêm vào. Từ đó trở đi, tên của Thânh vương quốc trở thành "Braunschweig-Wolfenbüttel". | |||
** Năm 1815, [[Đại hội Viên]] nâng [[Thân vương quốc Braunschweig-Wolfenbüttel]] lên thành [[Công quốc Braunschweig]], năm 1884, Công tước [[Wilhelm xứ Brunswick]] qua đời mà không để lại người thừa kế, ngai vàng được nhường lại cho [[Ernst August xứ Braunschweig|Ernst August]] thuộc [[Vương tộc Hannover|Dòng Welf-Hannover]], cháu nội của cựu vương [[Georg V của Hannover]], người đã mất ngai vàng sau [[Chiến tranh Áo-Phổ]] năm 1866. Dòng Braunschweig-Wolfenbüttel chính thức tuyệt tự. | |||
* '''''[[Thân vương quốc Lüneburg|Dòng Lüneburg]] (1269-1705):''''' | |||
** Em trai của Albrecht là [[Johann xứ Brunswick-Lüneburg|Johann]] (1242 - 1277) thừa kế vùng đất xung quanh Lüneburg và lập ra Dòng Lüneburg. | |||
** Sau khi [[Wilhelm II xứ Lüneburg]] qua đời mà không có con trai thừa tự vào năm 1369, dòng Lüneburg đầu tiên đã tuyệt tự. Theo các quy tắc của Nhà Welf và mong muốn của Cựu công tước Wilhelm II thì Công tước [[Magnus II xứ Brunswick-Lüneburg]] sẽ là người thừa kế hợp pháp. Tuy nhiên Hoàng đế [[Karl V của Thánh chế La Mã]] xem lãnh thổ là một thái ấp của Đế chế và trao công quốc lại cho [[Albrecht xứ Sachsen-Wittenberg]] của [[Nhà Ascadia]], điều này đã gây ra [[Chiến tranh Kế vị Lüneburg]]. Năm 1388, sau Trận Winsen, người Nhà Ascadia mới từ bỏ yêu sách và người Nhà Welf đã giành lại được công quốc. | |||
** Sau cái chết của vị Công tước cuối cùng là [[Georg Wilhelm xứ Brunswick|Georg Wilhelm]] vào năm 1705. Người con gái duy nhất của ông là [[Sophie Dorothea xứ Celle]] đã kết hôn với người em họ đời đầu là [[George I của Anh|George Ludwig]] thuộc [[Vương tộc Hannover|Dòng Hannover]], con trai của [[Ernst August, Tuyển hầu tước xứ Hannover]], thống nhất toàn bộ lãnh thổ của Dòng Lüneburg. Năm 1701, George Ludwig thừa kế ngai vàng Vương quốc Anh thông qua mẹ mình và trở thành [[George I của Anh]]. | |||
* '''''[[Vương tộc Hannover|Chi nhánh Hannover]] (1635-1866):''''' | |||
** Georg xứ Brunswick là ông tổ của Nhà Hannover. Khi [[Công quốc Braunschweig-Lüneburg]] bị chia cắt vào năm 1635, Georg thừa kế [[Thân vương quốc Calenberg]] và chuyển nơi cư trú của mình đến [[Hannover]]. | |||
** Con trai của ông là [[Christian Ludwig xứ Brunswick-Lüneburg|Christian Ludwig]], thừa kế [[Thân vương quốc Lüneburg]] từ anh trai của Georg. Calenberg và Lüneburg sau đó được chia cho các con trai của Georg cho đến khi thống nhất vào năm 1705 dưới thời cháu trai của ông là George Ludwig, người sau này trở thành vua [[George I của Anh]]. | |||
** [[Ernst August, Tuyển hầu tước xứ Hannover|Ernst August]], con trai thứ 4 của Georg, Thân vương xứ Calenberg (1679–1698). Ông kế thừa Calenberg sau cái chết của anh trai mình là [[Johann Friedrich xứ Brunswick|Johann Friedrich]]. Ông được phong làm [[Tuyển đế hầu]] của [[Đế chế La Mã Thần thánh]] vào năm 1692, đưa lãnh thổ của gia tộc thành [[Tuyển hầu xứ Hannover]]. | |||
** Vợ của Ernst August là [[Sophie xứ Pfalz]], được tuyên bố là người thừa kế ngai vàng của Anh theo [[Đạo luật Kế vị 1701]], theo đó những người Công giáo La Mã không được lên ngôi. Vào thời điểm đó, Sophia là hậu duệ theo đạo Tin Lành đủ điều kiện cao cấp nhất của [[James I của Anh]]. | |||
** [[George I của Anh|George Ludwig]], con trai của Ernst August là [[Sophie xứ Pfalz]], trở thành [[Tuyển hầu xứ Hannover]] và Thân vương xứ Calenberg vào năm 1698 và Thân vương xứ Lüneburg khi chú của ông (cũng là cha vợ), [[Georg Wilhelm xứ Brunswick|Georg Wilhelm]] qua đời vào năm 1705. Ông thừa kế quyền kế vị ngai vàng của Vương quốc Anh từ mẹ mình khi bà qua đời vào năm 1714. | |||
** George Ludwig trở thành vua của Vương quốc Anh vào năm 1714, bắt đầu cai trị liên minh cá nhân với Hannover. Triều đại này đã sản sinh ra 6 vị quân chủ Anh, gồm có [[George I của Anh]], [[George II của Anh]], [[George III của Anh]], [[George IV của Anh]], [[William IV của Anh]] và [[Victoria của Anh]]. | |||
** Năm 1815, [[Đại hội Viên]] đã nâng [[Tuyển hầu xứ Hannover]] thành [[Vương quốc Hannover]], các vua Anh vẫn tiếp tục cai trị Hannover dưới hình thức liên minh cá nhân cho đến năm 1837, khi Nữ vương [[Victoria của Anh]] lên ngôi kế vị người bác của mình là William IV. Ngai vàng Hannover thực hiện quyền kế vị theo Luật Salic nên đã phải để lại cho người chú của Victoria là [[Ernst August I của Hannover|Vương tử Ernest August]], [[Công tước xứ Cumberland và Teviotdale]]. Con trai của ông là [[Georg V của Hannover]] đã bị [[Vương quốc Phổ]] truất phế khỏi ngai vàng vì ở phe của Đế quốc Áo trong [[Chiến tranh Áo-Phổ]] năm 1866. Từ đó, Nhà Welf ở Đức chỉ còn lại duy nhất một ngai vàng, đó là [[Công quốc Braunschweig]], tiền thân của nó là [[Thân vương quốc Braunschweig-Wolfenbüttel]] của dòng Braunschweig-Wolfenbüttel. Cháu nội của Vua Georg V là [[Ernst August xứ Braunschweig|Ernst August]] đã được thừa kế khi vị công tước cuối cùng của nó là [[Wilhelm xứ Brunswick]] qua đời không để lại người kế vị vào năm 1884. | |||
** Victoria là người cuối cùng thuộc Nhà Hannover trị vì nước Anh, con trai của bà là [[Edward VII của Anh|Edward VII]] đến từ [[Vương tộc Sachsen-Coburg và Gotha]]. | |||
|} | |||
===Karl I=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đế chế La Mã Thần thánh|ĐẾ CHẾ LA MÃ THẦN THÁNH]]<hr>[[Công quốc Brunswick-Wolfenbüttel|Thân vương quốc Brunswick-Wolfenbüttel]] <br> (1269 - 1815)'''}}||colspan="2"| {{center|[[File:Blason duché ni Brunswick.svg|center|77px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Karl I xứ Braunschweig-Wolfenbüttel|Thân vương Karl I]]<br> (1735 - 1780)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Thân vương đời thứ 2 đến từ dòng Braunschweig-Bevern}} | |||
|- | |||
| [[File:1 thaler Karl I of Brunswick - 1765.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 thaler [[Karl I xứ Braunschweig-Wolfenbüttel|Karl I]] - 1765<hr>260 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:After Ziesenis - Charles I, Duke of Brunswick-Wolfenbüttel.png|110px]]<br>'''1763 - 1766<hr>[[AU]]'''}}|| {{center|'''Đường kính'''<br>[[38,63 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[83,3%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,89 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[23,23237 gr]] <hr>'''Số lượng'''<br>[[?]]<hr>4.000.000<br>[[(179,37$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#fbd"|KARL I | |||
|- | |||
|style="background:LemonChiffon;"| | |||
Karl I là vị Thân vương thứ 24 của Brunswick-Wolfebuttel và là Thân vương thứ 2 thuộc nhánh Brunswick-Bevern của [[Nhà Welf]].<hr> | |||
Cha của ông là Ferdinand Albert, con trai thứ 4 của Ferdinand Albert I, Công tước xứ Brunswick-Lüneburg. Cha của ông chiến đấu bên phe của Hoàng đế Leopold trong Chiến tranh Kế vị Tây Ban Nha. Trong chiến tranh Áo-Thổ năm 1716-1718, ông chiến đấu dưới quyền của Thân vương Eugene xứ Savoy. Sau cái chết của người anh họ và cha vợ Louis Rudolph vào tháng 03/1735, Ferdinand Albert thừa kế Thân vương quốc Brunswick-Wolfenbüttel và từ chức thống chế, nhưng chỉ 6 tháng sau đó ông mất, nên ngôi vị được nhường lại cho con trai Kart I.<hr> | |||
Ông nội của ông là Ferdinand Albert I, là con trai thứ 4 của Công tước Augustus, Thân vương xứ Brunswick-Wolfenbüttel với cuộc hôn nhân thứ 3 với Nữ công tước Elisabeth Sophie xứ Mecklenburg. Sau khi cha chết, cuộc tranh chấp vương vị diễn ra, Albert được cấp cho lãnh thổ Bevern lập ra Thân vương quốc Brunswick-Wolfenbüttel-Bevern. Khi cha của ông là Albert II thừa kế Thân vương quốc Brunswick-Wolfenbüttel từ cha vợ của mình thì Bevern được trả về lại đất cũ.<hr> | |||
Khi Cách mạng Mỹ nổ ra vào năm 1775, Thân vương Karl đã nhìn thấy mối lợi tài chính lớn nếu cho Vương quốc Anh thuê quân đội của mình. Năm 1776, Carl ký một hiệp ước với người anh họ là vua George III của Anh để cung cấp lính đánh thuê phục vụ cho quân đội Anh ở thuộc địa Bắc Mỹ. Nhưng 4.000 lính Brunswick đã bị bắt làm từ binh sau Trận Saratoga (1777) và đến khi chiến tranh kết thúc vào năm 1783 thì tù binh mới được trả về nước. <hr> | |||
Lorenz Heister của Đại học Helmstedt đã lấy tên của ông đặt cho một chi thực vật mới mà ngày nay ta biết đến là Brunsvigia với khoảng 20 loài có nguồn gốc từ đông nam va nam châu Phi (từ Tanzania đến Cape Province của Nam Phi).<hr> | |||
Karl là ông nội của [[Caroline xứ Braunschweig-Wolfenbüttel]], vợ của vua [[George IV của Anh]].<hr> | |||
Con dâu của ông là [[Augusta của Đại Anh]], cháu nội của [[George II của Anh|Vua George II]] và chị gái của [[George III của Anh|Vua George III]].<hr> | |||
Thông qua em trai mình là [[Anthony Ulrich, Công tước xứ Brunswick]], Kar I trở thành anh chồng của [[Anna Leopoldovna (Elisabeth xứ Mecklenburg-Schwerin)|Anna Leopoldovna]] vì thế là bác ruột của tiểu Hoàng đế [[Ivan VI của Nga]]. Thông qua em gái [[Elisabeth Christine xứ Brunswick-Wolfenbüttel-Bevern|Elisabeth Christine]], ông trở thành anh vợ của vua Phổ [[Friedrich II của Phổ|Friedrich Đại đế]]. Thông qua em gái [[Luise xứ Brunswick-Wolfenbüttel]], ông trở thành bác của Vua [[Friedrich II của Phổ]]. Thông qua em gái [[Sophie Antoinette xứ Brunswick-Wolfenbüttel]], ông trở thành bác của [[Franz I xứ Sachsen-Coburg-Saalfeld]] (ông tổ của các vương tộc Sachsen-Coburg và Gotha; Sachsen-Coburg-Gotha-Kohary và Sachsen-Coburg-Gotha-Braganza - các vương tộc trị vì Vương quốc Bỉ, Anh, Bulgaria và Bồ Đào Nha). Thông qua em gái [[Juliana Maria xứ Brunswick-Wolfenbüttel]], ông trở thành anh vợ của [[Frederik V của Đan Mạch]]. | |||
|} | |||
==🔄 VƯƠNG QUỐC HANNOVER== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#ccf"|[[File:Royal Hanover Inescutcheon.svg|60px]] | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|TRIỀU ĐẠI HANNOVER | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
[[File:Map of the Kingdom of Hanover-fr.svg|thumb|250px|Vương quốc Hannover]] | |||
[[Vương tộc Hannover]] là một chi nhánh của [[Công quốc Braunschweig-Lüneburg|Dòng Lüneburg]] thuộc [[Nhà Welf]] và bản thân Welf lại là một chi dưới của [[Nhà Este]] có nguồn gốc từ miền Bắc [[Bán đảo Ý]]. [[Georg xứ Brunswick]] là ông tổ của Nhà Hannover, khi [[Công quốc Braunschweig-Lüneburg]] bị phân chia vào năm 1635, Georg thừa kế [[Thân vương quốc Calenberg]] và chuyển nơi cư trú của mình đến [[Hannover]], khai sinh ra triều đại Hannover.<hr> | |||
Con trai của ông là [[Christian Ludwig xứ Brunswick-Lüneburg|Christian Ludwig]], thừa kế [[Thân vương quốc Lüneburg]] từ người bác ruột [[Friedrich IV xứ Brunswick-Lüneburg|Friedrich IV]] (anh trai của Georg), sau khi ông này qua đời mà không có con vào năm 1648. Calenberg và Lüneburg sau đó được chia cho 4 người con trai của Georg cho đến khi thống nhất vào năm 1705 dưới thời cháu trai của ông là George Ludwig, người sau này trở thành vua [[George I của Anh]].<hr> | |||
[[Ernst August, Tuyển hầu tước xứ Hannover|Ernst August]], con trai thứ 4 của Georg. Ông kế thừa Calenberg sau cái chết của anh trai mình là [[Johann Friedrich xứ Brunswick|Johann Friedrich]]. Ông đã tham gia vào [[Đại chiến Thổ Nhĩ Kỳ]] bên phe của Hoàng đế [[Leopold I của Thánh chế La Mã]]. Năm 1692, ông được Hoàng đế trao phẩm giá [[Tuyển đế hầu]], do đó nâng lãnh thổ của ông lên Tuyển hầu xứ Hannover, quyết định này có hiệu lực vào năm 1708 khi được Đại hội Đế chế xác nhận. Dù đã qua đời vào năm 1698, ông vẫn được công nhận là vị Tuyển đế hầu đầu tiên của Nhà Hannover.<hr> | |||
Vợ của Ernst August là [[Sophie xứ Pfalz]] con gái của Tuyển đế hầu [[Friedrich V xứ Pfalz]] và [[Elizabeth Stuart, Vương hậu Bohemia|Vương nữ Elizabeth Stuart]] (con gái của Vua [[James I của Anh]]), được tuyên bố là người thừa kế ngai vàng của Anh theo [[Đạo luật Kế vị 1701]], theo đó những người Công giáo La Mã không được lên ngôi. Vào thời điểm đó, Sophia là hậu duệ theo đạo Tin Lành đủ điều kiện cao cấp nhất của [[James I của Anh]].<hr> | |||
[[George I của Anh|George Ludwig]], con trai của Ernst August và [[Sophie xứ Pfalz]], trở thành [[Tuyển hầu xứ Hannover]] và Thân vương xứ Calenberg vào năm 1698 và Thân vương xứ Lüneburg khi chú của ông (cũng là cha vợ), [[Georg Wilhelm xứ Brunswick|Georg Wilhelm]] qua đời vào năm 1705 mà không có người thừa kế nam. Ông thừa kế quyền kế vị ngai vàng của Vương quốc Anh từ mẹ mình khi bà qua đời vào năm 1714.<hr> | |||
George Ludwig trở thành vua của Vương quốc Anh vào năm 1714, bắt đầu cai trị Anh và Hannover dưới hình thức [[liên minh cá nhân]]. Triều đại này đã sản sinh ra 6 vị quân chủ Anh, gồm có [[George I của Anh]], [[George II của Anh]], [[George III của Anh]], [[George IV của Anh]], [[William IV của Anh]] và [[Victoria của Anh]].<hr> | |||
Năm 1815, [[Đại hội Viên]] đã nâng [[Tuyển hầu xứ Hannover]] thành [[Vương quốc Hannover]], các vua Anh vẫn tiếp tục cai trị Hannover dưới hình thức liên minh cá nhân cho đến năm 1837, khi [[Victoria của Anh|Vương tôn nữ Victoria]] lên ngôi kế vị người bác của mình là Vua William IV. Ngai vàng Hannover thực hiện quyền kế vị theo Luật Salic nên đã phải để lại cho người chú của Victoria là [[Ernst August I của Hannover|Vương tử Ernest August]], [[Công tước xứ Cumberland và Teviotdale]]. Con trai của ông là [[Georg V của Hannover]] đã bị [[Vương quốc Phổ]] truất phế khỏi ngai vàng vì ở phe của Đế quốc Áo trong [[Chiến tranh Áo-Phổ]] năm 1866. Từ đó, Nhà Welf ở Đức chỉ còn lại duy nhất một ngai vàng, đó là [[Công quốc Braunschweig]], tiền thân của nó là [[Thân vương quốc Braunschweig-Wolfenbüttel]] của dòng Braunschweig-Wolfenbüttel. Cháu nội của Vua Georg V là [[Ernst August xứ Braunschweig|Ernst August]] đã được thừa kế khi vị công tước cuối cùng của nó là [[Wilhelm xứ Brunswick]] qua đời không để lại người kế vị vào năm 1884.<hr> | |||
Victoria là người cuối cùng thuộc Nhà Hannover trị vì nước Anh, con trai của bà là [[Edward VII của Anh|Edward VII]] đến từ [[Vương tộc Sachsen-Coburg và Gotha]], theo họ cha. | |||
|} | |||
===Ernst August I=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Bang liên Đức|BANG LIÊN ĐỨC]]<hr>[[Vương quốc Hannover]] <br> (1814 - 1866)'''}}||colspan="1"|{{center|[[Tập tin:Flag of Hanover 1837-1866.svg|center|130px]]}}||colspan="1"| {{center|[[File:Coat of Arms of the Kingdom of Hanover.svg|center|90px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Ernst August I của Hannover|Vua Ernst August I]]<br> (1837 - 1851)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị vua thứ 4 và áp chót của Hannover}} | |||
|- | |||
| [[File:1 Thaler Ernst August of Hannover - 1847 A.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 Thaler [[Ernst August I của Hannover|Ernst August I]] - 1847 A<hr>178 năm (2025)'''}}||{{center|[[Tập tin:Ernst August von Hannover (1771-1851), by Edmund Koken.jpg|110px]]<br>'''1842 - 1849<hr>[[XF]]'''}}|| {{center|'''Đường kính'''<br>[[33,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[75,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[22,272 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[16,704 gr]] <hr>'''Số lượng'''<br>[[625.000]]<hr>1.550.000<br>[[(63,27$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#fbd"|ERNST AUGUST I | |||
|- | |||
|style="background:LemonChiffon;"| | |||
* Vào tháng 3 năm 1792, Vua [[George III của Anh]] đã bổ nhiệm Vương tử Ernest Augustus làm đại tá trong Trung đoàn Kỵ binh nhẹ Hannover số 9. Ông đã phục vụ ở các nhà nước [[Vùng đất thấp]] trong [[Chiến tranh Liên minh thứ nhất]], dưới quyền anh trai của mình là [[Vương tử Frederick, Công tước xứ York và Albany]], khi đó là chỉ huy của lực lượng liên minh Anh, Hannover và Áo. Tháng 8 năm 1793, ông đã bị thương do kiếm đâm vào đầu, dẫn đến một vết sẹo biến dạng trên mặt. Trong Trận Tourcoing ở miền bắc Pháp vào ngày 18 tháng 5 năm 1794, cánh tay trái của ông bị thương do một viên đạn đại bác bay qua gần ông. Trong những ngày sau trận chiến, thị lực ở mắt trái của ông mờ dần.<hr> | |||
* Năm 1815, ông đã kết hôn với [[Friederike xứ Mecklenburg-Strelitz]], người đã goá chồng 2 lần, mẹ của ông là Vương hậu [[Charlotte xứ Mecklenburg-Strelitz]] đã kịch liệt phản đối, dù Friederike là cháu gái ruột gọi bà bằng cô. Cho đến khi qua đời vào năm 1818 bà cũng không thừa nhận và tiếp kiến con dâu. Dù bị hoàng gia Anh ngăn cấm, nhưng cuộc hôn nhân của 2 người vẫn rất hạnh phúc cho đến phút cuối cùng. Bản thân anh trai ông là [[George IV của Anh|Vương tử George, Thân vương xứ Wales]] đã xem sự hiện diện của 2 vợ chồng ở Anh là điều đáng xấu hổ và muốn cho trợ cấp thêm tiền và tước thống đốc Hannover để họ rời khỏi Anh, nhưng bị từ chối.<hr> | |||
* Ernest là một người cực kỳ bảo thủ, từ ngày được phong [[Công tước xứ Cumberland và Teviotdale]], ông sở hữu một ghế trong [[Viện Quý tộc]], thì ông đã thể hiện tinh thần bảo thủ rất mạnh mẽ, vì thế ông không được người Đảng Whig và các phong trào giải phóng Công giáo ở Ireland ưa thích. Họ đã tạo và thổi phòng nhiều tin đồn để chống lại ông. Điển hình như vụ ngoại tình và cái chết của Lãnh chúa Graves với Sellis. Một người viết tiểu sử là Geoffrey Willis, chỉ ra rằng không có vụ bê bối nào liên quan đến Công tước trong suốt hơn một thập kỷ khi ông cư trú tại Đức; chỉ khi ông tuyên bố ý định trở về Anh thì "một chiến dịch tàn ác vô song" mới bắt đầu chống lại ông. Theo Bird, Ernest là người đàn ông không được lòng dân nhất ở Anh. Ernest có nhiều ảnh hưởng lên các quyết định của vua anh George IV, nhưng dưới triều của vua anh William IV thì ông dần bị đẩy ra khỏi triều đình, dù mối quan hệ giữa hai anh em ông vẫn rất tốt.<hr> | |||
* Ernest rất mong muốn cho con trai của mình là [[Georg V của Hannover|Vương tôn tử George]] kết hôn với cháu gái là Vương tôn nữ Victoria (Nữ hoàng Victoria tương lai), vì nếu điều này diễn ra thì cả 2 ngai vàng Anh và Hannover thống nhất dưới quyền cai trị của 1 vị quân chỉ Hannover chứ không bị chia đôi, nhưng điều này đã không thành hiện thực, vì Vương tôn tử George đã mù cả 2 mắt vào năm 13 tuổi. Từ giai đoạn này, Ernest đã hướng đến việc lên ngôi vua Hannover sau khi Victoria tiếp nhận ngai vàng Anh, vì theo luật Salic ở Đức thì nữ giới không được thừa kế ngai vàng, nếu trong vương tộc vẫn con nam giới. Các chính trị gia Đảng Whig cũng đã lan truyền đi tin đồn Ernest muốn ám hại cháu gái mình để chiếm cả 2 ngai vàng. <hr> | |||
* Sau khi vua [[William IV của Anh]] qua đời vào năm 1837, Ernst được thừa kế ngai vàng Hannover theo luật Salic. Những người tự do ở Hannover thì ủng hộ [[Vương tử Adolphus, Công tước xứ Cambridge]], người giữ chức Phó vương Hannover người thời 3 vị vua trước đó. Nhưng Vương tử Adolphus phản đối mọi hành động ủng hộ ông. <hr> | |||
* Sau khi lên ngôi, Ernst đã thực hiện 2 hành động làm xáo trộn nội chính của Hannover: (1) Giải tán Quốc hội Hannover; (2) Đình chỉ Hiến pháp được ban hành vào năm 1819 bởi Nhiếp chính vương George xứ Wales (sau này là vua [[George IV của Anh]]), lý do là bản hiến pháp chưa được hỏi ý kiến của ông. 7 Giáo sư của [[Đại học Göttingen]] trong đó có [[Anh em nhà Grimm]] đã phản đối điều này, vì thế 3/7 người đã bị trục xuất khỏi Hannover. Những hành động ban đầu này của nhà vua đã bị chỉ trích nhiều ở Anh và châu Âu.<hr> | |||
* Mặc dù khi còn là Công tước xứ Cumberland, nhà vua đã đấu tranh chống lại sự giải phóng Công giáo ở Anh và Ireland, nhưng ông không phản đối những người Công giáo phục vụ trong chính phủ ở Hannover và thậm chí còn đến thăm nhà thờ của họ. Ernst giải thích điều này bằng cách tuyên bố rằng không có lý do lịch sử nào để hạn chế người Công giáo ở Hannover, như đã từng xảy ra ở Vương quốc Anh. Tuy ông liên tục phản đối việc cho phép [[người Do Thái]] vào Quốc hội Anh, nhưng trao cho người Do Thái ở Hannover quyền bình đẳng này.<hr> | |||
* Trong [[Cách mạng 1848]], có các cuộc biểu tình bên ngoài cung điện của Nhà vua, Ernst đã cử Thủ tướng ra. Thủ tướng cảnh báo rằng, nếu những người biểu tình đưa ra bất kỳ yêu cầu không phù hợp nào đối với Nhà vua, Ernst sẽ thu dọn đồ đạc và rời đến Anh, đưa Thái tử đi cùng. Điều này sẽ khiến đất nước nằm trong tay của Phổ và chính tối hậu thư mang tính đe dọa này đã chấm dứt tình trạng kích động. Sau đó, Nhà vua đã ban hành một hiến pháp mới, có phần tự do hơn so với văn bản năm 1819.<hr> | |||
* Ngay sau khi Vua William IV qua đời, Ernest nghe từ Lãnh chúa xứ Lyndhurst rằng [[Charles Pepys, Bá tước thứ nhất xứ Cottenham|Lãnh chúa xứ Cottenham]] người đang giữ chức [[Đại Chưởng ấn]], đã tuyên bố rằng Công tước xứ Cumberland sẽ từ chối thực hiện Lời tuyên thệ trung thành với nữ vương Victorai, với tư cách là một quốc vương nước ngoài. Ngay sau đó Ernest vội vã xuất hiện tại Viện Quý tộc, trước khi khởi hành đến Hannover, và ký vào Lời tuyên thệ trước Chánh văn phòng như một vấn đề thường lệ. Ernest là người thừa kế hợp pháp của Nữ hoàng Victoria cho đến khi con gái của bà là [[Victoria, Vương nữ Vương thất|Vương nữ Victoria Adelaide]], chào đời vào tháng 11 năm 1840.<hr> | |||
* Vua Ernst và cháu gái mình là Nữ hoàng Victoria đã tranh chấp việc thừa kế số trang sức do Vương hậu Charlotte quá cố để lại. Nữ hoàng Victoria cho rằng chúng thuộc về Vương quyền Anh. Vua Ernst cho rằng chúng số trang sức đó phải thuộc về người thừa kế nam, tức là chính ông. Vấn đề đã được phân xử, và ngay khi các trọng tài chuẩn bị công bố quyết định có lợi cho Hannover, một trong những trọng tài đã qua đời, khiến quyết định đó trở nên vô hiệu. Mặc dù Nhà vua yêu cầu thành lập một hội đồng mới, Victoria đã từ chối cho phép thành lập một hội đồng trong suốt cuộc đời của Nhà vua và tận dụng mọi cơ hội để đeo những món trang sức, khiến Nhà vua phải viết thư cho người bạn của mình, Lãnh chúa Strangford, "Tôi nghe nói Nữ hoàng nhỏ bé trông rất đẹp, đeo đầy kim cương của tôi." Con trai và người kế vị của Ernst là Vua Georg V, đã tiếp tục đòi lại các món trang sức này, và vào năm 1858, sau một quyết định khác có lợi cho Hannover, những món trang sức đã được chuyển giao cho đại sứ Hannover. | |||
|} | |||
===Georg V=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Bang liên Đức|BANG LIÊN ĐỨC]]<hr>[[Vương quốc Hannover]] <br> (1814 - 1866)'''}}||colspan="1"|{{center|[[Tập tin:Flag of Hanover 1837-1866.svg|center|130px]]}}||colspan="1"| {{center|[[File:Coat of Arms of the Kingdom of Hanover.svg|center|90px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Georg V của Hannover|Vua Georg V]]<br> (1837 - 1851)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị vua thứ 5 và cuối cùng của Hannover}} | |||
|- | |||
| [[File:1 Vereinsthaler - Georg V of Hannover 1864.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 Vereinsthaler [[Georg V của Hannover|Vua Georg V]] - 1864 B<hr>161 năm (2025)'''}}||{{center|[[Tập tin:Georg V.(Hannover) 1861 (1).JPG|120px]]<br>'''1857 - 1866<hr>[[AU]]'''}}|| {{center|'''Đường kính'''<br>[[34,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[18,52 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[16,668 gr]] <hr>'''Số lượng'''<br>[[158.000]]<hr>3.100.000<br>[[(123,36$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#fbd"|GEORG V | |||
|- | |||
|style="background:LemonChiffon;"| | |||
Ông là vị vua thứ 5 và cuối cùng của [[Vương quốc Hannover]], ông trị vì từ năm 1851-1866 với vương hiệu Georg V. Ông là con trai của [[Ernst August của Hannover|Ernst August]], con trai thứ 5 của vua [[George III của Anh]] và [[Augusta xứ Sachsen-Gotha-Altenburg]], vì thế Georg V gọi vua [[George IV của Anh]] và [[William IV của Anh]] là bác và [[Nữ hoàng Victoria]] là chị họ đời đầu của ông.<hr> | |||
Năm 1837, [[William IV của Anh|Vua William IV]] qua đời mà không có con cái hợp pháp để kế vị ngai vàng, dù ông có đến 10 người con với tình nhân. Tuy có 2 người con gái với vợ chính thức, nhưng con cái chính thức đều chết yểu không lâu sau khi ra đời. Trong đó Vương nữ [[Charlotte xứ Clarence]] qua đời ngay sau khi ra đời và Vương nữ [[Elizabeth xứ Clarence]] chỉ thọ 2 tháng 25 ngày tuổi. Vì thế mà ngai vàng Anh đã được để lại cho Vương tổn nữ Victoria, con gái duy nhất của [[Vương tử Edward, Công tước xứ Kent và Strathearn]], bà lên ngôi với vương hiệu là [[Nữ hoàng Victoria|Nữ vương Victoria]] và trị vì từ năm 1837 đến 1901 (63 năm, 216 ngày). Theo luật bán Salic thì nữ giới không được thừa kế ngai vàng Vương quốc Hannover nếu giá tộc vẫn còn người thừa kế nam, vì thế Hannover đã được thừa kế bởi cha của Georg V là [[Ernst August của Hannover|Ernst August]], dấu mốc này đã chấm dứt 123 năm [[liên minh cá nhân]] giữa Anh và Hannover.<hr> | |||
Năm 1828, Georg mù một bên mắt sau một trận ốm, năm 1833, sau một tai nạn, con mắt còn lại của ông cũng bị mù. Vì thế Georg V là một vị vua bị mù cả 2 mắt. Nhiều người tin rằng, việc mù lòa khiến ông không thể hiểu biết về thế giới; ông đã hình thành một quan niệm kỳ lạ về phẩm giá của [[Nhà Welf]] và có ý tưởng thành lập một nhà nước Welf vĩ đại ở châu Âu.<hr> | |||
Cha của Georg là người có cảm tình với Vương quốc Phổ, nhưng Georg V thì ngược lại, ông ấy rất ghét Phổ nhưng lại nhiệt thành với Áo, dù mẹ của ông với mẹ của vua Phổ là chị em ruột của nhau. Biên giới phía Đông và Tây của Hannover đều tiếp giáp với lãnh thổ của Phổ và Georg V đã từ chối cấp phép cho người Phổ xây dựng một tuyến đường sắt nối thị trấn [[Minden]] của Phổ đến cảng hải quân Phổ ở [[Wilhelmshaven]].<hr> | |||
Khi [[Chiến tranh Áo-Phổ]] (1866) bắt đầu, chính phủ Phổ đã gửi tối hậu thư đến Hannover, ép phải liên minh với Phổ, dù Quốc hội Hannover đồng ý liên minh với Phổ nhưng vua Georg V lại từ chối và quay qua liên minh với Áo. Kết quả là, Quân đội Hanover gồm 20.600 người đã đầu hàng vào ngày 29 tháng 6 năm 1866 sau [[Trận Langensalza (1866)|Trận Langensalza]], mặc dù thành công về mặt chiến thuật nhưng lại thua kém về quân số. Nhà vua và hoàng gia đã chạy sang Áo lưu vong. Phổ đã chiếm đóng Hannover. <hr> | |||
Sau khi bị Phổ chiếm đống, Georg V vẫn cố chấp với quyết định của mình, ông ấy từ chối mọi ý tưởng để thuyết phục Phổ không xoá xổ Hannover, trong đó, vợ ông là [[Marie xứ Sachsen-Altenburg|Vương hậu Marie]] đã khuyên ông thoái vị để ủng hộ con trai mình là [[Ernst August, Thái tử của Hannover|Thái tử Ernest Augustus]] lên ngôi. Có lẽ cũng vì sự cố chấp của ông mà tuy Hoàng đế [[Franz Joseph I của Áo]] vận động thành công để [[Vương quốc Sachsen]] không bị sáp nhập, nhưng không màn đến Hannover. Ngày 20/9/1866, Phổ sáp nhập Hannover và biến nó thành tỉnh Hannover. Sau chiến tranh Áo-Phổ, Hannover không phải là nhà nước duy nhất bị sáp nhập, còn có [[Tuyển hầu xứ Hessen]] và [[Công quốc Nassau]].<hr> | |||
Từ nơi lưu vong, ông đã kêu gọi vô ích các cường quốc châu Âu can thiệp thay mặt cho Hannover. Từ năm 1866 đến năm 1870, cựu vương Georg V duy trì [[Quân đoàn Guelphic]] một phần bằng chi phí cá nhân của mình, hy vọng rằng [[Chiến tranh Pháp-Phổ]] (1870-1871) sẽ dẫn đến việc ông có cơ hội chiếm lại vương quốc của mình. Tại Paris, Georg đã tuyên truyền chống lại Phổ. Điều khiến ông thất vọng là [[Napoleon III]] đã thất bại trong Chiến tranh Pháp-Phổ năm 1871. Vì hành động cố chấp của Georg, Chính phủ Phổ đình chỉ khoản bồi thường tài chính đã được hứa hẹn trước đó và tịch thu tài sản cá nhân của ông. Thủ tướng Phổ [[Otto von Bismarck]] đã cho quản lý các tài sản bị tịch thu, cái gọi là Quỹ Guelph, được một ủy ban đặc biệt của Phổ ở Hannover quản lý và sử dụng số tiền thu được "để chống lại các hoạt động của Guelph".<hr> | |||
|} | |||
==📕 CÔNG QUỐC ANHALT== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#ccf"|[[File:Arms of the house of Ascania (ancient).svg|70px]] [[File:Arms of Heinrich I, Prince of Anhalt.svg|70px]] [[File:Arms of the house of Anhalt (15th century).svg|70px]] | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|TRIỀU ĐẠI ASCANIA | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
'''[[Vương tộc Ascania]]''' nổi lên từ đầu thế kỷ XI, nhiều dòng khác nhau của vương tộc này đã cai trị nhiều nhà nước cho đến năm 1918, khi chế độ quân chủ ở Đức bị bãi bỏ. Nhà Ascania được chia ra làm 4 nhánh, họ đều là hậu duệ của [[Albrecht Gấu]]: '''''[[Bá quốc Brandenburg|Nhánh Ascania-Brandenburg]]''''' (1157-1320) được lập ra bởi con trường [[Otto I xứ Brandenburg]]; '''''[[Thân vương quốc Anhalt|Nhánh Anhalt]]''''' (1218-1918); '''''[[Sachsen-Lauenburg|Nhánh Sachsen-Lauenburg]]''''' (1296-1689) và '''''[[Sachsen-Wittenberg|Nhánh Sachsen-Wittenberg]]''''' (1298-1422) được lập ra bởi hậu duệ của người con trai út của Albrecht Gấu là [[Bernhard xứ Anhalt|Bá tước Bernhard]]. Chỉ có Nhánh Anhalt tồn tại được đến khi chế độ quân chủ Đức bị bãi bỏ vào năm 1918, trong 700 năm. Ba nhánh còn lại đều tuyệt tự dòng nam và mất lãnh thổ và tải sản vào tay các vương tộc khác, đặc biệt là sau sự tuyệt tự của dòng Sachsen-Wittenberg vào năm 1422, [[Tuyển hầu xứ Sachsen]] đã rơi vào tay của [[Nhà Wettin]], điều này đã mở đầu cho triều đại Wettin thế lực có ảnh hưởng ở Thánh chế La Mã và châu Âu sau đó.<hr> | |||
Thành viên đầu tiên được biết đến của gia tộc Ascania chính là [[Esico xứ Ballenstedt|Esiko, Bá tước xứ Ballenstedt]], lần đầu được nhắc đến trong một văn bản do Hoàng đế [[Konrad II của Thánh chế La Mã]] ban hành năm 1036 với tên gọi '''Esicus de Ballenstide'''. Ông được cho là cháu trai (thông qua mẹ mình) của [[Odo I xứ Sashsen Ostmark|Odo I, Phiên hầu xứ Sashsen Ostmark]]. Từ Odo, người nhà Ascania được thừa kế những tài sản lớn ở [[Sächsische Ostmark|Phiên hầu Đông Sachsen]] ([[tiếng Đức]]: ''Sächsische Ostmark'').<hr> | |||
Cháu nội trai của Esiko, con trai của [[Adalbert II xứ Ballenstedt]] là [[Otto xứ Ballenstedt|Otto, Bá tước xứ Ballenstedt]] kết hôn với [[Eilika xứ Sachsen|Công nữ Eilika]], con gái của [[Magnus xứ Sachsen|Magnus, Công tước xứ Sachsen]], người nhà Ascania trở thành người thừa kế một nửa tài sản của [[Nhà Billung]], cựu [[Công quốc Sachsen|Công tước xứ Sachsen]].<hr> | |||
Thế hệ thứ 4 của Bá tước xứ Ballenstedt là [[Albrecht Gấu]] (1100-1170), con trai của Otto - đã trở thành người nhà Ascania đầu tiên trở thành công tước khi nắm quyền Sachsen, với sự giúp đỡ của di sản do mẹ ông thừa kế vào năm 1139. Tuy nhiên, ông sớm mất quyền kiểm soát Sachsen vào tay [[Vương tộc Welf|Nhà Guelph]] đối thủ.<hr> | |||
'''[[Bá quốc Brandenburg|Nhánh Ascania-Brandenburg]] (1157-1320):''' Albrecht thừa hưởng [[Bá quốc Brandenburg|Phiên hầu quốc Brandenburg]] vào năm 1157 từ người cai trị [[Wends|Wendish]] cuối cùng của vùng này là [[Pribislaw-Heinrich]], và ông trở thành người nhà Ascania đầu tiên trở thành phiên hầu. Albrecht và hậu duệ của ông thuộc Nhà Ascania sau đó đã đạt được những tiến bộ đáng kể trong việc [[Cơ đốc]] hóa và [[Đức hóa]] vùng đất này. Là vùng biên giới giữa các nền văn hóa Đức và Slavic, nhà nước này được gọi là một vùng đất biên giới. | |||
* Albrecht gấu và hậu duệ của ông đã cai trị Brandenburg trong 163 năm thì tuyệt tự dòng nam khi [[Heinrich II xứ Brandenburg-Stendal|Heinrich Trẻ tuổi]] qua đời vào năm 1320 mà chưa lập gia đình. Lãnh thổ và tài sản rơi vào tay của [[Ludwig V xứ Bayern]] của [[Nhà Wittelsbach]]. | |||
* Vào năm 1237 và 1244, hai thị trấn, [[Cölln]] và Berlin, được thành lập dưới thời cai trị của Otto và Johann, cháu trai của Phiên hầu [[Albrecht Gấu]]. Sau đó, chúng được hợp nhất thành một thành phố, đó chính là [[Berlin]]. Biểu tượng của Nhà Ascania, một con đại bàng đỏ và một con gấu, đã trở thành huy hiệu của Berlin. Vào năm 1320, dòng dõi Ascania Brandenburg đã tuyệt tự. | |||
<hr> | |||
Sau khi Hoàng đế phế truất những người cai trị Nhà Guelph của Sachsen vào năm 1180, người Nhà Ascania đã trở lại để cai trị Công quốc Sachsen, nơi đã bị Hoàng đế thu hẹp lãnh thổ xuống còn một nửa phía đông. Tuy nhiên, ngay cả ở miền đông Sachsen, người Nhà Ascania chỉ có thể thiết lập quyền kiểm soát ở những khu vực hạn chế, chủ yếu là gần Sông [[Elbe]]. Vào thế kỷ XIII, [[Thân vương quốc Anhalt]] đã tách khỏi Công quốc Sachsen. Sau đó, lãnh thổ còn lại đã được chia thành [[Sachsen-Lauenburg]] và [[Sachsen-Wittenberg]]. Hai nhánh này của Ascadia đã lần lượt bị tuyệt tự dòng nam vào năm 1689 và năm 1422. | |||
* '''[[Sachsen-Lauenburg|Nhánh Sachsen-Lauenburg]] (1296-1689):''' gồm 2 dòng là '''Bergedorf-Mölln''' tạo ra bởi [[Johann II xứ Sachsen-Lauenburg|Johann II]] và dòng '''Ratzeburg-Lauenburg''' được tạo ra bởi [[Eric I xứ Sachsen-Lauenburg|Eric I]], họ cai trị Sachsen-Lauenburg một cách tách biệt. | |||
** Năm 1401 dòng Bergedorf-Mölln tuyệt tự chỉ sau 5 đời công tước, dòng Ratzeburg-Lauenburg thừa kế lãnh thổ và hợp nhất Sachsen-Lauenburg. | |||
** Năm 1689 dòng Ratzeburg-Lauenburg tuyệt tự sau cái chết không có nam thừa kế của [[Julius Franz xứ Sacsenh-Lauenburg]], công tước thứ 16. | |||
** Cái chết của Julius đã gây ra một cuộc cạnh tranh quyền kế vị giữa các cô con gái và các dòng khác. [[Georg Wilhelm xứ Brunswick]] của [[Nhà Welf]] đã xâm lược [[Sachsen-Lauenburg]] bằng quân đội của mình. | |||
** Trong 113 năm được cai trị bởi Nhà Welf, nhưng quyền cai trị của họ không hợp pháp cho đến năm 1728, Hoàng đế [[Karl VI của Thánh chế La Mã]] đã hợp pháp hoá quyền tiếp quản của Nhà Welf. Người thừa kế công quốc hợp pháp là [[Anna Maria Franziska xứ Sachsen-Lauenburg|Anna Maria Franziska]] con gái đầu của Julius đã không bao giờ từ bỏ quyền thừa kế của mình. | |||
* '''[[Sachsen-Wittenberg|Nhánh Sachsen-Wittenberg]] (1298-1422):''' được sáng lập bởi [[Albrecht II xứ Sachsen]] việc phân chia Sachsen giữa ông với 3 người cháu trai là Albrech III, Eric I và Johann II đã diễn ra vào năm 1295, theo đó Albrecht II nhận được [[Sachsen-Wittenberg]]. | |||
** Vì Công tước xứ Sachsen được coi là một trong những [[Tuyển đế hầu]] bầu ra Hoàng đế La Mã Thần thánh, nên xung đột đã nảy sinh giữa dòng Sachsen-Lauenburg và Sachsen-Wittenberg về vấn đề ai sẽ bỏ phiếu. Năm 1314, cả hai dòng thấy mình ở hai phe khác nhau trong một cuộc bầu cử kép. Cuối cùng, Công tước xứ Sachsen-Wittenberg đã nhận được quyền tuyển đế hầu thông qua [[Goldene Bulle|Sắc chỉ Vàng]] năm 1356 của Hoàng đế [[Karl IV của Thánh chế La Mã]] dưới thời [[Rudolf I xứ Sachsen-Wittenberg]]. | |||
** Sau cái chết không để lại người thừa kế nam của [[Albrecht II xứ Sachsen-Wittenberg|Albrecht II]], dòng Sachsen-Wittenberg tuyệt tự. Hoàng đế [[Sigismund của Thánh chế La Mã]] đã để lại lãnh thổ công quốc và tước tuyển đế hầu của Sachsen cho [[Friedrich I xứ Sachsen|Friedrich xứ Meissen]] của [[Nhà Wettin]]. Dấu mốc này khởi đàu cho triều đại Wettin trở thành một thế lực hùng mạnh trong [[Đế chế La Mã Thần thánh]] và khắp châu Âu sau này. Dòng Albertine của Nhà Wettin cai trị [[Tuyển hầu xứ Sachsen]] sau là [[Vương quốc Sachsen]] cho đến tận năm 1918. [[Các công quốc Ernestine|Dòng Ernsetine]] cai trị nhiều công quốc Sachsen, hậu duệ của dòng này trở thành quân chủ của nhiều ngai vàng, trong đó có Bỉ, Anh, Bồ Đào Nha, Bulgaria. | |||
* '''[[Thân vương quốc Anhalt|Nhánh Anhalt]] (1218-1918):''' được lập ra bởi [[Heinrich I xứ Anhalt]], con trai cả của [[Bernhard xứ Anhalt|Bá tước Bernhard]] (con trai út của [[Albrecht gấu]]), có thể là với người vợ đầu tiên là Judith (hay Jutta) của Ba Lan, con gái của [[Mieszko III Già]]. Bernhard được [[Hoàng đế La Mã Thần thánh|Hoàng đế]] [[Friedrich I của Thánh chế La Mã|Friedrich Barbarossa]] ban cho lãnh địa [[Công quốc Sachsen]] sau khi vị công tước trước đó thuộc [[Vương tộc Welf|gia tộc Welf]] là [[Heinrich Sư tử]] bị phế truất vào năm 1180. '''''Đây là dòng cai trị duy nhất của Nhà Ascadia tồn tại cho đến khi chế độ quân chủ ở Đức bị bãi bỏ vào năm 1918, tồn tại liên tục qua 700 năm lịch sử''''', trong khi đó, 2 dòng Sachsen-Lauenburg và Sachsen-Wittenberg đã tuyệt tự dòng nam và mất lãnh thổ vào tay các vương tộc khác từ thế kỷ XV và XVII. | |||
** Sau khi Bernhard qua đời vào năm 1212, những người con trai còn sống của ông đã phân chia các lãnh địa thừa kế từ ông theo luật của Nhà Ascania: Heinrich nhận được các lãnh địa cũ của Ascania ở vùng Saxonia Schwabengau xung quanh [[Ballenstedt]], lãnh địa mà về sau gọi chung là xứ Anhalt; trong khi em trai ông là [[Albrecht I xứ Sachsen|Albrecht]] được thừa kế tước hiệu Công tước xứ Sachsen cùng các điền trang Eastphalia không liên quan xung quanh các thị trấn [[Wittenberg]] và [[Bad Belzig|Belzig]] (sau này là [[Sachsen-Wittenberg]]) cũng như lãnh địa phía bắc của [[Sachsen-Lauenburg]]. | |||
** Trước khi qua đời, vào khoảng năm 1245, Heinrich I đã phân chia [[Thân vương quốc Anhalt]] cho các con trai của mình: [[Heinrich II xứ Anhalt-Aschersleben|Heinrich]] thừa kế [[Anhalt-Aschersleben]], [[Bernhard I xứ Anhalt-Bernburg|Bernhard]] nhận được [[Anhalt-Bernburg]] và [[Siegfried I xứ Anhalt-Zerbst|Siegfried]] được [[Thân vương quốc Anhalt-Zerbst|Anhalt-Zerbst]]. Sau đó, các chi nhánh lại tiếp tục phân chia, sáp nhập từ các dòng tuyệt tự dòng nam, cũng có thời kỳ thống nhất, nhưng lại phân chia. | |||
** Năm 1806, [[Napoleon I|Hoàng đế Napoleon I]] đã nâng các nhà nước còn lại là [[Anhalt-Bernburg]], [[Anhalt-Dessau]] và [[Anhalt-Köthen]] lên thành công quốc; trong khi đó, [[Anhalt-Plötzkau]] và [[Thân vương quốc Anhalt-Zerbst|Anhalt-Zerbst]] đã tuyệt tự dòng nam. Với sự giải thể của [[Đế chế La Mã Thần thánh]], các công quốc đã trở nên hoàn toàn độc lập. Sự tuyệt tự của dòng dõi Anhalt-Köthen vào năm 1853 và dòng Anhalt-Bernburg vào năm 1863, dẫn đến việc các nhà nước này được thừa kế và sáp nhập với Anhalt-Dessau để thành lập [[Công quốc Anhalt]] thống nhất dưới truyền trị vì của [[Leopold IV xứ Anhalt|Leopold IV xứ Anhalt-Dessau]]. | |||
** [[Thân vương quốc Anhalt-Zerbst|Anhalt-Zerbst]] tuyệt tự dòng nam vào năm 1796, sau cái chết không để lại người thừa kế của [[Friedrich August xứ Anhalt-Zerbst]] (em trai của [[Yekaterina II của Nga|Catherine Đại đế của Nga]]), lãnh thổ được thừa kế bởi dòng [[Anhalt-Dessau]]. | |||
|- | |||
! style="background:#ccf"|[[File:Coat of Arms of the Duchy of Anhalt.svg|70px]] | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|Triều đại Anhalt-Dessau (2)<hr> (1603 - 1918) | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
[[File:Duchy of Anhalt 1863-1918 es.svg|thumb|250px|Bản đồ Công quốc Anhalt]] | |||
Ông tổ của Nhánh Anhalt-Dessau chính là Thân vương [[Johann Georg I xứ Anhalt-Dessau|Johann Georg I]], ông là con trai trưởng của Thân vương [[Joachim Ernst xứ Anhalt|Joachim Ernst]]. Năm 1570, sau cái chết của người chú [[Bernhard VII xứ Anhalt-Zerbst]], cha của ông đã được thừa kế và lần đầu tiên thống nhất tất cả lãnh thổ của các nhánh Anhalt kể từ lần phân chia năm 1252.<hr> | |||
Sau cái chết của cha Johann Georg, một thoả thuận phân chia lãnh thổ đã diễn ra giữa các anh em ông, bản thân ông nhận được [[Anhalt-Dessau]], cũng như Seniorat và tái lập Thân vương quốc Anhalt-Dessau lần 2 (lần 1 là 1396-1561). Năm 1807, nó được nâng lên thành công quốc, đến năm 1863, [[Leopold IV xứ Anhalt|Công tước Leopold IV Friedrich]] đã thống nhất tất cả lãnh thổ của các dòng Anhalt và lập ra [[Công quốc Anhalt]], sau đó là một nhà nước cấu thành nên [[Đế quốc Đức]], nó tồn tại đến năm 1918.<hr> | |||
Nhánh Anhalt-Dessau tồn tại được 315 năm, trải qua 11 đời quân chủ cai trị, trong đó có 5 công tước trị vì Công quốc Anhalt thống nhất.<hr> | |||
🍓 Con gái của Thân vương [[Joachim Ernst xứ Anhalt|Joachim Ernst]] là [[Agnes Hedwig xứ Anhalt]] (em gái cùng cha khác mẹ của [[Johann Georg I xứ Anhalt-Dessau]]) đã được gả cho [[August xứ Sachsen]] ([[Tuyển hầu xứ Sachsen]] đời thứ 2 đến từ dòng Albertine - Wettin) khi đó bà mới 13 tuổi còn chồng đã gần 60 tuổi. Chỉ vài tuần sau kết hôn thì chồng bà qua đời. Bà tái giả và lấy [[Johann Trẻ xứ Schleswig-Holstein-Sonderburg]] và có 1 con trai và 1 con gái. | |||
|} | |||
===Leopold IV Friedrich=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Bang liên Đức|BANG LIÊN ĐỨC]]<hr>[[Công quốc Anhalt]] <br> (1863 - 1918)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flagge Herzogtum Anhalt.svg|center|135px]]}}||colspan="1"| {{center|[[File:Coat of Arms of the Duchy of Anhalt.svg|center|75px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Leopold IV xứ Anhalt|Công tước Leopold IV Friedrich]]<br> (1817 - 1871)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Thân vương cuối cùng của 2 Thân vương quốc Anhalt-Dessau và Anhalt-Köthen; Công tước đầu tiên của Anhalt thống nhất}} | |||
|- | |||
| [[File:1 Thaler Leopold IV Friedrich of Anhalt 1863.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 Thaler [[Leopold IV xứ Anhalt|Leopold IV Friedrich]]_Thống nhất Anhalt (1603 - 1863)<hr>162 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Leopold IV Anhalt.jpg|120px]]<br>'''1863<hr>[[MS|UNC]]'''}}|| style="background:#ceb"colspan="1"| {{center|'''Đường kính'''<br>[[33,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[18,52 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[16,668 gr]] <hr>'''Số lượng'''<br>[[20.300]]<hr>7.353.000<br>[[(289,49$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#fbd"|LEOPOLD IV | |||
|- | |||
|style="background:LemonChiffon;"| | |||
* Từ năm 1817 đến năm 1853, ông là người cai trị Công quốc [[Anhalt-Dessau]] và từ năm 1847 đến năm 1853, ông cũng là người cai trị Công quốc [[Anhalt-Köthen]]. Từ năm 1853 đến năm 1863, ông là người cai trị công quốc [[Công quốc Anhalt|Anhalt-Dessau-Köthen]] hợp nhất và từ năm 1863 ông thừa kế thêm Công quốc [[Anhalt-Bernburg]]. Kể từ năm 1863, ông là người cai trị đầu tiên của [[Công quốc Anhalt]] thống nhất. Leopold qua đời tại [[Dessau]] vào ngày 22 tháng 5 năm 1871. Ông được kế vị bởi con trai mình là [[Friedrich I xứ Anhalt|Công tử Friedrich]]. Trong gần nửa thế kỷ, Leopold đã thừa kế 3 công quốc từ ông nội và những người họ hàng xa bị tuyệt tự dòng nam.<hr> | |||
* Leopold vẫn duy trì tình bạn với viên chức hành chính của mình là [[Wilhelm Christian Raster]], mặc dù con trai của Raster là [[Hermann Raster]], đã tham gia vào các cuộc cách mạng chống lại vương quyền của ông. Raster trẻ tuổi đã được cho 2 lựa chọn, nếu ở lại Anhalt-Dessau thì ông phải đối mặt với việc truy tố hình sự vì vai trò của mình trong cuộc Cách mạng hoặc tự do di cư khỏi đất nước như những người [[Forty-eighters]] khác. Raster đã đưa ra lựa chọn thứ hai và cuối cùng trở thành một [[thủ lĩnh chính trị]] quyền lực của [[Đảng Cộng hòa (Hoa Kỳ)|Đảng Cộng hòa]] tại [[Hoa Kỳ]].<hr> | |||
* Leopold kết hôn với Vương tôn nữ [[Frederica của Phổ]], con gái của Vương tử [[Friedrich Ludwig Karl của Phổ]] (anh trai của Vua '''[[Friedrich Wilhelm III của Phổ]]''') với vợ là [[Friederike xứ Mecklenburg-Strelitz]]; <span style="background: #DDFDDD;">thông qua cuộc hôn nhân cuối cùng của mẹ bà với Vua '''[[Ernst August I của Hannover]]''', bà là chị gái cùng cha khác mẹ của Vua '''[[Georg V của Hannover]]'''<span>. | |||
|} | |||
==🌐 BÁ QUỐC HESSEN-KASSEL== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#ccf"|[[File:Coat of Arms of the Grand Duchy of Hesse 1806-1918.svg|50px]] | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|TRIỀU ĐẠI HESSEN | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
[[File:Map-DB-Hessen-Kassel.svg|thumb|250px|Hessen-Kassel]] | |||
[[File:Map-DB-Hessen-Darmstadt.svg|thumb|250px|Hessen-Darmstadt]] | |||
Nguồn gốc của Nhà Hessen bắt đầu từ năm 1241, thông qua cuộc hôn nhân giữa [[Sophie xứ Thuringia, Bá tước phu nhân xứ Brabant|Sophie xứ Thuringia]] với [[Heinrich II xứ Brabant|Heinrich II]], [[Công tước xứ Brabant]], đến từ [[Reginarids|Nhà Reginar]]. Sophie là con gái của [[Ludwig IV, Bá tước xứ Thuringia]] (triều đại [[Ludowinger]]) và [[Elisabeth nước Hungary|Elizabeth của Hungary]] (bà được [[Giáo hoàng Grêgôriô IX]] phóng thánh vào năm 1235). | |||
* Năm 1247, Bá tước [[Heinrich Raspe]] xứ Thuringia qua đời mà không có con, dòng Nam của Nhà [[Ludowinger]] đã tuyệt tự. Tài sản của ông không chỉ bao gồm các vùng đất rộng lớn của Thuringia, mà cả Lãnh địa Bá tước Hessen sẽ được thừa kế bởi dòng nữ. Sophie đã tuyên bố quyền thừa kế. | |||
* [[Heinrich III xứ Meissen]] của [[Nhà Wettin]] là con trai của [[Jutta xứ Thuringia]], chị gái của Heinrich Raspe cũng tuyên bố quyền kế vị. Một đối thủ cạnh tranh khác là [[Tuyển hầu xứ Mainz]], người có thể tuyên bố Hessen là một lãnh địa của Tổng giám mục. | |||
* Cuộc cạnh tranh này đã tạo ra [[Chiến tranh Kế vị Thuringia]] kéo dài trong 17 năm (1247-1264). Sophie không thành công trong việc thừa kế toàn bộ tài sản của Nhà [[Ludowinger]], nhưng bà đã giành được lãnh thổ Hessen cho con trai bà là [[Heinrich I xứ Hessen|Heinrich]]. [[Bá quốc Hessen]] đã ra đời và định hình nên Vương tộc Hessen từ đó. | |||
* Bá tước xứ Meissen giành được lãnh thổ Thuringia và tước hiệu Bá tước. Lãnh thổ này về sau đã trở thành [[Các công quốc Ernestine]] của Nhà Wettin. | |||
<hr> | |||
Ban đầu là phần phía Tây của Bá quốc Thuringia, vào giữa thế kỷ XIII, nó được thừa kế bởi con trai của [[Heinrich II, Công tước xứ Brabant]], và trở thành một thực thể chính trị riêng biệt. Từ cuối thế kỷ XVI, nó thường được chia thành nhiều nhánh, trong đó quan trọng nhất là các nhánh của [[Bá quốc Hessen-Kassel|Hessen-Kassel]] (hoặc Hesse-Cassel) và [[Bá quốc Hessen-Darmstadt|Hessen-Darmstadt]].<hr> | |||
Vào đầu thế kỷ XIX, Bá tước xứ Hessen-Kassel được phong làm [[Tuyển hầu xứ Hessen]] (1803), trong khi Bá tước xứ Hessen-Darmstadt trở thành [[Đại công quốc Hessen|Đại công tước Hessen]] (1806), sau này là Đại công tước xứ Hessen và Rhein. Tuyển hầu xứ Hessen (Hesse-Kassel) bị [[Vương quốc Phổ]] sáp nhập vào năm 1866, trong khi Đại công quốc Hessen (Hesse-Darmstadt) vẫn là một nhà nước có chủ quyền cho đến khi chế độ quân chủ Đức kết thúc vào năm 1918.<hr> | |||
Kể từ ngày 23 tháng 5 năm 2013, người đứng đầu Nhà Hessen là [[Donatus, Bá tước xứ Hessen]]. Ông xuất thân từ nhánh Hessen-Kassel của gia đình, vốn là dòng dõi nam cao cấp trong phả hệ kể từ cuộc chia cắt lớn của gia tộc vào năm 1567. Ông kết hôn với nữ bá tước Floria-Franziska xứ Faber-Castell.<hr> | |||
'''[[Philipp I xứ Hessen]]''' (bá tước thứ 16 của Hessen), qua đời năm 1567. [[Bá quốc Hessen]] (1264-1567) sau đó được chia cho bốn người con trai của ông, và phát triển thành 4 nhánh: [[Bá quốc Hessen-Kassel|Hesse-Kassel]], [[Bá quốc Hessen-Marburg|Hessen-Marburg]], [[Hessen-Rheinfels]] và [[Bá quốc Hessen-Darmstadt|Hessen-Darmstadt]]. | |||
* '''[[Bá quốc Hessen-Kassel|Nhánh Hesse-Kassel]] (1567-1803):''' Người con trai cả của Bá tước [[Philipp I xứ Hessen]] là [[Wilhelm IV xứ Hessen-Kassel|Wilhelm]] được thừa kế [[Bá quốc Hessen-Kassel]]. Nó tồn tại đến năm 1803 thì được Hoàng đế Napoleon I nâng lên thành [[Tuyển hầu xứ Hessen]] và bị Vương quốc Phổ sáp nhập vào năm 1866, sau [[Chiến tranh Áo-Phổ]]. Nhánh Hesse-Kassel trải qua 299 năm cai trị, với 7 đời quân chủ cai trị Bá quốc và Tuyển hầu quốc. Dòng này cũng đã phân chia ra làm nhiều chi nhánh rồi thống nhất trong suốt lịch sử phát triển của mình. | |||
* '''[[Bá quốc Hessen-Marburg|Nhánh Hessen-Marburg]] (1567-1604):''' Người con trai thứ 2 của Bá tước [[Philipp I xứ Hessen]] là [[Ludwig IV xứ Hessen-Marburg|Ludwig IV]] đã được nhận Bá quốc Hessen-Marburg. | |||
** Khi Ludwig IV xứ Hessen-Marburg qua đời mà không có con trai, ông đã để lại những phần lãnh thổ bằng nhau cho Bá tước xứ Hessen-Kassel (Marburg) và Hessen-Darmstadt (Gießen, Nidda), nhưng với điều kiện là cả hai Bá tước đều phải theo đạo Luther. Hessen-Kassel theo đạo Calvin vào thời điểm đó. | |||
** Khi hai nhánh tranh cãi về các chi tiết của sự phân chia, [[Moritz xứ Hessen-Kassel]] đã sáp nhập toàn bộ lãnh thổ và ấp đặt đạo Calvin. Sau một cuộc tranh chấp và xung đột vũ trang kéo dài, Moritz — người cũng có kẻ thù ở quê nhà — đã thoái vị vào năm 1627 và để lại một phần lãnh thổ của mình cho Bá tước xứ Hessen-Darmstadt. | |||
** Tuy nhiên, trong [[Chiến tranh Hessen]] năm 1645–48, một cuộc xung đột phụ của [[Chiến tranh Ba mươi năm]], hai dòng, vốn ở hai phe khác nhau, lại giao tranh giành lãnh thổ. Cuộc chiến này đã khiến hai phần ba dân thường thiệt mạng, một trong những số người chết cao nhất trong bất kỳ khu vực nào của Đức trong lịch sử. | |||
** Cuối cùng, lãnh thổ đã được chia theo quy định trong di chúc của Ludwig IV. Hessen-Kassel chiếm phần phía bắc và Hessen-Darmstadt chiếm phần phía nam. | |||
* '''[[Hessen-Rheinfels|Nhánh Hesse-Rheinfels]] (1567-1583):''' Người con trai thứ 3 của Bá tước [[Philipp I xứ Hessen]] là [[Philipp]] được thừa kế Bá quốc [[Hesse-Rheinfels]]. Ông qua đời mà không có con cái thừa tự, nên lãnh thổ của ông được thừa kế bởi anh trai của ông là [[Wilhelm IV xứ Hessen-Kassel]]. | |||
* '''[[Bá quốc Hessen-Darmstadt|Nhánh Hessen-Darmstadt]] (1567-1806):''' Người con trai thứ 4 của Bá tước [[Philipp I xứ Hessen]] là [[Georg I xứ Hessen-Darmstadt|Georg]] được thừa kế Bá quốc Hessen-Darmstadt. Năm 1806, Bá quốc được nâng lên thành [[Đại công quốc Hessen]]. Dòng này trải qua 349 năm cai trị với 11 đời Bá tước và Đại công tước, chỉ kết thúc khi chế độ quân chủ Đức bị bãi bỏ vào năm 1918, và đây là dòng cai trị lâu dài nhất của Vương tộc Hessen. Dòng này cũng đã phân chia ra làm nhiều chi nhánh rồi thống nhất trong suốt lịch sử phát triển của mình. | |||
|- | |||
! style="background:#ccf"|[[File:Armoiries Frédéric de Hesse-Cassel, roi de Suède.svg|50px]] | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|Vương tộc Hessen-Kassel (Thụy Điển) | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
Là dòng trưởng của Nhà Hessen, họ cai trị Bá quốc Hessen-Kassel và cũng từng là quân chủ của Thuỵ Điển | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|[[Tập tin:Arms of Battenberg-Mountbatten.svg|50px]]<hr>Chi nhánh Battenberg - Mountbatten | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
[[Gia tộc Battenberg]] là hậu duệ theo dòng dõi nam của [[Đại công quốc Hessen|Dòng Hessen-Darmstadt]], xuất thân từ cuộc hôn nhân của [[Alexander xứ Hesse và Rhine]] (con trai út của '''Đại công tước [[Ludwig II xứ Hessen]]''') với [[Julia Hauke, Thân vương xứ Battenberg|Nữ bá tước Julia Hauke]] và đây là một cuộc hôn nhân [[quý tiện kết hôn|môn đăng đối hộ]]. Gia đình Battenberg sau này định cư ở Anh đã đổi tên thành Mountbatten sau [[Thế chiến thứ nhất]] theo lệnh của [[George V của Anh]], người đã thay thế tước hiệu thân vương Đức trước đây của họ bằng tước hiệu quý tộc Anh. Hậu duệ của gia tộc này đã hôn phối với nhiều vương tộc ở châu Âu. | |||
* Con trai thứ của Alexander và Julia là [[Aleksandr I của Bulgaria|Aleksandr]], thành viên của gia tộc Battenberg đã được bầu lên ngai vàng Bulgaria và trở thành Thân vương đầu tiên của nó với vương hiệu Aleksandr I. | |||
* Con trai thứ 3 của Alexander và Julia là [[Heinrich xứ Battenberg]], thông qua hôn nhân với Vương nữ [[Beatrice của Liên hiệp Anh]], con út của [[Victoria của Anh|Nữ hoàng Victoria I]], Heinrich trở thành thành viên Vương thất Anh. Cũng nhờ con gái [[Victoria Eugenie của Battenberg|Victoria Eugenie]] kết hôn với Vua [[Alfonso XIII của Tây Ban Nha|Alfonso XIII]] và trở thành [[Danh sách phối ngẫu nước Tây Ban Nha|Vương hậu của Tây Ban Nha]], Heinrich là tổ tiên của Vương thất Tây Ban Nha hiện tại. | |||
* Con trai cả của Alexander và Julia là [[Louis xứ Battenberg|Thân vương Louis xứ Battenberg]], trở thành Đệ nhất đại thần Hải quân của [[Hải quân Hoàng gia Anh]]. Do tình cảm bài Đức thịnh hành ở Anh trong Thế chiến thứ nhất, ông đã Anh hóa họ của mình thành Mountbatten. | |||
**Con gái thứ hai của [[Louis xứ Battenberg|Thân vương Louis xứ Battenberg]] là [[Louise Mountbatten]], kết hôn với [[Gustaf VI Adolf của Thụy Điển|Gustaf VI Adolf]] vua tương lai của Thụy Điển vào năm 1923, vì thế trở thành Vương hậu của Thụy Điển vào năm 1950. | |||
** Con trai út của [[Louis xứ Battenberg|Thân vương Louis xứ Battenberg]] là [[Louis Mountbatten, Bá tước Mountbatten thứ nhất của Miến Điện]], trở thành [[Phó vương Ấn Độ|Phó vương cuối cùng của Ấn Độ]]. | |||
** Con gái lớn của [[Louis xứ Battenberg|Thân vương Louis xứ Battenberg]] là [[Alice xứ Battenberg]], kết hôn với [[Andreas của Hy Lạp và Đan Mạch]]; con trai của họ, [[Philippos của Hy Lạp và Đan Mạch, Công tước xứ Edinburgh|Philip của Hy Lạp và Đan Mạch]] (sau này được phong là [[Công tước xứ Edinburgh]]), kết hôn với người thừa kế ngai vàng Anh, sau này là Nữ vương [[Elizabeth II]]. | |||
* Con trai út của Alexander và Julia là Thân vương [[Francis Joseph xứ Battenberg]] kết hôn với Vương nữ [[Anna xứ Montenegro]], em gái của Vương hậu [[Elena của Montenegro|Elena của Ý]] (vợ của Vua [[Vittorio Emanuele III của Ý]]) và là dì ruột của Vua [[Aleksandar I của Nam Tư]].<hr> | |||
===Wilhelm IX=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đế chế La Mã Thần thánh|ĐẾ CHẾ LA MÃ THẦN THÁNH]]<hr>[[Bá quốc Hessen-Kassel|Phiên địa bá quốc Hessen-Kassel]] <br> (1567 - 1803)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Hessen KS flag.svg|center|130px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Arms of the house of Hesse-Kassel (1736-1803).svg|75px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Wilhelm I, Tuyển hầu xứ Hessen|Bá tước Wilhelm IX]] <br>(1785 - 1803)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Bá tước cuối cùng xứ Hessen-Kassel, Tuyển đế hầu đầu tiên của Hessen}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|[[File:1 thaler Wilhelm IX of Hessen-Kassel.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 Thaler [[Wilhelm I, Tuyển hầu xứ Hessen|Wilhelm IX]] - 1789 <hr>236 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Wilhelm IX. Landgraf von Hessel-Kassel Boettner.jpg|120px]]<br>'''1789<hr>[[AU-XF]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[34,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[?%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[? gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[? gr]] <hr>'''Số lượng'''<br>[[?]]<hr>6.852.000<br>[[(269,76$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#fbd"|WILHELM IX | |||
|- | |||
|style="background:LemonChiffon;"| | |||
Wilhelm là con trai thứ hai, nhưng là con trai lớn nhất còn sống sót của [[Friedrich II xứ Hessen-Kassel]] và [[Mary của Đại Anh]]. Vì thế Wilhelm gọi vua George II của Anh là ông ngoại, [[Frederick, Thân vương xứ Wales]] (cha của George III) là bác và vua '''[[George III của Anh]]''' là anh họ đời đầu.<hr> | |||
Cuộc hôn nhân của cha mẹ ông không hạnh phúc, người cha Friedrich đã từ bỏ truyền thống Tin Lành của gia tộc để chuyển sang Công giáo vào năm 1749 và năm 1755, Friedrich cũng đã chính thức huỷ bỏ cuộc hôn nhân với vợ mình. Ông nội của Wilhelm là [[Wilhelm VIII xứ Hessen-Kassel]] đã cắt vùng [[Hessen-Hanau]] mới dành được để làm lãnh địa thái ấp cho con dâu và các cháu trai của mình. Trên thực tế thì Wilhelm trẻ tuổi đã trở thành người cai trị của Bá quốc Hessen-Hanau dưới quyền nhiếp chính của mẹ mình.<hr> | |||
Ông kết hôn với người em gái họ đời đầu của mình là Vương nữ [[Wilhelmina Caroline của Đan Mạch]], con gái của [[Frederik V của Đan Mạch]] và [[Louisa của Đại Anh]]. Họ có với nhau 4 người con. Ngoài ra, ông còn công nhận hơn 20 người con khác là con ngoài giá thù với 3 người tình của mình. Trong đó có Tướng Áo, Nam tước [[Julius Jacob von Haynau]], vốn được mệnh danh là "Hổ Habsburg" trong quân đội của Đế quốc Áo.<hr> | |||
Năm 1769, Wilhelm bổ nhiệm '''[[Mayer Amschel Rothschild]]''' làm [[Hoffaktor]], giám sát hoạt động của các điền trang và thu thuế. Ngay lúc Wilhelm thừa kế Bá quốc Hessen-Kassel, ông được xem là một trong những thân vương giàu có nhất châu Âu. Chính sự giàu có này đã giúp Rothchild tích luỹ tài sản và trở thành một gia tộc ngân hàng ở châu Âu sau đó. Wilhelm được xem là ân nhân của gia tộc này.<hr> | |||
Năm 1803, Napoleon lúc này là Đệ nhất tổng tài Pháp đã nâng Wilhelm lên làm [[Tuyển hầu xứ Hessen]], dù thế, Wilhelm cũng không gia nhập Liên bang Rhein, từ chối huy động quân đội giúp Napoleon trong Chiến tranh Pháp-Phổ và tuyên bố nhà nước mình trung lập. Năm 1806 lúc này đã lên ngôi hoàng đế, Napoleon cho chiếm đống và sáp nhập Hessen vào [[Vương quốc Westphalia]] mới thành lập do em trai của Napoleon là '''[[Jérôme Bonaparte]]''' cai trị. Các phần phía nam của Hessen, tức là Bá quốc Hanau-Münzenberg, ban đầu nằm dưới sự quản lý của chính phủ quân sự Pháp từ năm 1806 và thuộc về Đại công quốc Frankfurt từ 1810 đến 1813.<hr> | |||
Khi lãnh thổ của ông bị Pháp chiếm đống, Wilhelm đã gửi tài sản của mình cho Rothschild để khỏi bị rơi vào tay Napoleon. Số tiền này sau đó được chuyển đến cho '''[[Nathan Mayer Rothschild]]''' ở London, nó đã hỗ trợ cho Anh và các đồng mihn chống lại Pháp và cuối cùng thu về rất nhiều lợi nhuận từ việc cho vây này. Không lâu sau, sự giàu có của người nhà Rothschild đã vượt xa sự giàu có của ân nhân họ là Wilhelm xứ Hesse-Kassel.<hr> | |||
Sau thất bại của quân đội Napoleon trong [[Trận Leipzig]], Wilhelm đã được phục vị vào năm 1813. Trong [[Đại hội Viên]], một số tuyển hầu được nâng lên vương quốc, trong đó có Hanover và Wuttemburg, Wilhelm cũng muốn được như thế, nhưng không được công nhận, ông chỉ được nâng lên [[đại công tước]], vì thế ông đã từ chối và vẫn giữ lại danh xưng [[Tuyển đế hầu]] vì ông cho rằng nó danh giá hơn. Hessen-Kassel vẫn là Tuyển hầu cho đến khi bị Vương quốc Phổ sáp nhập vào năm 1866. | |||
|} | |||
==🌐 ĐẠI CÔNG QUỐC HESSEN - [[Mua thất bại]]== | |||
===Ludwig II=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Bang liên Đức|BANG LIÊN ĐỨC]]<hr>[[Đại công quốc Hessen|Đại công quốc Hessen và Rhein]] <br> (1806 - 1918)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flagge Großherzogtum Hessen ohne Wappen.svg|center|120px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Greater Coat of arms of Grand Duchy of Hesse (1902-1918).svg|110px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Ludwig II xứ Hessen|Đại công tước Ludwig II]] <br>(1830 - 1848)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Đại công tước đời thứ 2 của Hessen}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|[[File:2 thaler Ludwig II of Hesse 1840.png|center|700px]]<hr>{{center|'''2 Thaler [[Ludwig II xứ Hessen|Ludwig II]] - 1840 <hr>185 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Gotthelf Leberecht Glaeser - Großherzogs Ludwig II. von Hessen bei Rhein.jpg|100px]]<br>'''1839 - 1842<hr>[[AU]]'''}} ||style="background:#ceb"colspan="1"| {{center|'''Đường kính'''<br>[[40,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[37,12 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[33,408 gr]] <hr>'''Số lượng'''<br>[[367.000]]<hr>7.523.000<br>[[(294,39$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#fbd"|LUDWIG II | |||
|- | |||
|style="background:LemonChiffon;"| | |||
Ludwig là con trai trưởng trong số 5 người con của Đại công tước [[Ludwig I xứ Hessen]] và [[Louise xứ Hessen-Darmstadt]]. Thông qua cha của mình, Ludwig là cháu nội của Bá tước [[Ludwig IX xứ Hessen-Darmstadt]] và [[Karoline xứ Pfalz-Zweibrücken]]. Thông qua mẹ của mình, ông là cháu ngoại của [[Georg Wilhelm xứ Hessen-Darmstadt]] và [[Maria Luise Albertine xứ Leiningen-Dagsburg-Falkenburg]]. Vì mẹ của ông là em họ của cha ông, nên dù xét ở bên ngoại hay bên nội thì ông cũng đều thuộc [[Bá quốc Hessen-Darmstadt|Vương tộc Hessen-Darmstadt]] của [[Vương tộc Hessen|Nhà Hessen]]. | |||
Năm 1804, ông đại diện cho cha mình tham dự lễ đăng quang của Hoàng đế [[Napoleon I]] tại [[Paris]]. Sau khi cha ông trở thành Đại công tước vào năm 1806, Ludwig mang tước hiệu “Đại thế tử”. Ludwig đã tham dự [[Đại hội Erfurt]] và [[Đại hội Viên]]. Ông cũng đại diện cho triều đình Hessen tại lễ đăng quang của Vua [[Louis XVIII của Pháp|Louis XVIII]] tại Paris. | |||
Dưới thời Ludwig I, chế độ quân chủ lập hiến của [[Đại công quốc Hessen]] đã thực hiện phân chia quyền lập pháp giữa Đại công tước và Nghị viện, nhưng sau khi lên ngôi, Ludwig II đã sửa đổi hiến pháp đồng thời giảm bớt ảnh hưởng của Nghị viện để củng cố quyền lực cá nhân của mình, ông và Nghị viện xung đột với nhau trong hầu hết thời gian ông ở ngai vàng. Các chính sách này khiến ông mất lòng dân và trong những tháng cuối cùng của triều đại, trong [[Cách mạng 1848]], ông đã gặp phải một số cuộc biểu tình dẫn đến bạo loạn. Đại công tước không có thời gian để đưa ra phản ứng chính trị trước những sự kiện này vì ông qua đời vào ngày 16 tháng 6 năm 1848 ở tuổi 70. Cái chết và sự kế vị của con trai ông đã xoa dịu căng thẳng trong dân chúng. | |||
Tuy ông có 4 người con với người vợ [[Wilhelmine xứ Baden]] (con gái út của Đại thế tử thừa kế [[Karl Ludwig xứ Baden]], vì thế là cháu nội của [[Karl Friedrich xứ Baden|Karl Friedrich]] vị Đại công tước đầu tiên của xứ Baden), nhưng có tin đồn phổ biến rằng, họ là sản phẩm của việc vợ ông ngoại tình với một viên thị thần tên là [[August von Senarclens de Grancy]]. Thông qua cuộc hôn nhân [[quý tiện kết hôn]] của người con trai út là [[Alexander xứ Hessen và Rhein]], '''''ông trở thành tổ phụ của [[Gia tộc Battenberg]]'''''. Thông qua cuộc hôn nhân của con gái ông là [[Marie Maximiliane xứ Hessen và Rhein]] với Sa hoàng [[Aleksandr II của Nga]], ông trở thành tổ ngoại của Hoàng tộc Romanov. | |||
|} | |||
|} | |||
==📕 GIÁO PHẬN VƯƠNG QUYỀN SALZBURG== | |||
===Sigismund von Schrattenbach=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đế chế La Mã Thần thánh|ĐẾ CHẾ LA MÃ THẦN THÁNH]]<hr>[[Giáo phận vương quyền Salzburg|Tổng Giáo phận vương quyền Salzburg]] <br> (1328 - 1803)'''}}||colspan="2"|{{center|[[File:Wappen Erzbistum Salzburg.png|center|62px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Sigismund von Schrattenbach|Tổng giáo mục Vương quyền Sigismund von Schrattenbach]]<br> (1753 - 1771)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Tổng giám mục áp chót của Salzburg}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 thaler Sigismund von Schrattenbach of Salzburg - 1761.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 thaler [[Sigismund von Schrattenbach]] - 1761<hr>264 năm (2025)'''}} ||{{center|[[File:Erzbischof Sigismund von Schrattenbach.JPG|120px]]<br>1761<hr>'''[[AU]]'''}}|| {{center|'''Đường kính'''<br>[[41,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[83,3%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[28,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[23,324 gr]] <hr>'''Số lượng'''<br>[[?]]<hr>3.500.000<br>[[(149,57$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
* Salzburg là quên hương của thiên tài âm nhạc Mozart. | |||
==📕 VƯƠNG QUỐC WURTTEMBERG== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#ccf"|[[File:Coat of Arms of the Kingdom of Württemberg 1817-1921.svg|70px]] | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|TRIỀU ĐẠI WURTTEMBERG | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
[[File:Map-DB-Württemberg.svg|thumb|250px|Vương quốc Württemberg]] | |||
[[Vương tộc Württemberg]] là một triều đại trong lịch sử Đức, xuất hiện vào thế kỷ XI, khởi đầu là một bá quốc thuộc Công quốc Swabia cũ. Vị bá tước đầu tiên của [[Bá quốc Württemberg]] chính là [[Konrad I xứ Württemberg]], ông đã cho xây dựng lâu đài Wirtemberg trên đồi Wirtemberg, thuộc [[Stuttgart]] này nay vào năm 1083 và con cháu ông đã lấy tên lâu đài để làm họ và khai sinh ra triều đại Württemberg. Người Württemberg trở thành bá tước vào thế kỷ XII. Năm 1250, [[Vương tộc Staufer]] cai trị Công quốc Swambia kết thúc tồn tại, điều này đã tạo điều kiện cho Württemberg mở rộng lãnh thổ.<hr> | |||
Lãnh thổ Württemberg mở rộng hơn nữa dưới sự cai trị của [[Ulrich III xứ Württemberg|Ulrich III]], [[Eberhard II xứ Württemberg|Eberhard II]] và [[Eberhard III xứ Württemberg|Eberhard III]]. Dưới thời Eberhard III, Württemberg đã có thêm [[Bá quốc Montbéliard]] (tiếng Đức: Mömpelgard) thông qua cuộc hôn nhân của con trai ông, [[Eberhard I xứ Württemberg|Eberhard IV]], với [[Henriette xứ Montbéliard|Henriette, Nữ bá tước xứ Montbéliard]] vào năm 1397. Năm 1495, tại Đại hội Đế quốc Worms do Hoàng đế [[Maximilian I của Thánh chế La Mã]] triệu tập, [[Bá quốc Württemberg]] được nâng lên thành [[Công quốc Württemberg]].<hr> | |||
Công quốc tồn tại từ năm 1495, với vị Công tước đầu tiên là [[Eberhard I xứ Württemberg]]. Lãnh thổ công quốc nằm trong thung lũng sông Neckar, từ Tübingen đến Heilbronn, với thủ đô và thành phố lớn nhất, Stuttgart, nằm ở trung tâm. Với diện tích khoảng 8.000 km2, công quốc Württemberg là một tập hợp của 350 lãnh dịa nhỏ hơn do nhiều lãnh chúa thế tục và tôn giao khác nhau sở hữu. Württemberg cũng là một trong những vùng đông dân nhất của Đế chế La Mã Thần thánh, nuôi sống 300.000-400.000 cư dân.<hr> | |||
Trong thời gian trị vì ngắn ngủi của Công tước [[Friedrich II Eugene xứ Württemberg]], [[Đệ Nhất Cộng hòa Pháp]] đã xâm lược Württemberg và buộc công tước phải rút khỏi quân đội Đế chế La Mã Thần thánh và trả tiền bồi thường. Mặc dù chỉ cai trị trong hai năm, Friedrich II Eugene đã thực sự giữ được nền độc lập của công quốc. Thông qua các cuộc hôn nhân của con cái, ông đã tạo nên những mối quan hệ đáng chú ý trên khắp châu Âu, bao gồm cả với các gia đình hoàng gia Nga, Áo và Anh.<hr> | |||
Con trai của ông, Công tước [[Friedrich I xứ Württemberg|Friedrich III xứ Württemberg]] (1754–1816), là một thân vương theo hình mẫu của [[Friedrich Đại đế]]. Ông đã tham gia [[Chiến tranh Liên minh thứ hai]] chống lại Pháp bất chấp nguyện vọng của người dân và khi người Pháp một lần nữa xâm lược và tàn phá đất nước, ông đã ở Erlangen, nơi ông ở lại cho đến sau khi [[Hiệp ước Lunéville]] kết thúc vào ngày 9 tháng 2 năm 1801.<hr> | |||
Sau khi hòa giải với Pháp, được ký kết vào tháng 3 năm 1802, ông đã nhượng lại tài sản của mình ở bờ trái sông [[Rhein]], đổi lại ông nhận được 9 thành bang đế chế tự do, trong đó có Reutlingen và Heilbronn và các vùng lãnh thổ khác, tổng cộng khoảng 850 dặm vuông và có khoảng 124.000 cư dân. Ông đã được Đệ nhất tổng tài Napoleon nâng từ địa vị công tước lên [[Tuyển hầu xứ Württemberg]] vào năm 1803.<hr> | |||
Năm 1805, Württemberg trở thành đồng minh của [[Đệ Nhất Đế chế Pháp]], [[Hòa ước Pressburg (1805)|Hòa ước Pressburg]] vào tháng 12 năm 1805, tuyển hầu đã được thưởng nhiều vùng đất khác nhau. Ngày 1 tháng 1 năm 1806, Tuyển hầu xứ Württemberg được nâng lên thành [[Vương quốc Württemberg]], trong suốt cuộc đời mình, ông đã trải qua 3 tước vị cai trị, từ công tước được nâng lên [[tuyển đế hầu]] và cuối cùng là vua.<hr> | |||
Người con thứ 2 của Friedrich là [[Katharina của Württemberg]] đã kết hôn với em trai út của Hoàng đế [[Napoleon I]] là [[Jérôme Bonaparte]] vào năm 1807 và trở thành Vương hậu của [[Vương quốc Westphalia]]. Con của họ gồm có [[Napoléon-Jérôme Bonaparte]] và [[Mathilde Bonaparte]], hậu duệ nam của dòng này hiện là nhánh trưởng của [[Vương tộc Bonaparte]]. <hr> | |||
Sau khi Đế chế Đức được thành lập vào năm 1871, trong 25 nhà nước thành viên thì chỉ có 4 nhà nước có địa vị cao nhất là vương quốc, bao gồm: [[Vương quốc Phổ]], [[Vương quốc Sachsen]], [[Vương quốc Bayern]] và [[Vương quốc Württemberg]]. Nó cũng giống như các nhà nước khác trong Đế chế Đức, đều chấm dứt tồn tại vào năm 1918 khi chế độ quân chủ bị bãi bỏ.<hr> | |||
===Wilhelm I=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Bang liên Đức|BANG LIÊN ĐỨC]]<hr>[[Vương quốc Württemberg]] <br> (1805 - 1918)}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flagge Königreich Württemberg.svg|center|145px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of Arms of the Kingdom of Württemberg 1817-1921.svg|center|85px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Wilhelm I của Württemberg|Vua Wilhelm I]]<br> (1816 - 1864)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị vua thứ 2 của Vương quốc Württemberg}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 thaler Wilhelm of Württemberg 1833.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 thaler [[Wilhelm I của Württemberg|Wilhelm I]]_[[Liên minh quan thuế Đức|Liên minh quan thuế Phổ, Sachsen, Hesse và Thuringia]] - 1833 W<hr>192 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:1880 Erhardt König Wilhelm I. von Württemberg anagoria.JPG|120px]]<br>1833<hr>'''[[AU]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[38,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[86,8%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[29,49 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[25,59732 gr]] <hr>'''Số lượng'''<br>[[83%]]<hr>3.862.000<br>[[(153,25$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
# Ông là anh vợ Jérôme Bonaparte, vua của Westphalia và là em trai út của Hoàng đế Napoleon I | |||
===Karl I=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đế quốc Đức|ĐẾ CHẾ ĐỨC]]<hr>[[Vương quốc Württemberg]] <br> (1805 - 1918)}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flagge Königreich Württemberg.svg|center|145px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of Arms of the Kingdom of Württemberg 1817-1921.svg|center|85px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Karl I của Württemberg|Vua Karl I]] <br>(1864 - 1891)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị vua thứ 3 của Vương quốc Württemberg}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:5 mark Karl I of Wurttemberg - 1876.png|center|700px]]<hr>{{center|'''5 mark [[Charles I của Württemberg|Karl I]] - 1876<hr>149 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:King Karl von Württemberg-Richard Lauchert-IMG 5314.JPG|125px]]<br>1874 - 1888<hr>'''[[XF]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[38,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,777 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,9993 gr]] <hr>'''Số lượng'''<br>[[896.725]]<hr>1.800.000 <br>[[(77,92$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
* Ông là một người đồng tính và không có con, nên ngai vàng được để lại cho người cháu trai. | |||
* Thông qua vợ của mình là [[Olga Nikolayevna của Nga, Vương hậu Württemberg|Hoàng nữ Olga Nikolayevna]], ông là con rể của Hoàng đế [[Nikolai I của Nga]] và em vợ của Hoàng đế [[Aleksandr II của Nga]]. | |||
===Wilhelm II=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đế quốc Đức|ĐẾ CHẾ ĐỨC]]<hr>[[Vương quốc Württemberg]] <br> (1805 - 1918)}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flagge Königreich Württemberg.svg|center|145px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of Arms of the Kingdom of Württemberg 1817-1921.svg|center|85px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Wilhelm II của Württemberg|Vua Wilhelm II]] <br>(1891 - 1918)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị vua cuối cùng của Württemberg}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:5 Mark - Wilhelm II 1900.png|center|700px]]<hr>{{center|'''5 mark [[Wilhelm II của Württemberg|Wilhelm II]] - 1900<hr>125 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Wilhelm II von Württemberg-Rudolph Huthsteiner-IMG 5323.JPG|120px]]<br>1892 - 1913<hr>'''[[XF]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[38,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,777 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,9993 gr]] <hr>'''Số lượng'''<br>[[211.000]]<hr>1.800.000<br>[[(77,92$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
|} | |||
==🍀 THÀNH BANG LUBECK== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#ccf"|[[Tập tin:Wappen Lübeck (Alt).svg|70px]] | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|Thành bang Đế chế Tự do Lübeck | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
[[File:Lübeck.png|thumb|250px|Bản đồ Lübeck]] | |||
Năm 1226, Hoàng đế [[Friedrich II của Thánh chế La Mã]] trao quyền [[Thành bang đế chế|Thành bang Đế chế Tự do]] cho [[Lübeck]]. Vào thế kỷ XIV, Lübeck trở thành ''"Nữ hoàng của [[Liên minh Hanse]]"'' và thủ đô trên thực tế của liên minh, và vào thời điểm đó, là thành viên lớn nhất và quyền lực nhất của tổ chức thương mại thời trung cổ này. [[Liên minh Hanse]], dưới sự lãnh đạo của Lübeck, đã tiến hành nhiều cuộc chiến tranh chống lại [[Đan Mạch]] với các mức độ thành công khác nhau. | |||
Lübeck vẫn giữ thái độ trung lập trong [[Chiến tranh Ba mươi năm]], nhưng với sự tàn phá của chiến tranh và định hướng xuyên Đại Tây Dương mới của thương mại châu Âu, Liên minh Hanse nói chung và Lübeck nói riêng, đã mất đi tầm quan trọng. Sau khi Liên minh Hanse tan rã trên thực tế vào năm 1669, Lübeck vẫn là một đô thị thương mại quan trọng trên [[Biển Baltic]].<hr> | |||
Lübeck vẫn là một Thành bang Đế chế Tự do ngay cả sau thời kỳ [[Hòa giải Đức]] năm 1803 và trở thành một quốc gia có chủ quyền khi [[Đế chế La Mã Thần thánh]] giải thể năm 1806. Trong [[Chiến tranh Liên minh thứ Tư]] chống lại Hoàng đế [[Napoleon I]], quân đội Pháp dưới quyền của [[Karl XIV Johan của Thụy Điển|Thân vương Bernadotte]] đã chiếm đóng Lübeck trung lập sau trận chiến với tướng Phổ [[Gebhard Leberecht von Blücher|Blücher]] vào ngày 6 tháng 11 năm 1806. | |||
Theo [[Hệ thống phong tỏa Lục địa]], thương mại bị ảnh hưởng và từ năm 1811 đến năm 1813, Lübeck chính thức được sáp nhập như một phần của [[Đệ nhất Đế chế Pháp]], thuộc tỉnh [[Bouches-de-l'Elbe]].<hr> | |||
[[Đại hội Viên]] năm 1815 đã tái khẳng định nền độc lập của Lübeck và trở thành một trong 39 nhà nước có chủ quyền của [[Bang liên Đức]]. Lübeck gia nhập [[Liên bang Bắc Đức]] vào năm 1867. | |||
Năm 1871, Lübeck trở thành 1 trong 3 thành bang tự do trong [[Đế quốc Đức|Đế chế Đức]] mới thành lập; 2 thành bang còn lại là [[Hamburg]] và [[Bremen (bang)|Bremen]]. Sau khi đế chế sụp đổ sau [[Chiến tranh thế giới thứ nhất]], Lübeck gia nhập [[Cộng hòa Weimar]] với tư cách là một tiểu bang cấu thành. Vị thế của nó đã bị suy yếu trong thời gian này do Cộng hòa thực thi quyền quyết định thuế. | |||
Dưới thời [[Đức Quốc xã]] nắm quyền, Lübeck, giống như tất cả các tiểu bang Đức khác, đã phải chịu sự điều chỉnh của ''[[Gleichschaltung]]'' (điều phối), năm 1934 nó mất quyền là 1 tiểu bang trong liên bang. Có hai lý do dẫn đến việc chấm dứt tình trạng này: [[Adolf Hitler]] không ưa Lübeck kể từ khi hội đồng thành phố cấm ông ta vận động tranh cử ở đó vào năm 1932, và Lübeck là một phần trong khoản bồi thường cho Phổ vì những tổn thất của nước này trước Hamburg (ngoài Lübeck, Phổ cũng giành được các vùng lãnh thổ Geesthacht của Hamburg, cũng được sáp nhập vào tỉnh Schleswig-Holstein, và Ritzebüttel (bao gồm Cuxhaven), thuộc về Tỉnh Hanover. | |||
Hiện trạng nhà nước tự trị kéo dài 711 năm của Lübeck đã kết thúc vào ngày 1 tháng 4 năm 1937 và hầu như toàn bộ lãnh thổ của nó đã được sáp nhập vào Schleswig-Holstein. Năm 1956, trong cái gọi là quyết định Lübeck, [[Tòa án Hiến pháp Liên bang Đức|Tòa án Hiến pháp Liên bang Tây Đức]] đã duy trì quyết định của chính phủ liên bang nhằm bác bỏ nỗ lực khôi phục quyền tự trị của Lübeck thông qua trưng cầu dân ý. '''''Ba thành bang tự do của Đế chế Đức thì chỉ duy nhất Lübeck là bị xoá bỏ, 2 thành bang còn lại là [[Hamburg]] và [[Bremen (bang)|Bremen]] thì vẫn còn tồn tại đến tận ngày nay'''''. Hiện nay, CHLB Đức có 3 thành bang, gồm có: Berlin, Bremen và Hamburg. | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đế chế La Mã Thần thánh|ĐẾ CHẾ LA MÃ THẦN THÁNH]]<hr>[[Lübeck|Thành bang Đế chế Tự do Hanseatic Lübeck]] <br> (1226 - 1811 & 1815 - 1937)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of the Free City of Lübeck.svg|center|140px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of Arms of Lübeck.svg|79px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Franz I của Thánh chế La Mã|Hoàng đế Franz I]] <br>(1745 - 1765)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Hoàng đế duy nhất của Thánh chế La Mã đến từ Nhà Lorraine}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:48 Schilling of Lübeck 1752.jpg|center|700px]]<hr>{{center|'''48 Schilling của [[Lübeck|Thành bang Lübeck]] 1752<hr>273 năm (2025)'''}}||'''{{center|[[File:Martin van Meytens 006.jpg|120px]]<br>1752<hr>[[AU]]'''}} ||style="background:#ceb"colspan="1"| {{center|'''Đường kính'''<br>[[41,0 mm]] <hr> '''Tỷ lệ bạc'''<br>[[75,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,51 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[20,6325 gr]] <hr>'''Số lượng'''<br>[[4.700.000]]<hr>8.914.000 <br> [[(348,82$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
|} | |||
==🍀 THÀNH BANG AUGSBURG== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#ccf"|[[File:Wappen der Bibliothek zu Augsburg.jpg|70px]] | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|Thành bang Đế chế Tự do Augsburg | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
Augsburg trở thành Thành bang Đế chế Tự do vào ngày 9 tháng 3 năm 1276, và từ đó cho đến năm 1803, thành bang này độc lập với lãnh chúa cũ của mình là [[Giáo phận vương quyền Augsburg]]. Tuy nhiên, những xung đột giữa thành bang và các giám mục vương quyền vẫn thường xuyên xảy ra, đặc biệt là sau khi Augsburg theo Tin Lành và hạn chế các quyền và tự do của người Công giáo. Với vị trí chiến lược tại giao lộ của các tuyến đường thương mại đến Ý, Thành bang Augsburg đã trở thành một trung tâm thương mại lớn. | |||
Augsburg sản xuất một lượng lớn hàng dệt, vải và hàng dệt may. Augsburg trở thành căn cứ của hai gia tộc ngân hàng nổi tiếng, [[gia tộc Fugger]] và [[gia tộc Welser]]. Gia đình Fugger đã tặng phần [[Fuggerei]] của thành bang dành cho nhà ở cho những công dân nghèo vào năm 1516, vẫn được sử dụng cho đến ngày nay. | |||
Năm 1530, [[Tuyên bố Augsburg]] đã được trình lên Hoàng đế La Mã Thần thánh tại [[Hội nghị Augsburg]]. Sau [[Hòa ước Tôn giáo Augsburg|Hòa ước Augsburg]] năm 1555, sau đó quyền của các nhóm tôn giáo thiểu số tại các thành bang đế quốc được bảo vệ hợp pháp, một hội đồng thành bang Công giáo-Tin lành hỗn hợp đã chủ trì một nhóm dân số Tin lành chiếm đa số. | |||
Những năm bùng nổ kinh tế của Augsburg diễn ra trong thế kỷ 15 và 16 nhờ vào các doanh nghiệp ngân hàng và kim loại của các gia tộc thương gia Fugger, Welser và [[Gia tộc Hochstetter|Hochstetter]]. Những gia đình này nắm giữ gần như toàn bộ độc quyền trong các ngành công nghiệp quan trọng. Độc quyền được coi là tội phạm trong luật đương thời và chính [[Martin Luther]] đã chỉ trích các hoạt động của những gia đình này, nhưng vì Hoàng đế [[Karl V của Thánh chế La Mã]] cần sự hỗ trợ tài chính của họ, nên ông đã hủy bỏ khoản phí này vào những năm 1530. | |||
Vào thế kỷ 16, Augsburg trở thành một trong những thành bang lớn nhất của Đức. Augsburg là một trung tâm sản xuất lớn về hàng dệt may, áo giáp, dụng cụ khoa học, cũng như nghề kim hoàn và bạc. Những người thợ in sung mãn của Augsburg cũng biến thành phố này trở thành nhà sản xuất sách tiếng Đức lớn nhất ở Đế chế La Mã Thần thánh. Giống như các thành bang đế chế tự do khác, Augsburg là một thực thể độc lập và có thẩm quyền đối với các chính sách thuế của mình. | |||
Augsburg được hưởng lợi lớn từ việc thành lập và mở rộng [[Kaiserliche Reichspost]] vào cuối thế kỷ 15 và đầu thế kỷ 16. Hệ thống bưu chính này, là dịch vụ bưu chính hiện đại đầu tiên trên thế giới, được tạo ra thông qua các cuộc đàm phán và thỏa thuận giữa gia gia tộc [[Thurn và Taxis]] đại diện. Thành bang đế chế đã trở thành "trung tâm thống trị của chủ nghĩa tư bản ban đầu" của thế kỷ XVI và "nơi có bưu điện quan trọng nhất trong Đế chế La Mã Thần thánh". | |||
[[Reichsdeputationshauptschluss]] hay Kỳ họp cuối cùng năm 1803, đã chứng kiến sự sáp nhập của hầu hết 51 Thành bang Đế quốc Tự do, ngoại trừ Augsburg và 5 thành bang khác. Tuy nhiên, khi Đế chế La Mã Thần thánh bị giải thể vào năm 1806, Napoleon đã khuyến khích các đồng minh Đức của mình sáp nhập các nước láng giềng nhỏ hơn của họ, và Augsburg đã mất đi nền độc lập. Thành bang này đã được sáp nhập vào [[Vương quốc Bayern]]. Năm 1817, thành bang này trở thành thủ phủ hành chính của Oberdonaukreis, sau đó là thủ phủ hành chính vào năm 1837 cho huyện [[Schwaben (Bayern)|Swabia và Neuburg]]. | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đế chế La Mã Thần thánh|ĐẾ CHẾ LA MÃ THẦN THÁNH]]<hr>[[Augsburg|Thành bang Đế chế Tự do Augsburg]] <br> (1276 - 1806)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:DEU Augsburg Flag.svg|center|130px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Wappen der Bibliothek zu Augsburg.jpg|70px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Franz I của Thánh chế La Mã|Hoàng đế Franz I]] <br>(1745 - 1765)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Hoàng đế duy nhất của Thánh chế La Mã đến từ Nhà Lorraine}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 thaler Francis I 1765.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 conventionsthaler [[Francis I của Thánh chế La Mã|Francis I]] - 1765<hr>250 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Martin van Meytens 006.jpg|120px]]<br>'''1765<hr>[[AU]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[41,0 mm]] <hr> '''Tỷ lệ bạc'''<br>[[83,3%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[28,06 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[23,374 gr]] <hr>'''Số lượng'''<br>[[?]]<hr>4.500.000 <br> [[(193,13$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
|} | |||
==🍀 THÀNH BANG FRANKFURT== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#ccf"|[[Tập tin:DEU Frankfurt am Main COA.svg|70px]] | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|THÀNH BANG ĐẾ CHẾ TỰ DO FRANKFURT | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
Frankfurt là một thành bang tự quản từ năm 1220, đến năm 1372, nó được tuyên bố là [[Thành bang đế chế|Thành bang đế chế tự do]] (Freie und Reichsstadt), biến nó thành một thực thể trực thuộc Hoàng đế [[Đế chế La Mã Thần thánh]]. Từ năm 885, nó đã trở thành nơi bầu cử đế quốc và từ năm 1562, nó trở thành nơi đăng quang của các Hoàng đế Thánh chế La Mã (trước đó là [[Thành bang tự do Aachen]]). | |||
Do tầm quan trọng của nó đối với đế quốc, Frankfurt đã tồn tại qua [[Hòa giải Đức|quá trình hòa giải]] vào năm 1803. Sau khi Đế chế La Mã Thần thánh sụp đổ vào năm 1806, Frankfurt rơi vào tay Hoàng đế [[Napoleon I]], người đã trao thành bang cho [[Karl Theodor Anton Maria von Dalberg]] - Cựu [[Tuyển hầu xứ Mainz]]; thành bang này được gọi là [[Đại công quốc Frankfurt|Thân vương quốc Frankfurt]]. | |||
Năm 1810, Dalberg đã sáp nhập Frankfurt với [[Thân vương quốc Aschaffenburg]], [[Wetzlar|Bá quốc Wetzlar]], [[Fulda]] và [[Hanau]] để thành lập [[Đại công quốc Frankfurt]]. Vì Dalberg là một giáo sĩ, không lập gia đình, nên Napoleon đã thu xếp để cho người con riêng của vợ là [[Eugène de Beauharnais]] (phó vương Ý) trở thành người thừa kế Đại công quốc. | |||
Sau thất bại của Napoleon và sự sụp đổ của [[Liên bang Rhein]], thông qua [[Đại hội Viên]] năm 1815, Frankfurt đã được phục hồi và trở thành một thành bang có chủ quyền và là thành viên của [[Bang liên Đức]]. | |||
Trong thời kỳ Bang liên Đức, Frankfurt vẫn tiếp tục là một thành bang lớn. Cơ quan quản lý của liên bang, [[Hội đồng liên bang (Bang liên Đức)|Bundestag]] (tên chính thức là Bundesversammlung, Hội đồng Liên bang) được đặt tại [[Palais Thurn und Taxis]] ở trung tâm thành bang Frankfurt. | |||
Năm 1866, [[Vương quốc Phổ]] đã xảy ra chiến tranh với [[Đế quốc Áo]] vì [[Schleswig-Holstein]], gây ra [[Chiến tranh Áo-Phổ]]. Frankfurt, vẫn trung thành với Bang liên Đức, đã không tham gia với Phổ, nhưng vẫn giữ thái độ trung lập. Sau chiến thắng của Phổ, Frankfurt đã bị sáp nhập theo sắc lệnh của Vua Phổ vào ngày 20 tháng 9 và trở thành một phần của [[Tỉnh Hessen-Nassau]] mới thành lập.<hr> | |||
Năm 1760, [[Mayer Amschel Rothschild]] đã thành lập ra ngân hàng của mình tại Frankfurt, khởi đầu cho đế chế ngân hàng của [[Gia tộc Rothschild]].<hr> | |||
Không thể đo lường chính xác sức mua của đồng guilder Frankfurt theo đơn vị tiền tệ hiện nay vì không có rổ hàng hóa chung. Giá trị bạc nguyên chất của đồng guilder tương ứng với khoảng 6,54 euro theo giá bạc hiện nay. Một phương pháp chuyển đổi khác sử dụng tiêu chuẩn vàng có hiệu lực từ năm 1871 đến năm 1914 với tỷ giá chuyển đổi cố định là 15,5:1 từ tiền bạc sang tiền vàng cũng như chỉ số giá xây dựng của Cục Thống kê Liên bang dựa trên năm 1914 (hiện tại: 12,304). Điều này dẫn đến sức mua được tính toán là 21,09 euro cho một guilder. So sánh sức mua dựa trên dữ liệu từ Cục Lưu trữ Nhà nước Hamburg và Cục Thống kê Liên bang cho thấy sức mua là 16,90 euro cho một guilder (1866).''''' Đồng xu 2 thaler tương đương với 3,5 guider sẽ tương đương với 59,15 euro'''''. | |||
|- | |||
! style="background:#ccf"|[[Tập tin:Great coat of arms of Rothschild family.svg|50px]] | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|M. A. Rothschild & Söhne <br> (1810 - 1901) | |||
|- | |||
|style="background:LemonChiffon;"| | |||
[[Mayer Amschel Rothschild]] (1744–1812) thành lập ngân hàng [[M. A. Rothschild & Söhne]] như một quan hệ đối tác bao gồm chính ông và năm người con trai của ông là [[Amschel Mayer Rothschild|Amschel]], [[Salomon Mayer von Rothschild|Salomon]], [[Nathan Mayer Rothschild|Nathan]], [[Carl Mayer von Rothschild|Carl]] và [[James Mayer de Rothschild|Jakob]] (sau này được gọi là James). Sau khi Mayer Amschel qua đời vào năm 1812, con trai cả của ông là Amschel (1773–1855) đã tiếp quản quyền lãnh đạo công ty. | |||
Sau khi [[Chiến tranh Napoleon]] kết thúc, năm anh em đã ký kết một thỏa thuận đối tác mới giữa họ. Năm 1822, năm anh em được [[Franz II của Thánh chế La Mã|Hoàng đế Franz I của Áo]] trao tặng danh hiệu Nam tước cha truyền con nối, sau đó tên của công ty Frankfurt được đổi thành “M.A. von Rothschild & Söhne”. | |||
[[Amschel Mayer Rothschild]] tập trung vào việc phục vụ nhu cầu tài chính của nhiều thân vương và quân chủ Đức, bao gồm cả việc duy trì mối quan hệ mà cha ông đã xây dựng với [[Tuyển hầu xứ Hessen]]. Do đó, M. A. Rothschild & Söhne đã có thể thay thế [[gia tộc Bethmann]] có trụ sở tại Frankfurt trở thành đơn vị phát hành [[trái phiếu chính phủ]] hàng đầu tại khu vực nói [[tiếng Đức]] trong khoảng thời gian từ năm 1820 đến năm 1830. | |||
Sau khi Amschel qua đời vào năm 1855, quyền quản lý ngân hàng chính thức được chuyển cho các cháu trai của ông là [[Mayer Carl von Rothschild]] (1820–1886) và [[Wilhelm Carl von Rothschild]] (1828–1901), cả hai đều là đối tác từ năm 1852. | |||
Với cái chết của Wilhelm Carl von Rothschild vào năm 1901, dòng dõi nam giới của chi nhánh Rothschild ở Frankfurt đã bị xóa sổ và ngân hàng đã tiến hành quá trình thanh lý có trật tự. Hầu hết các kho lưu trữ của ngân hàng đã bị thiêu hủy vào năm 1901 theo lệnh của các thành viên còn sống của [[gia tộc Rothschild]]. | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Bang liên Đức|BANG LIÊN ĐỨC]] <hr>[[Thành bang tự do Frankfurt]] <br> (1372 - 1806 & 1813 - 1866)}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of the Free City of Frankfurt.svg|center|130px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:DEU Frankfurt am Main COA.svg|center|77px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Franz Joseph I của Áo|Hoàng đế Franz Joseph I của Áo]]<br>(1850 - 1866)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Chủ tịch thứ 5 và cuối cùng của Bang liên Đức}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:2 Vereinsthaler of Frankfurt 1860.png|center|700px]]<hr>{{center|'''2 Vereinsthaler [[Thành bang tự do Frankfurt]] - 1861<hr>164 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:TomvonDregerKaiserFranzJosef.JPG|120px]]<br>'''1860 - 1866<hr>[[AU|AU-58]]'''}} ||style="background:#ceb"colspan="1"| {{center|'''Đường kính'''<br>[[41,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[37.04 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[33,336 gr]] <hr>'''Số lượng'''<br>[[1.787.000]]<hr>13.000.000<br>[[(509,50$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
|} | |||
==🍀 THÀNH BANG BREMEN== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#ccf"|[[File:Bremen greater coat of arms.svg|70px]] | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|Thành bang Hanse tự do Bremen | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
Năm 1186, Tổng giám mục vương quyền [[Hartwig xứ Uthlede]] và viên chấp sự của ông ở Bremen đã xác nhận [[Đặc quyền Gelnhausen năm 1186|Đặc quyền Gelnhausen]], theo đó Hoàng đế [[Friedrich I của Thánh chế La Mã|Frederick I Barbarossa]] đã trao cho thành phố quyền tự chủ đáng kể về mặt lập pháp và tài chính. Tài sản trong ranh giới thành phố được miễn thuế phong kiến, bao gồm cả nông nô, những người được coi là tự do nếu họ sống trong thành phố ít nhất một năm một ngày. Nền tảng cho tuyên bố sau này của Bremen về vị thế là Thành bang đế chế tự do nằm ở đặc quyền đế quốc này, được Tổng giám mục Gerhard II xác nhận và mở rộng vào năm 1233, để đổi lấy sự hỗ trợ trong [[Thập tự chinh Stedinger]]. | |||
Năm 1260, Bremen gia nhập [[Liên minh Hanse]]. Một liên minh thương mại của các thị thành Bắc Âu, liên minh này tập trung ở [[Lübeck]], một căn cứ cho các thương gia từ Sachsen và Westphalia buôn bán ở phía đông Baltic. Đây là nguồn cung cấp gỗ, sáp, hổ phách, nhựa thông và lông thú, cùng với lúa mạch đen và lúa mì được vận chuyển bằng xà lan từ vùng đất xa xôi đến các chợ cảng. Có tầm quan trọng ngang bằng với các hội buôn hùng mạnh, hay Hansa, của Bremen là khả năng kiểm soát hoạt động buôn bán cá muối [[Biển Bắc]] của Liên minh, và trên hết là Thị trường Scania.<hr> | |||
Khi [[Đế chế La Mã Thần thánh]] bị giải thể vào năm 1806, Thành bang Đế chế Tự do Bremen đã [[Hòa giải Đức|không bị trung gian hoá]] như phần lớn các thành bang khác. Thay vì được sáp nhập vào lãnh thổ mở rộng của một trong những chế độ quân chủ xung quanh, Bremen đã được công nhận (cùng với [[Hamburg]]) là một [[Liên minh Hanse|Thành bang Hanse Tự do]] có chủ quyền. Tiền tệ của thành bang này cho đến năm 1873 là đồng [[thaler Bremen]]. | |||
Năm 1811, trong nỗ lực thực thi [[Nghị định Berlin]] của [[Napoleon I|Napoleon]] cấm vận Vương quốc Anh, [[Đệ Nhất Đế chế Pháp]] đã sáp nhập thành bang này. Nhưng tại [[Đại hội Viên]] năm 1815, sứ giả của Bremen là [[Johann Smidt]] (thị trưởng sau này), đã vận động thành công để khôi phục nền độc lập của thành bang này như một trong 39 nhà nước có chủ quyền trong [[Bang liên Đức]] mới. | |||
Năm 1827, Bremen đã mua đất ở cửa sông Weser từ [[Vương quốc Hannover]] để xây dựng một cảng biển mới, đó là [[Bremerhaven]]. Điều này đảm bảo rằng Bremen vẫn là hải cảng chính của Đức để di cư đến [[châu Mỹ]] và phát triển thành một trung tâm trung chuyển cho hoạt động thương mại thuộc địa phát triển muộn của Đế chế Đức. | |||
Năm 1867, một năm sau khi [[Vương quốc Phổ]] đánh bại [[Đế quốc Áo]] và sáp nhập Vương quốc Hannover, Bremen gia nhập [[Liên bang Bắc Đức]]. Năm 1871, sau [[Chiến tranh Pháp-Phổ|chiến thắng trước]] [[Đệ Nhị Đế chế Pháp]], nơi này trở thành Đế chế Đức với Bremen là một trong 26 nhà nước cấu thành của Đế chế.<hr> | |||
Các cuộc ném bom của quân Đồng minh trong [[Thế chiến II]] đã phá hủy hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho 60% kết cấu xây dựng của thành bang, bao gồm phần lớn trung tâm lịch sử của thành bang. Sau một cuộc ném bom tiếp theo, quân đội Anh đã tiến vào Bremen vào cuối tháng 4 năm 1945. Được chuyển giao cho người Mỹ, Bremen trở thành cảng tiếp tế cho các [[Đồng Minh chiếm đóng Đức|khu vực chiếm đóng của Hoa Kỳ]] ở phía tây Berlin và miền Nam nước Đức. | |||
Thành bang được tái lập thành một bang vào năm 1947 và từ năm 1949, một lần nữa được gọi là Thành bang Hanse tự do Bremen, trở thành một vùng đất hoặc bang của Cộng hòa Liên bang Đức mới, được gọi một cách không chính thức là "[[Tây Đức]]" cho đến năm 1990. | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đế quốc Đức|ĐẾ CHẾ ĐỨC]] <hr>[[Bremen (bang)|Thành bang Hanse tự do Bremen]] <br> (1233 - 1811 & 1815 - Nay)}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Bremen.svg|center|125px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Bremen Wappen(Mittel).svg|center|57px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Wilhelm I, Hoàng đế Đức|Hoàng đế Wilhelm I của Đức]]<br>(1871 - 1888)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|'''{{center|Hoàng đế đầu tiên của Đế chế Đức}}''' | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 Thaler of Bremen - "Siegestaler" 1871.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 Thaler [[Bremen (bang)|Thành bang tự do Bremen]]_[[Chiến tranh Pháp-Phổ|Chiến thắng Pháp năm 1871]]<hr>154 năm (2025)'''}}||{{center|[[Tập tin:Kaiser Wilhelm I. .JPG|120px]]<br>'''1891-1913<hr>[[MS|UNC]]'''}} || style="background:#ceb"colspan="1"|{{center|'''Đường kính'''<br>[[34,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[98,6%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[17,539 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[17,293454 gr]] <hr>'''Số lượng'''<br>[[61.000]]<hr>5.946.000<br>[[(232,63$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
|} | |||
==🍀 THÀNH BANG HAMBURG== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đế quốc Đức|ĐẾ CHẾ ĐỨC]] <hr>[[Hamburg|Thành bang tự do Hamburg]] <br> (1871 - Nay)}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Hamburg.svg|center|130px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of Arms of Hamburg.svg|center|87px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Wilhelm II, Hoàng đế Đức|Hoàng đế Wilhelm II]]<br> (1888 - 1918)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Hoàn đế thứ 3 và cuối cùng của Đế chế Đức}} | |||
|- | |||
| [[File:5 Marks of Hamburg - 1913J.png|center|700px]]<hr>{{center|'''5 Mark [[Hamburg|Thành bang tự do Hamburg]] - 1913J<hr>112 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Wilhelm II AEHering.jpg|120px]]<br>'''1891-1913<hr>[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[38,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,777 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,9993 gr]] <hr>'''Số lượng'''<br>[[327.000]]<hr>2.569.000<br>[[(109,32$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==📕 BADEN-DURLACH== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#ccf"|[[File:Berthold V, Duke of Zähringen.jpg|70px]] | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|NHÀ ZAHRINGEN | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
[[File:Markgrafschaft Baden-Durlach.png|thumb|250px|Bá quốc Baden-Durlach]] | |||
[[File:Map of Baden (1819-1945).png|thumb|250px|Đại công quốc Baden]] | |||
[[Vương tộc Zähringen]] là một triều đại thuộc quý tộc Swabia, tên của gia tộc này bắt nguồn từ [[Lâu đài Zähringen]] gần [[Freiburg im Breisgau]]. Tổ tiên sớm nhất được biết đến của gia tộc này là Berthold, Bá tước ở Breisgau (mất năm 982), người được nhắc đến lần đầu tiên vào năm 962. Theo tên của ông, ông có thể có quan hệ họ hàng với triều đại [[Alaholfings]].<hr> | |||
Trong suốt thế kỷ XI, [[Công quốc Swabia]] thiếu một cơ quan quyền lực trung ương mạnh mẽ và nằm dưới sự kiểm soát của nhiều triều đại khác nhau, mạnh nhất trong số đó là [[Vương tộc Staufer|Nhà Hohenstaufen]], [[Nhà Welf]], [[Nhà Habsburg]] và [[Nhà Zähringen]]. Tuy nhiên, Hoàng đế [[Heinrich III của Thánh chế La Mã]] đã hứa trao ngôi vị công tước cho Bá tước [[Berthold II xứ Carinthia|Berthold I xứ Zähringen]], khi Heinrich III qua đời vào năm 1056, người vợ góa của ông là [[Agnes xứ Poitou]] đã bổ nhiệm [[Rudolf xứ Rheinfelden]] làm [[Công tước]] của Swabia. Berthold từ bỏ quyền của mình và được bồi thường bằng [[Công quốc Carinthia]] và [[Hầu quốc Verona]] ở [[Ý]] vào năm 1061. Không thể tự lập, cuối cùng ông đã mất cả hai lãnh thổ khi bị Vua [[Heinrich IV của Thánh chế La Mã|Heinrich IV của Đức]] phế truất trong [[Tranh cãi việc bổ nhiệm giáo sĩ]] vào năm 1077. Berthold lui về lãnh thổ quê hương Swabia của mình, nơi ông qua đời vào năm sau. [[Berthold II xứ Carinthia|Berthold I]] là người đầu tiên của gia tộc được phong công tước, điều này đã nâng gia tộc Zähringer lên hàng ngủ công hầu. <hr> | |||
Sau cái chết của Berthold I vào năm 1077, tước hiệu và tài sản được phân chia cho 2 người con trai của ông và tạo ra 2 dòng của Nhà Zähringen: | |||
* Người con trưởng là [[Herman I xứ Baden|Herman]] vẫn giữ tước hiệu [[Hầu quốc Verona|Phiên hầu xứ Verona]]. Con trai của Herman I là [[Herman II xứ Baden|Herman II]], chính là người đầu tiên sử dụng danh hiệu [[Bá quốc Baden|Phiên hầu xứ Baden]] vào năm 1112 và Herman II chính thức trở thành ông tổ của tất cả các quân chủ xứ Baden. Dòng trưởng của Nhà Zähringen vẫn còn tồn tại cho đến tận ngày nay và thường được gọi là '''[[Danh sách quân chủ Baden|Nhà Baden]]'''. Hậu duệ của Herman đã cai trị Phiên hầu Baden rồi [[Tuyển hầu xứ Baden]] và cuối cùng được nâng lên [[Đại công quốc Baden]], triều đại này tồn tại đến năm 1918, khi chế độ quân chủ bị bãi bỏ ở Đức. | |||
* Người con trai út của Berthold I là [[Berthold II xứ Swabia|Berthold]] thừa kế tước hiệu [[Công tước xứ Zähringen]]. Sau cái chết của vị công tước đời thứ 5 là [[Berthold V xứ Zähringen]] vào năm 1218, dòng nam của các Công tước xứ Zähringen đã tuyệt tự. | |||
<hr> | |||
Các lãnh thổ và thái ấp do nhà Zähringer nắm giữ được gọi là Công quốc Zähringen, nhưng không được coi là một công quốc ngang hàng với các công quốc gốc. Nhà Zähringer đã cố gắng mở rộng lãnh thổ của họ ở Swabia và Burgundy thành một công quốc được công nhận hoàn toàn, nhưng sự mở rộng của họ đã bị dừng lại vào những năm 1130 do mối thù của họ với [[Nhà Welf]].<hr> | |||
Theo đuổi tham vọng lãnh thổ của mình, Nhà Zähringer đã thành lập nhiều thành phố và tu viện ở cả hai bên [[Rừng Đen]], cũng như ở phía tây [[Cao nguyên Thụy Sĩ]]. Sau khi dòng dõi công tước tuyệt tự vào năm 1218, một số phần lãnh thổ của gia tộc đã trở lại với hoàng gia (đạt được [[quyền đế quốc trực tiếp]]), trong khi các phần khác được chia cho các [[gia tộc Kyburg]], [[Nhà Urach|Urach]] và [[Nhà Fürstenberg (Swabia)|Fürstenberg]]. | |||
|- | |||
! style="background:#ccf"|[[File:Arms of the house of Baden.svg|70px]] | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|TRIỀU ĐẠI BADEN | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
[[Herman II xứ Baden|Herman II]], con trai của Herman I và là cháu trai của Berthold, đã ký kết một thỏa thuận với triều đại Hohenstaufen đối địch, và khoảng năm 1098 đã được Hoàng đế [[Heinrich IV của Thánh chế La Mã]] ban cho lãnh thổ với [[quyền đế quốc trực tiếp]] (immediate). Ông đã chọn định cư tại Đức vì ông sinh ra và lớn lên ở đó. Lãnh địa mà ông lựa chọn là Baden (ngày nay là [[Baden-Baden]]), nơi cha ông đã giành được quyền cai trị thông qua kết hôn với người thừa kế là Judit von Backnang-Sulichgau, Nữ bá tước xứ [[Calw|Eberstein-Calw]]. Tại Baden, Herman II đã cho xây dựng [[Lâu đài Hohenbaden]]. Việc xây dựng bắt đầu vào khoảng năm 1100 và khi hoàn thành vào năm 1112, ông đã đánh dấu sự kiện này bằng cách nhận tước hiệu [[Bá quốc Baden|Phiên hầu xứ Baden]], khai sinh ra dòng [[Danh sách quân chủ Baden|Zähringen-Baden]] thường được gọi là Nhà Baden. Vì thế, Herman II trở thành ông tổ của tất cả các bá tước, tuyển hầu và đại công tước xứ Baden.<hr> | |||
Trong suốt lịch sử của mình, Phiên hầu Baden đã được phân tách ra nhiều lần và từ đó tạo ra các chi nhánh. Đến thời [[Karl Friedrich xứ Baden|Karl Friedrich xứ Baden-Durlach]] thì mới thống nhất lại toàn bộ lãnh thổ của [[Bá quốc Baden|Phiên hầu Baden]] trước đây sau 235 năm chia cắt, vì dòng [[Bá quốc Baden-Baden|Baden-Baden]] tuyệt tự dòng nam vào năm 1771, sau cái chết của vị phiên hầu cuối cùng là [[August Georg xứ Baden-Baden]].<hr> | |||
Với sự cai trị khôn ngoan của mình, [[Karl Friedrich xứ Baden|Karl Friedrich]] đã nhận được nhiều lãnh thổ trong quá trình [[Hòa giải Đức]], cho đến khi ông qua đời, diện tích của Baden tăng lên 13,3 lần, từ 1.771 km2 tăng lên 15.082 km2. Ông sống thọ 83 tuổi và tại vị trong 73 năm, trở thành một trong những quân chủ tại vị lâu nhất trong lịch sử châu Âu và thế giới.<hr> | |||
Năm 1803, ông được Đệ Nhất Tổng tài Napoleon của Pháp nâng lên [[Tuyển hầu xứ Baden]], sau khi [[Đế chế La Mã Thần thánh]] bị giải thể vào năm 1806, ông được Hoàng đế Napoleon I nâng lên [[Đại công quốc Baden|Đại công tước xứ Baden]]. Con cháu của ông đã cại trị Đại công quốc Baden cho đến khi chế độ quân chủ ở Đức bị bãi bỏ vào năm 1918. | |||
|- | |||
! style="background:#ccf"|[[Tập tin:Wappen Baden Durlach Siebmacher V2.PNG|70px]] | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|Phiên hầu xứ Baden-Durlach | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
===Karl Friedrich [[Đã bán]]=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đế chế La Mã Thần thánh|ĐẾ CHẾ LA MÃ THẦN THÁNH]]<hr>[[Bá quốc Baden-Durlach|Phiên Bá quốc Baden-Durlach]] <br> (1535 - 1771)}}||colspan="1"|{{center|[[File:Banner of Baden (1^1).svg|center|94px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Arms of the house of Baden (2).svg|center|80px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Karl Friedrich xứ Baden|Bá tước Karl Friedrich]] <br>(1738 - 1771)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị Bá tước thứ 9 và cuối cùng của Baden-Durlach; Bá tước cuối cùng của Baden; Tuyển đế hầu duy nhất của Baden và Đại công tước đầu tiên của xứ Baden}} | |||
|- | |||
|[[File:1 konventionsthaler Karl Friedrich - 1766.png|thumb|center|700px|{{center|'''1 konventionsthaler [[Karl Friedrich xứ Baden|Karl Friedrich]] - 1766<hr>259 năm (tính từ 2025)''']]}}||{{center|[[File:August Bootz - Bildnis Markgraf Karl Friedrich von Baden - 2040 - Staatliche Kunsthalle Karlsruhe.jpg|120px]]<br>1764 - 1766<hr>'''[[VF]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[42,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[83,3%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[26,6 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[23,824 gr]] <hr>'''Số lượng'''<br>[[367.000]]<hr>5.720.177<br>[[(242,64$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|} | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#fbd"|KARL FRIEDRICH | |||
|- | |||
|style="background:LemonChiffon;"| | |||
Karl Friedrich trở thành Bá tước xứ Baden-Durlach vào ngày 12/5/1738, sau cái chết của ông nội ông là Bá tước Karl III Wilhelm. Năm 1771, ông thừa kế thêm Bá quốc Baden-Baden, sau khi vị bá tước của xứ này là August Georg Simpert qua đời mà không để lại người thừa kế hợp pháp. Cả 2 bá quốc này đều được người Nhà Zahringen cai trị, trước đó là một Bá quốc thống nhất với tên gọi Baden, thành lập từ năm 1112, nhưng đến năm 1535 thì tách ra làm 2 và đến thời của Karl Friedrich mới được thống nhất trở lại.<hr/> | |||
Karl Friedrich là một nhà cai trị đầy tham vọng và có chiến lược rõ ràng, lúc đầu ông liên minh với Nhà Habsburg-Lorraine để chống lại Cách mạng Pháp, sau đó ông đứng về phía Napoleon I, và chính vị hoàng đế này đã thưởng cho ông nhiều đất đai và nâng ông lên Tuyển đế hầu vào năm 1803. Sau khi Đế chế La Mã Thần thánh tan rã vào năm 1806, lãnh thổ của ông được nâng lên Đại công quốc. <hr> | |||
Ông thừa kế Bá quốc Baden-Durlach chỉ với 1.631 km2, sau đó thừa kế thêm Bá quốc Baden-Baden chỉ với 140,18 km2, nhưng đến khi ông qua đời, lãnh thổ của ông lên đến 15.082 km2, có nghĩa là tăng gấp 13,3 lần lãnh thổ ban đầu. <hr> | |||
Ông mất vào năm 1811, và là một trong những nhà cai trị qua đời trong kỷ nguyên Napoleon, nên không thể thấy sự sụp đổ của đồng minh - Đệ Nhất Đế chế Pháp. Ông thọ 83 tuổi và nắm quyền cai trị trong 73 năm, trải qua 3 tước vị khác nhau: Bá tước, Tuyển đế hầu và Đại công tước, chưa từng có một nhà cai trị nào làm được điều này như ông.<hr> | |||
Ông có 2 đời vợ, người vợ sau là thường dân, nên bị xem là "quý tiện kết hôn", nên con cái không được nhận tước vị và thừa kế, nhưng đến năm 1817, con cháu của người vợ đầu đã qua đời gần hết mà không để lại người kế vị, để tránh ngai vàng rơi vào tay của người anh rể Maximilian I Joseph của Bayern, vị Đại công tước đương nhiệm (cháu nội của Karl Friedrich) đã hợp pháp hoá dòng dõi vợ kế của ông nội mình để họ có thể thừa kế ngai vàng của Baden. Năm 1830, con trai cả của cuộc hôn nhân thứ hai là Leopold đã kế vị làm Đại công tước.<hr> | |||
Thông qua cháu cố gái là [[Marie Amelie xứ Baden]] (con gái út của [[Karl Ludwig Friedrich xứ Baden]] và [[Stéphanie de Beauharnais]], con nuôi của hoàng đế [[Napoleon I]]), ông trở thành tổ ngoại của các [[Công tước xứ Hamilton]], bắt đầu từ [[William Hamilton, Công tước thứ 12 xứ Hamilton]] và thông qua cháu sơ của mình là [[Mary Victoria Hamilton]], ông trở thành tổ ngoại của các Thân vương xứ Monaco, bắt đầu từ [[Louis II của Monaco]], và [[Rainier III của Monaco]] là cháu đời thứ 7.<hr> | |||
Thông qua cháu cố là [[Josephine xứ Baden]], con gái của [[Karl Ludwig Friedrich xứ Baden]] và [[Stéphanie de Beauharnais]] (nghĩa nữ của Hoàng đế [[Napoleon I]]), Karl Friedrich là ông sơ của Vua [[Carol I của România]] và là tổ ngoại của tất cả vị vua Romania còn lại; Ông cũng là ông sơ [[Stephanie xứ Hohenzollern-Sigmaringen]], vương hậu của Bồ Đào Nha khi thành hôn với Vua [[Pedro V của Bồ Đào Nha|Pedro V]]<hr> | |||
Cháu nội gái của ông là [[Luise xứ Baden]] trở thành hoàng hậu Đế chế Nga qua cuộc hôn nhân với [[Aleksandr I của Nga]], cũng vì lý do này mà trong quá trình [[Hòa giải Đức]] Aleksandr I đã cố gắng bảo vệ Baden và giúp cho nó có thể nhiều lãnh thổ. Tương tự đó, Nga hoàng cũng bảo vệ và tạo nhiều lợi thế cho [[Công quốc Württemberg]], quê hương của mẹ ông [[Sophie Dorothee xứ Württemberg]]. Trong quá trình Hòa giải Đức, Karl nhận được số lãnh thổ gấp 4,4 lần diện tích và 7 lần dân số đã bị Pháp sáp nhập (mất 450km2 với 30.000 dân, nhưng được bồi thường 2.000 km2 với 210.000 dân). | |||
|} | |||
==📕 ĐẠI CÔNG QUỐC BADEN== | |||
===Leopold I=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Bang liên Đức|BANG LIÊN ĐỨC]]<hr>[[Đại Công quốc Baden]] <br> (1815 - 1848)}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flagge Großherzogtum Baden (1891–1918).svg|center|150px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of Arms of the Grand Duchy of Baden 1877-1918.svg|center|75px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Leopold, Đại công tước xứ Baden|Đại công tước Leopold]] <br>(1830 - 1852)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị Đại công tước thứ 4 xứ Baden}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 thaler Leopold I of Baden 1831.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 Kronenthaler [[Leopold, Đại công tước xứ Baden|Leopold I]] - 1831<hr>194 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Leopold, Grand Duke of Baden.PNG|120px]]<br> '''1830 - 1837<hr>[[AU]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[39,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[87,2%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[29,49 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[25,715 gr]] <hr>'''Số lượng'''<br>[[168.080]]<hr>3.641.000<br>[[(152,34$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
* Thông qua vợ [[Sofia Wilhelmina của Thụy Điển]], ông là con rể của [[Gustav IV Adolf của Thụy Điển]] và [[Gustav III của Thụy Điển]] là ông nội vợ. | |||
===Friedrich I=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đế quốc Đức|ĐẾ CHẾ ĐỨC]]<hr>[[Đại Công quốc Baden]] <br> (1815 - 1848)}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flagge Großherzogtum Baden (1891–1918).svg|center|170px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of Arms of the Grand Duchy of Baden 1877-1918.svg|center|80px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Friedrich, Đại công tước xứ Baden|Đại công tước Friedrich I]] <br>(1858 - 1907)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị Đại công tước thứ 6 và áp chót của xứ Baden}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:5 mark Frederick I of Baden - 1876.png|center|700px]]<hr>{{center|'''5 mark [[Friedrich, Đại công tước xứ Baden|Frederick I]] - 1876<hr>149 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Friedrich I of Baden.jpg|120px]]<br>1874 - 1888<hr>'''[[XF]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[38,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,777 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,9993 gr]] <hr>'''Số lượng'''<br>[[473.000]]<hr>1.800.000<br>[[(77,92$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="7"|<hr/> | |||
|} | |||
===Friedrich II=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đế quốc Đức|ĐẾ CHẾ ĐỨC]]<hr>[[Đại Công quốc Baden]] <br> (1815 - 1848)}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flagge Großherzogtum Baden (1891–1918).svg|center|170px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of Arms of the Grand Duchy of Baden 1877-1918.svg|center|80px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Friedrich II, Đại công tước xứ Baden|Đại công tước Friedrich II]] <br>(1907 - 1918)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị Đại công tước thứ 7 và cuối cùng của xứ Baden}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:5 mark of Frederick II - 1908.png|center|700px]]<hr>{{center|'''5 mark [[Friedrich II, Đại công tước xứ Baden|Frederick II]] - 1908<hr>117 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Grossherzog Friedrich II von Baden.jpg|120px]]<br>1908 - 1913<hr>'''[[XF]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[37,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,77 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,993 gr]] <hr>'''Số lượng'''<br>[[184.000]]<hr>1.800.000<br>[[(77,92$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
|} | |||
==📗 ĐẠI CÔNG QUỐC OLDENBURG== | |||
===Peter II (4)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Bang liên Đức|BANG LIÊN ĐỨC]]<hr>[[Đại Công quốc Oldenburg]] <br> (1815 - 1848)}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Oldenburg (Scandinavian Cross).svg|center|150px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coats of arms Grand Duché d Oldenbourg.svg|center|70px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Peter II xứ Oldenburg|Đại công tước Peter II]] <br>(1853 - 1900)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị Đại công tước thứ 4 và áp chót của Oldenburg}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 Vereinsthaler - Peter II of Oldenburg 1866.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 Vereinsthaler [[Peter II xứ Oldenburg|Peter II]] - 1866<hr>159 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:NicolaasFrederikPeter.jpg|120px]]<br> '''1858 - 1866<hr>[[AU]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[33,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[18,52 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[16,668 gr]] <hr>'''Số lượng'''<br>[[168.080]]<hr>6.340.000<br>[[(243,85$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==❇️ TUYỂN HẦU XỨ SACHSEN== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#ccf"|[[File:Armoiries Saxe2.svg|70px]] | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|TRIỀU ĐẠI WETTIN | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
Thành viên được biết đến sớm nhất của nhà Wettin chính là [[Theodoric I xứ Wettin]], còn được gọi là Dietrich, Thiedericus và Thierry I xứ Liesgau (mất khoảng năm 982). Ông có lẽ lúc đầu sống ở Liesgau (rìa phía Tây của sông Harz). Vào năm 1000, gia tộc này đã mua lại [[Lâu đài Wettin]], được xây dựng bởi người Slav ở địa phương và lấy tên lâu đài để đặt làm họ của mình. '''''Khoảng năm 1030, gia tộc Wettin nhận được đất [[Phiên hầu Đông Sachsen]] (Sächsische Ostmark) làm [[thái ấp]]'''''.<hr> | |||
Sự nổi bật của Nhà Wettin ở Phiên hầu Đông Sachsen (hay Ostmark) đã khiến Hoàng đế [[Heinrich IV của Thánh chế La Mã]] '''''trao cho họ [[Bá quốc Meissen|Phiên hầu Meissen]] làm thái ấp vào năm 1089'''''. Gia tộc này đã phát triển trong suốt thời Trung cổ: năm 1263, họ thừa hưởng [[Landgraf|Phong địa bá quốc]] [[Thüringen]] (mặc dù không có Hessen) và năm 1423, họ được trao cho [[Công quốc Sachsen]], có trung tâm tại [[Wittenberg]], do đó trở thành một trong những [[Tuyển đế hầu]] của [[Đế chế La Mã Thần thánh]].<hr> | |||
Vương tộc này chia thành hai nhánh cai trị vào năm 1485 khi các con trai của [[Friedrich II, Tuyển hầu xứ Sachsen|Friedrich II xứ Sachsen]] chia các vùng lãnh thổ mà trước đó vẫn được họ cai trị chung. Người con trai cả [[Ernst, Tuyển hầu xứ Sachsen|Ernst]], kế vị cha mình với tư cách là [[Tuyển hầu xứ Sachsen]], đã nhận được các vùng lãnh thổ được giao cho Tuyển đề hầu (Tuyển hầu xứ Sachsen) và Thuringia, trong khi người em trai [[Albrecht III xứ Sachsen|Albrecht]] của ông đã giành được [[Bá quốc Meissen|Phiên hầu Meissen]], với kinh đô là [[Dresden]]. Vì Albrecht cai trị dưới danh hiệu "Công tước xứ Sachsen", nên các vùng đất của ông cũng được gọi là Công quốc Sachsen.<hr> | |||
'''[[Các công quốc Ernestine|Nhánh Ernestine]]:''' là dòng trưởng của Nhà Wettin, thừa kế ngôi vị [[Tuyển hầu xứ Sachsen]], họ đóng vai trò quan trọng trong sự khởi đầu của Cải cách Tin Lành. [[Friedrich II, Tuyển hầu xứ Sachsen|Tuyển hầu Friedrich III]] (Friedrich der Weise) bổ nhiệm [[Martin Luther]] (1512) và [[Philipp Melanchthon]] (1518) vào [[Đại học Wittenberg]], nơi ông thành lập vào năm 1502 và bảo vệ Martin Luther khỏi bị phe Công giáo bắt giữ. | |||
* Nhánh Ernestine truyền tước vị tuyển đế hầu được 5 đời thì mất vào tay của nhánh Albertine trong [[Chiến tranh Schmalkaldic]] (1546-1547) giữa các thân vương Tin Lành [[Liên minh Schmalkaldic]] với Hoàng đế [[Karl V của Thánh chế La Mã]] đứng đầu phe Công giáo. Nhánh Albertine tuy cũng là người theo Tin Lành nhưng lại ủng hộ hoàng đế. | |||
* Sau [[Trận Mühlberg]] (1547), [[Johann Friedrich I xứ Sachsen|Tuyển hầu Johann Friedrich I]] của dòng Ernestine, đã phải nhượng lại lãnh thổ (bao gồm cả Wittenberg) và quyền [[tuyển đế hầu]] cho người anh em họ là Công tước [[Moritz xứ Sachsen]] của dòng Albertine. | |||
* Kể từ đó, dòng Ernestine mất vị trí tuyển đế hầu, họ cai trị lãnh thổ nhỏ hơn, ít quan trọng hơn. Sau đó, lãnh thổ bị phân mảnh thành nhiều công quốc bởi các người thừa kế, tạo ra những chi nhánh, có những chi nhánh tuyệt tự dòng nam nên lãnh thổ lại nhập lại với các chi nhánh khác. Đến thế kỷ XIX, hậu duệ của chi nhánh [[Sachsen-Coburg và Gotha]] đã được bầu lên ngôi vua [[Bỉ|Vương quốc Bỉ]], [[Vương quốc Bulgaria]], thừa kế ngai vàng [[Vương quốc Bồ Đào Nha]], [[Vương quốc Anh]]. | |||
* Khi [[Đế quốc Đức]] thành lập vào năm 1871, nó quy tụ 27 nhà nước thành viên, trong đó có 4 nhà nước nằm dưới quyền cai trị của Nhánh Ernestine, gồm có: Đại công quốc [[Sachsen-Weimar-Eisenach]]; [[Công quốc Sachsen-Coburg và Gotha]]; [[Công quốc Sachsen-Altenburg]]; Công quốc [[Sachsen-Meiningen]]. | |||
<hr> | |||
'''[[Tuyển hầu xứ Sachsen|Nhánh Albertine]]:''' Sau khi ủng hộ Hoàng đế [[Karl V của Thánh chế La Mã]] đánh bại phe Tin Lành trong [[Chiến tranh Schmalkaldic]], Công tước [[Moritz xứ Sachsen]] đã được trao lãnh thổ [[Tuyển hầu xứ Sachsen]] và tước tuyển đế hầu. Từ đó, dòng Albertine tuyền tay nhau tước vị này cho đến khi [[Đế chế La Mã Thần Thánh]] cáo chung vào năm 1806, trải qua 259 năm với 12 đời tuyển đế hầu. | |||
* Năm 1806, Tuyển hầu xứ Sachsen được nâng lên thành [[Vương quốc Sachsen]], dòng Albertine trở thành vương tộc. Trong 27 nhà nước thành viên của Đế quốc Đức thì có 5 nhà nước được cai trị bởi người Nhà Wettin, trong đó 4 nhà nước của dòng Ernestine. | |||
* Có 3 tuyển đế hầu Sachsen kiêm nhiệm ngai vàng Ba Lan, gồm có: [[August II của Ba Lan]] (1697-1704); [[August III của Ba Lan]] (1733-1763); [[Friedrich August I của Sachsen|Friedrich August, Đại công tước Warsaw]] (1807-1815). | |||
===August I=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đế quốc La Mã Thần thánh|ĐẾ CHẾ LA MÃ THẦN THÁNH]]<hr>[[Tuyển hầu xứ Sachsen]] <br> (1356 - 1806)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:State flag of Saxony before 1815.svg|center|135px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Blason Jean-Georges IV de Saxe.svg|center|80px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[August xứ Sachsen|Tuyển đế hầu August]] <br>(1553 - 1586)}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Tuyển đế hầu thứ 2 thuộc dòng Albertine}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 Thaler of Sachsen - August I 1568.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 Thaler [[August, Tuyển hầu xứ Sachsen|August]] - 1568<hr>457 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Cyriacus Reder - Prince Elector August of Saxony (1586) - Google Art Project-2.jpg|100px]]<br>1567 - 1586<hr>'''[[AU|AU Detail]]'''}} || style="background:#ceb"colspan="1"|{{center|'''Đường kính'''<br>[[40,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[?%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[29,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[? gr]] <hr>'''Số lượng'''<br>[[?]]<hr>14.200.000<br>[[(578,95$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#fbd"|AUGUST | |||
|- | |||
|style="background:LemonChiffon;"| | |||
Ông là em trai của [[Moritz xứ Sachsen]] vị tuyển đế hầu đầu tiên của Sachsen đến từ dòng Albertin của Nhà Wettin. Năm 1553, Moritz qua đời mà không để lại người thừa kế nam, vì thế em trai ông là August đã lên kế vị, lúc đó ông 27 tuổi. Tất cả các tuyển đế hầu xứ Sachsen cho đến khi [[Đế chế La Mã Thần thánh]] xụp đổ vào năm 1806 đều là hậu duệ của ông, tương tự đó, tất cả các vị quân chủ của [[Vương quốc Sachsen]] cũng đều là hậu duệ của ông.<hr> | |||
Sau khi vợ ông là Anna của Đan Mạch qua đời được 3 tháng, lúc đó August gần 60 tuổi đã kết hôn với Thân vương nữ Agnes Hedwig xứ Anhalt lúc đó chỉ mới 13 tuổi. Chưa đầy 1 tháng sau khi lấy người vợ thứ 2, ông qua đời.<hr> | |||
August tuy là tuyển đế hầu đời thứ 2, nhưng ông mới là người hợp pháp hoá ngôi vị tuyển đế hầu cho dòng Albertine sau khi đạt được một thoả thuận với Cựu tuyển đế hầu [[Johann Friedrich I xứ Sachsen|Johann Friedrich I]] của dòng Ernestine vào năm 1554.<hr> | |||
[[Anna xứ Sachsen]] con của [[Moritz xứ Sachsen]] và vì thế August là chú ruột của bà. Anna trở thành người vợ thứ 2 của [[Willem I xứ Oranje|Willem Trầm lặng]], người sáng lập ra [[Vương tộc Oranje-Nassau]] và lãnh đạo người Hà Lan chống lại Tây Ban Nha, dẫn đến [[Chiến tranh tám mươi năm]], kết quả là Hà Lan giành được độc lập năm 1648, mở ra [[Cộng hòa Hà Lan]]. [[Maurits xứ Oranje]], vị Thân vương thứ 3 xứ Orange là con trai của bà, ông ấy giữ chức [[stadtholder]] của tất cả các tỉnh Hà Lan, ngoại trừ Frisia. | |||
|} | |||
===Friedrich August III=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đế quốc La Mã Thần thánh|ĐẾ CHẾ LA MÃ THẦN THÁNH]]<hr>[[Tuyển hầu xứ Sachsen]] <br> (1356 - 1806)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:State flag of Saxony before 1815.svg|center|135px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Blason Jean-Georges IV de Saxe.svg|center|80px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Friedrich August I của Sachsen|Tuyển đế hầu Friedrich August III]] <br>(1763 - 1806)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị tuyển đế hầu cuối cùng và vị vua đầu tiên của Sachsen}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 conventionsthaler Frederick Augustus III of Sachsen - 1792.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 conventionsthaler [[Friedrich August I của Sachsen|Frederick Augustus III]] - 1792<hr>233 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Frederick Augustus I of Saxony by Marcello Bacciarelli (ca 1808-1809).png|120px]]<br>1791 - 1806<hr>'''[[XF]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[41,5 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[83,3%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[28,063 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[23,377 gr]] <hr>'''Số lượng'''<br>[[?]]<hr>2.850.000<br>[[(122,32$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==❇️ VƯƠNG QUỐC SACHSEN== | |||
===Johann I=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Bang liên Đức|BANG LIÊN ĐỨC]] <hr>[[Vương quốc Sachsen]] <br> (1806 - 1918)}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flagge Königreich Sachsen (1815-1918).svg|center|130px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Small Arms of the Kingdom of Saxony 1806-1918.svg|center|91px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Johann I của Sachsen|Vua Johann I]] <br>(1854 - 1873)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị vua thứ 4 của Vương quốc Sachsen}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
| [[File:1 thaler of Sachsen - Friedrich August II (death) 1854.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 thaler_[[Friedrich August II của Sachsen|Kỷ niệm sự qua đời của Vua Friedrich August II]] - 1854<hr>171 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Gonne-Johann.jpg|120px]]<br>1854<hr>'''[[AU]]'''}} || style="background:#ceb"colspan="1"|{{center|'''Đường kính'''<br>[[34,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[75,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[22,272 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[16,704 gr]] <hr>'''Số lượng'''<br>[[15.683]]<hr>5.500.000<br>[[(223,4$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
===Friedrich August III=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đế quốc Đức|ĐẾ CHẾ ĐỨC]]<hr>[[Vương quốc Sachsen]] <br> (1806 - 1918)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flagge Königreich Sachsen (1815-1918).svg|center|130px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Small Arms of the Kingdom of Saxony 1806-1918.svg|center|91px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Friedrich August III của Sachsen|Vua Friedrich August III]]<br> (1904 - 1918)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị vua thứ 7 và cuối cùng của Sachsen}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
| [[File:5 Marks Friedrich August III of Sachsen - 1914.png|center|700px]]<br>{{center|'''5 Mark [[Friedrich August III của Sachsen|Friedrich August III]] - 1914<hr>102 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Friedrich August III van Saksen.jpg|120px]]<br>1907 - 1914<hr>'''[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[38,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,77 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,993 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[298.000]]<hr>3.091.000<br>[[(131,53$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
# Khi Friedrich August III đang mặc đồng phục đứng ở sân ga, nhà vua được một phụ nữ yêu cầu bê đồ của cô ra khỏi xe và ông đã trả lời người phụ nữ rằng: "Thưa bà, tôi không phải là người khuân vác; tôi chỉ trông giống một người khuân vác mà thôi." | |||
|} | |||
==❇️ SACHSEN-GOTHA-ALTENBURG== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#ccf"|[[File:Middle Arms of the Duchy of Saxe-Altenburg.svg|70px]] | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|TRIỀU ĐẠI SACHSEN-GOTHA-ALTENBURG | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
[[File:Locator Duchy of Saxe-Gotha-Altenburg (1680).svg|thumb|250px|Công quốc Sachsen-Gotha-Altenburg]] | |||
[[Sachsen-Gotha-Altenburg]] là một chi nhánh của dòng [[Các công quốc Ernestine|Ernestine]] thuộc [[Nhà Wettin]], được sáng lập bởi [[Ernst I xứ Sachsen-Gotha|Ernst Ngoan đạo]] vào năm 1640, sau khi ông được chia cho lãnh thổ [[Sachsen-Gotha]] theo hiệp ước phân chia lãnh thổ của các anh em ông sau cái chết của người cha là [[Johann II xứ Sachsen-Weimar]]. Đến năm 1675, ông thừa kế thêm [[Sachsen-Altenburg]] từ nhà vợ (tuyện tự dòng nam) và hợp nhất lại trở thành [[Sachsen-Gotha-Altenburg]].<hr> | |||
Sau khi [[Ernst I xứ Sachsen-Gotha|Ernst Ngoan đạo]] qua đời vào năm 1675, lãnh địa của ông đã được chia cho 7 người con trai, vì thế ông là tổ tiên của 7 chi nhánh thuộc dòng Ernestine, gồm có: [[Sachsen-Gotha-Altenburg]] (1672-1826); [[Sachsen-Coburg]] (1680-1735); [[Sachsen-Meiningen]] (1680-1918); [[Sachsen-Römhild]] (1680-1710); [[Sachsen-Eisenberg]] (1680-1707); [[Sachsen-Hildburghausen]] (1680-1826) và [[Sachsen-Saalfeld]] (1680-1735). Tất cả 4 nhà nước thuộc dòng Ernestine trong Đế chế Đức đều là hậu duệ của ông.<hr> | |||
Người con trưởng của [[Ernst I xứ Sachsen-Gotha|Ernst Ngoan đạo]] là [[Friedrich I xứ Sachsen-Gotha-Altenburg|Friedrich]] là người đầu tiên xưng Công tước xứ Sachsen-Gotha-Altenburg. Tước vị trải qua 7 đời công tước thì tuyệt tự dòng nam sau cái chết của [[Friedrich V xứ Sachsen-Gotha-Altenburg|Công tước Friedrich V]] vào năm 1825. Sự tuyệt tự này đã làm bùng nổ một cuộc tranh chấp quyền kế vị của 3 chi nhánh công tước còn lại. Năm 1826, thông qua sự dàn xếp của Vua [[Friedrich August I của Sachsen]], lãnh thổ được chia như sau: | |||
* [[Sachsen-Gotha]] được chuyển giao cho Công tước [[Sachsen-Coburg-Saalfeld]], công quốc này phải nhượng lại [[Sachsen-Saalfeld]] cho Sachsen-Meiningen. Sự thừa kế này đã tạo nên [[Công quốc Sachsen-Coburg và Gotha]], triều đại này sau đó đã lên ngôi vua của [[Bỉ|Vương quốc Bỉ]], [[Vương quốc Bồ Đào Nha]], [[Vương quốc Anh]] và [[Vương quốc Bulgaria]]. | |||
* [[Sachsen-Altenburg]] được trao cho Công tước xứ [[Sachsen-Hildburghausen]], người sau đó đã chuyển nhượng lãnh địa của của mình cho [[Sachsen-Meiningen]]. Sự thừa kế này đã tái lập Công quốc [[Sachsen-Altenburg]]. | |||
* [[Bernhard II xứ Sachsen-Meiningen]] được nhận Sachsen-Saalfeld và Sachsen-Hildburghausen. | |||
<hr> | |||
===Friedrich III [[Đã bán]]=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đế chế La Mã Thần thánh|ĐẾ CHẾ LA MÃ THẦN THÁNH]] <hr>[[Sachsen-Gotha-Altenburg|Công quốc Sachsen-Gotha-Altenburg]] <br> (1680 - 1826)}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Sachsen-Gotha-Altenburg.svg|center|150px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Middle Arms of the Duchy of Saxe-Altenburg.svg|center|110px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Friedrich III xứ Sachsen-Gotha-Altenburg|Công tước Friedrich III]]<br> (1732 - 1772)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị công tước thứ 4 xứ Sachsen-Gotha-Altenburg}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
| [[File:Thaler Frederick III of Sachsen-Gotha-Altenburg, 1764XF.png|center|700px]]<hr>{{center|'''Thaler [[Friedrich III xứ Sachsen-Gotha-Altenburg|Friedrich III]] - 1764<hr>261 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Frederick III of Saxe-Gotha-Altenburg - Museen Thueringen.png|120px]]<br>1764<hr>'''[[XF]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[42,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[83,3%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[28,6 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[23,824 gr]] <hr>'''Số lượng'''<br>[[?]]<hr>7.075.000<br>[[(296,03$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
# Ông là cậu ruột của vua [[George III của Anh]], vì [[Augusta xứ Sachsen-Gotha-Altenburg]], mẹ của George III là em gái của ông. | |||
|} | |||
==❇️ SACHSEN-COBURG & GOTHA== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#ccf"|[[File:Coat of Arms of the Duchy of Saxe-Coburg and Gotha.svg|70px]] | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|TRIỀU ĐẠI SACHSEN-COBURG & GOTHA | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
[[File:Saxe-Coburg and Gotha in the German Reich (1871).svg|thumb|250px|Bản đồ lãnh thổ]] | |||
Tiền thân của [[Vương tộc Sachsen-Coburg và Gotha|Triều đại Sachsen-Coburg và Gotha]] là [[Sachsen-Saalfeld]] được thành lập sau khi [[Ernst I xứ Sachsen-Gotha|Ernst Ngoan đạo]] qua đời vào năm 1675, lãnh thổ của ông đã được chia cho 7 người con trai và nó đã phát triển thành 7 chi nhánh của [[Các công quốc Ernestine|Dòng Ernestine]] thuộc [[Nhà Wettin]]. Người con trai út là [[Johann Ernst IV|Johann Ernst]] đã được thừa kế vùng [[Sachsen-Saalfeld]] với phong hiệu là Johann Ernst IV, nhưng Công quốc mới không có được sự độc lập hoàn toàn.<hr> | |||
Khi [[Albrecht V xứ Sachsen-Coburg|Albrecht V]], Công tước xứ [[Sachsen-Coburg]], qua đời năm 1699 mà không có hậu duệ nào còn sống, các tranh chấp đã nảy sinh về quyền thừa kế, đặc biệt là với [[Bernhard I xứ Sachsen-Meiningen|Bernhard I]], Công tước xứ [[Sachsen-Meiningen]], và chúng không được giải quyết cho đến năm 1735. Hầu hết các tài sản của Sachsen-Coburg đã được trao cho Sachsen-Saalfeld và Công quốc [[Sachsen-Coburg-Saalfeld]] được thành lập với Johann Ernst IV nắm quyền cai trị.<hr> | |||
Sau cái chết của [[Friedrich V xứ Sachsen-Gotha-Altenburg]] vào năm 1825, chi nhánh [[Sachsen-Gotha-Altenburg]] đã tuyệt tự dòng nam. Sự tuyệt tự này đã làm bùng nổ một cuộc tranh chấp quyền kế vị của 3 chi nhánh công tước còn lại. Năm 1826, thông qua sự dàn xếp của Vua [[Friedrich August I của Sachsen]], theo đó [[Ernst I xứ Sachsen-Coburg và Gotha|Công tước Ernst III]] của Sachsen-Coburg-Saalfeld sẽ được nhận [[Sachsen-Gotha]] nhưng phải nhượng lại [[Sachsen-Saalfeld]] cho Công quốc [[Sachsen-Meiningen]], chính điều này đã đánh dấu sự ra đời của Công quốc [[Sachsen-Coburg và Gotha]] và nó tồn tại cho đến khi chế độ quân chủ bị bãi bỏ ở Đức vào năm 1918.<hr> | |||
Sachsen-Coburg-Saalfeld có 7 đời công tước, tồn tại từ năm 1735 đến năm 1826 thì chuyển thành Sachsen-Coburg và Gotha và trải qua 4 đời công tước nữa thì chế độ quân chủ bị bãi bỏ.<hr> | |||
Vị công tước quan trọng nhất của chi nhánh này chính là [[Franz I xứ Sachsen-Coburg-Saalfeld]]. Ông là một nhà cai trị không nổi bật trong [[Đế quốc La Mã Thần thánh]], nhưng ông đã trở nên quan trọng và nổi tiếng trong lịch sử châu Âu thông qua các con cái của mình. 3 người con trai của ông và các hậu duệ nam của họ đã lần lược tạo ra 4 vương tộc nhánh của Sachsen-Coburg và Gotha, cai trị 4 nhà nước ở châu Âu, gồm có: Vương quốc Bỉ, Vương quốc Anh, Vương quốc Bồ Đào Nha và Vương quốc Bulgaria. | |||
|- | |||
! style="background:#ccf"|[[File:Coat of Arms of the Duchy of Saxe-Coburg and Gotha.svg|70px]] | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|Triều đại Sachsenr-Coburg và Gotha của Đức & Sachsenr-Coburg và Gotha của Anh | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
Sau cái chết của [[Friedrich V xứ Sachsen-Gotha-Altenburg]] vào năm 1825, chi nhánh [[Sachsen-Gotha-Altenburg]] đã tuyệt tự dòng nam. Con trai trưởng của [[Franz I xứ Sachsen-Coburg-Saalfeld]] là [[Ernst I xứ Sachsen-Coburg và Gotha|Công tước Ernst III xứ Sachsen-Coburg-Saalfeld]] đã được thừa kế Sachsen-Gotha nhưng phải nhường Sachsen-Saalfeld, vì thế ông trở thành Công tước đầu tiên của Công quốc Sachsen-Coburg và Gotha, khai sinh ra Vương tộc [[Sachsen-Coburg và Gotha]]. Con trai của ông là [[Albrecht xứ Sachsen-Coburg và Gotha|Công tử Albert]] đã kết hôn với [[Victoria của Anh|Vương tôn nữ Victoria]] vào năm 1840, sau này là Nữ hoàng Victoria. Sau khi con trai trưởng của cặp đôi này là [[Edward VII của Anh|Edward VII]] lên ngôi vua vào năm 1901, Sachsen-Coburg và Gotha đã thay thế [[Vương tộc Hannover]] trị vì nước Anh. Mẹ của Victoria là [[Victoire xứ Sachsen-Coburg-Saalfeld|Công nữ Marie Luise Victoire]], vì thế chồng bà cũng là anh em họ đời đầu của bà<hr> | |||
Vương tộc này trị vì nước Anh từ năm 1901 đến năm 2022, trải qua 121 năm với 5 đời quân chủ: [[Edward VII của Anh|Edward VII]] (1901-1910); [[George V của Anh|George V]] (1910-1936); [[Edward VIII của Anh|Edward VIII]] (1-12/1936); [[George VI của Anh|George VI]] (1936-1952) và [[Elizabeth II]] (1952-2022). Sau khi [[Charles III]] tiếp nhận ngai vàng thì [[Vương tộc Glücksburg]] chính thức thay thế Sachsen-Coburg và Gotha trở thành triều đại mới của Vương quốc Anh.<hr> | |||
Sau khi [[Ernst II xứ Sachsen-Coburg và Gotha]] qua đời mà không có người thừa tự vào năm 1893, ngai vàng công quốc Sachsen-Coburg và Gotha đã được thừa kế bởi con trai thứ 2 của Albert và Victoria là [[Alfred xứ Sachsen‑Coburg và Gotha|Vương tử Alfred]]. Vì thế [[Nhánh Sachsen-Coburg Gotha của Anh]] ban đầu xuất phát từ [[Nhánh Sachsen-Coburg Gotha của Đức]], nhưng kể từ 1893 thì 2 nhánh này hợp nhất lại làm một. | |||
|- | |||
! style="background:#ccf"|[[File:Coat of Arms of the King of the Belgians.svg|70px]] | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|Triều đại Sachsen-Coburg Gotha của Bỉ | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
Người con trai út của Công tước [[Franz I xứ Sachsen-Coburg-Saalfeld]] là [[Léopold I của Bỉ|Công tử Leopold]], đã được bầu lên ngai vàng của Vương quốc Bỉ vào năm 1831 và hậu duệ của ông vẫn trị vì vương quốc này cho đến tận ngày nay. Ông kết hôn lần đầu với [[Charlotte Augusta xứ Wales|Vương tôn nữ Charlotte Augusta xứ Wales]], con gái của [[George IV của Anh]], người qua đời vì biến chứng khi sinh con vào ngày 6 tháng 11 năm 1817. Kết hôn lần thứ hai vào ngày 9 tháng 8 năm 1830 với [[Louise Marie của Orléans]], con gái của [[Louis-Philippe I của Pháp]] và các con của ông bao gồm [[Léopold II của Bỉ]] và [[Charlotte của Bỉ|Hoàng hậu Charlotte của Mexico]]. Nếu Vương tôn nữ Charlotte không qua đời, Leopold sẽ trở thành Vương tế Anh chứ không được bàu lên ngai vàng Bỉ.<hr> | |||
Hậu duệ của Leopold vẫn trị vì Vương quốc Bỉ cho đến tận ngày nay, đã trải qua 194 năm với 7 đời quân chủ: [[Léopold I của Bỉ|Léopold I]] (1831-1865); [[Léopold II của Bỉ|Léopold II]] (1865-1909); [[Albert I của Bỉ|Albert I]] (1909-1934); [[Léopold III của Bỉ|Léopold III]] (1934-1951); [[Baudouin của Bỉ|Baudouin ]] (1951-1993); [[Albert II của Bỉ|Albert II]] (1993-2013) và [[Philippe của Bỉ|Philippe]] (2013-Nay).<hr> | |||
Người đang đứng thứ nhất trong dòng kế vị ngai vàng của Bỉ là [[Élisabeth của Bỉ]] với tước hiệu [[Công tước xứ Brabant|Nữ công tước xứ Brabant]]. Người đứng thứ 2 trên dòng kế vị chính là em trai của cô, [[Gabriel của Bỉ|Vương tử Gabriel]], thứ 3 là [[Emmanuel của Bỉ|Vương tử Emmanuel]] và thứ 4 là [[Eléonore của Bỉ|Vương nữ Eléonore]]. | |||
|- | |||
! style="background:#ccf"|[[File:Larger State Achievement of Bulgaria 1908-1946.svg|70px]] [[File:Brasão do Fernando II.svg|70px]] | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|Triều đại Sachsen-Coburg Gotha-Koháry & Bragança-Saxe-Coburgo-Gota | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
Người con trai thứ 2 của Công tước [[Franz I xứ Sachsen-Coburg-Saalfeld]] là [[Ferdinand xứ Sachsen-Coburg và Gotha|Công tử Ferdinand]] kết hôn với [[Mária Antónia Koháry xứ Csábrág và Szitnya|Thân vương nữ Mária Antónia Koháry]] người thừa kế của [[Nhà Koháry]] giàu có; cha của [[Fernando II của Bồ Đào Nha]] và ông nội của [[Ferdinand I của Bulgaria]]. Thông qua cuộc hôn nhân của mình, ông trở thành người sáng lập ra [[Vương tộc Sachsen-Coburg và Gotha-Koháry|nhánh Công giáo Koháry]] của [[Vương tộc Sachsen-Coburg và Gotha|dòng Sachsen-Coburg và Gotha]].<hr> | |||
Con trai trưởng của Ferdinand và Mária Antónia là [[Fernando II của Bồ Đào Nha|Thân vương Ferdinand August]] trở thành chồng của Nữ vương [[Maria II của Bồ Đào Nha]], sau khi sinh được người thừa kế thì Ferdinand August chiếu theo Luật ''[[Jure uxoris]]'' ông được tôn lên làm vua đồng cai trị với vợ, lấy vương hiệu Fernando II vào năm 1837, nâng nhà [[Vương tộc Saxe-Coburg và Gotha-Koháry|Sachsen-Coburg và Gotha-Koháry]] lên hàng vương tộc, dù các vua của Bồ Đào Nha vẫn gọi triều đại của mình là [[Vương tộc Bragança|Bragança]].<hr> | |||
Bốn vị vua cuối cùng của Vương quốc Bồ Đào Nha đều đến từ vương tộc này: [[Pedro V của Bồ Đào Nha|Pedro V]] (1853-1861); [[Luís I của Bồ Đào Nha|Luís I]] (1861-1889); [[Carlos I của Bồ Đào Nha|Carlos I]] (1889-1908) và [[Manuel II của Bồ Đào Nha|Manuel II]] (1908-1910). Sau cái chết của cựu vương [[Manuel II của Bồ Đào Nha|Manuel II]] năm 1932, vương tộc tuyệt tự dòng nam.<hr> | |||
Con trai thứ hai của Ferdinand và Mária Antónia là [[August xứ Sachsen-Coburg và Gotha|Thân vương August]] đã kết hôn với Vương nữ [[Clémentine của Orléans]], con gái út của Vua [[Louis-Philippe I của Pháp]] và con trai út của cặp đôi này là [[Ferdinand I của Bulgaria|Thân vương Ferdinand Maximilian]] đã được bầu làm [[Thân vương quốc Bulgaria|Thân vương Bulgaria]] với vương hiệu Ferdinand I vào năm 1886, sau khi Thân vương [[Aleksandr I của Bulgaria]] bị lật đổ. Năm 1908, Ferdinand I lập ra [[Vương quốc Bulgaria|Sa quốc Bulgaria]] và trở thành sa hoàng đầu tiên của vương quốc này. Hai vị sa hoàng cuối cùng của Bulgaria là [[Boris III của Bulgaria|Boris III]] và [[Simeon Sakskoburggotski|Simeon II]] là hậu duệ của ông.<hr> | |||
Năm 2001, cựu vương Simeon II đã đắc cử và trở thành Thủ tướng thứ 48 của Bulgaria, ông trở thành 1 trong 2 người từng làm vua của một chế độ quân chủ, vừa được bầu làm thủ tướng của một nhà nước cộng hòa trong hai giai đoạn riêng biệt. | |||
===Ernst II=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Liên bang Bắc Đức|LIÊN BANG BẮC ĐỨC]] <hr>[[Sachsen-Coburg và Gotha|Công quốc Sachsen-Coburg và Gotha]]<br> (1826 - 1818)}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flagge Herzogtum Sachsen-Coburg-Gotha (1911-1920).svg|center|125px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of Arms of the Duchy of Saxe-Coburg and Gotha.svg|center|80px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Ernst II xứ Sachsen-Coburg và Gotha|Công tước Ernst II]]<br> (1844 - 1893)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị công tước thứ 2 xứ Sachsen-Coburg và Gotha; Nếu tính cả Sachsen-Coburg-Saalfeld thì là Công tước thứ 7}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 Vereinsthaler - Ernest II 1869.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 Vereinsthaler_[[Ernst II xứ Sachsen-Coburg và Gotha|Kỷ niệm 25 năm trị vì của Ernst II]] - 1869<hr>156 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Ernest II.jpg|120px]]<br>1764<hr>'''[[AU]]'''}} || style="background:#ceb"colspan="1"|{{center|'''Đường kính'''<br>[[33,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[18,52 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[16,758 gr]] <hr>'''Số lượng'''<br>[[6.000]]<hr>7.800.000<br>[[(307,69$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#fbd"|ERNST II | |||
|- | |||
|style="background:LemonChiffon;"| | |||
'''''Ernst giống với [[Rudolf của Áo]] trong việc quan hệ tình dục bừa bãi dẫn đến nhiễm bệnh tình dục, rồi lây nhiễm cho vợ dẫn đến vợ bị vô sinh. Vợ của Rudolf của Áo trước khi bị nhiễm vẫn có một cô con gái, trong khi đó vợ của Ernst thì vô sinh và không bao giờ sinh con được.''''' | |||
Ernst II (1818-1893) là vị Công tước thứ 2 của xứ Sachsen-Coburg và Gotha, cha ông vốn là Công tước [[Ernst I xứ Sachsen-Coburg và Gotha|Ernst III xứ Sachsen-Coburg và Saalfeld]], nhưng qua một lần trao đổi lãnh thổ vào năm 1826, ông nhận được Gotha và mất Saalfeld nên công quốc đổi tên lành [[Sachsen-Coburg và Gotha]] và đổi vương hiệu thành Ernst I.<hr> | |||
Ernst II là <span style="background: #FFFFCC;">anh ruột của [[Albrecht xứ Sachsen-Coburg và Gotha|Thân vương Albert]], chồng của [[Nữ hoàng Victoria]]</span>, cả hai anh em cũng đồng thời là anh em họ đời đầu của Victoria vì mẹ của Victoria là [[Victoire xứ Sachsen-Coburg-Saalfeld]] vốn là em gái ruột của cha họ là Công tước Ernst I. Ernst và Albert sinh cách nhau 14 tháng, nhưng được nuôi dạy như 2 anh em sinh đôi. Vì hôn nhân của cha mẹ họ không êm đẹp và đặc biệt là sau cái chết của người mẹ, hai anh em càng ngày càng thân thiết hơn.<hr> | |||
Ernst và Albert từng đến Anh để thăm Vương tôn nữ Victoria, Nữ công tước xứ Kent vào năm 1836 lúc đó họ 17 và 18 tuổi. Cả hai đều được ngấm nghé để kết hôn với công chúa, nhưng cuối cùng thì Albert trở thành chồng của Victoria, còn Ernst thì thành hôn với Đại công nữ [[Alexandrine xứ Baden]], con gái trưởng của [[Leopold, Đại công tước xứ Baden]].<hr> | |||
Ở tuổi đôi mươi, Ernst đã mắc phải bệnh truyền nhiễm liên quan tình dục, vì cha của ông đã dẫn hai anh em ăn chơi phóng túng ở Paris và Berlin, bản thân Albert thì thấy xấu hổ nên không tham gia, trong khi đó Ernst thì giống tính của cha mình. Những nhà sử học đã nghi ngờ rằng, chính Ernst đã lây bệnh cho vợ và khiến bà vô sinh, trong khi đó Ernst vẫn có một số người con ngoài giá thú với các phụ nữ bên ngoài.<hr> | |||
Khi vua [[Othon I của Hy Lạp]] bị truất ngôi năm 1862, người dân Hy Lạp mong muốn sẽ có một nhân vật hoàng gia Anh trở thành vua Hy Lạp, 95% phiếu trưng cầu dân ý muốn [[Alfred xứ Sachsen‑Coburg và Gotha|Vương tử Alfred]], con trai thứ 2 của Nữ hoàng Victoria lên ngôi, nhưng ông này không đạt đủ tư cách. Cho nên Nữ hoàng và chính phủ Anh ủng hộ Công tước Ernst. Vì nếu Ernst kế vị ngai vàng Hy Lạp thì ngay lập tức vương tử Alfred có thể tiếp nhận công quốc Sachsen-Coburg và Gotha của người bác Ernst. Nhưng Ernst thì không muốn từ bỏ công quốc của mình, ông ấy vừa muốn ngai vàng Hy Lạp, vừa muốn giữ lại Công quốc, dù trước sau gì cả 2 ngai vàng này đều sẽ được để lại cho các cháu của ông, vì ông không có con hợp pháp nào thừa kế. Cuối cùng, thoả thuận thất bại, ngai vàng Hy Lạp được để lại cho Vương tử [[Georgios I của Hy Lạp|William của Đan Mạch]], em trai của [[Alexandra của Đan Mạch|Alexandra, Nữ thân vương xứ Wales]], ông này lên ngôi lấy vương hiệu là Georgios I, mở đầu cho triều đại Glücksburg trị vì Hy Lạp trong 110 năm (1863 - 1973). <span style="background: #DDFDDD;">''[[Nếu Ernst đồng ý ngai vàng Hy Lạp thì cả 2 ngai vàng Sachsen và Hy Lạp sẽ đều thuộc về các con trai và cháu trai của Nữ hoàng Victoria]]''</span><hr> | |||
Trong việc đối đầu giữa Áo và Phổ, ban đầu Ernst đã ủng hộ người Áo, trong những phút cuối cùng trước khi [[Chiến tranh Áo-Phổ]] (1866) xảy ra, ông đã quay về ủng hộ Phổ, nhờ thế mà các công quốc của ông đã không bị xoá sổ và trừng phạt bởi Phổ như trường hợp của Vương quốc Hannover, Tuyển hầu xứ Hessen và Công quốc Nassau. Ernst được ban thưởng cho khi rừng [[Schmalkalden]], với diện tích gần 100km2. <hr> | |||
Ernst II ủng hộ việc thống nhất Đức dưới quyền cai trị của Vương quốc Phổ, tham gia vào chiến tranh với Đan Mạch trong quá trình tranh chấp 2 công quốc Schleswig và Holstein. Vì thế ông đã phản đối kịch liệt việc cháu trai của mình là [[Edward VII của Anh|Thân vương xứ Wales]] thành hôn với công chúa [[Alexandra của Đan Mạch]]. Chuyện này đã dẫn đến xung đột và tranh cãi giữa ông với em trai và em dâu.<hr> | |||
Dù xung đột quyết liệt với triều đình của em dâu Victoria, nhưng ông vẫn chấp nhận để con trai thứ 2 của Albert và Victoria trở thành người thừa kế công quốc của mình. Sau khi Ernst qua đời vào năm 1893, [[Alfred xứ Sachsen‑Coburg và Gotha|Vương tử Alfred, Công tước xứ Edinburgh]] đã trở thành Công tước đời thứ 3 của Sachsen-Coburg và Gotha. Nhưng sau khi ở ngôi được 10 năm, Alfred qua đời mà không có con trai, nên ngai vàng để lại cho [[Carl Eduard xứ Sachsen-Coburg và Gotha|Charles Edward, Công tước xứ Albany]], con trai của [[Vương tử Leopold, Công tước xứ Albany]] (con trai út của Nữ hoàng Victoria). Và ông này lấy vương hiệu là Carl Eduard, trở thành Công tước thứ 4 và cuối cùng.<hr> | |||
Sachsen-Coburg và Gotha chưa bao giờ là một công quốc thống nhất, chúng là 2 công quốc riêng rẻ và được cai trị dưới hình thức liên minh cá nhân cho đến khi chế độ quân chủ bị bãi bỏ.<hr> | |||
Thông qua em trai, ông là anh chồng của [[Nữ hoàng Victoria]], vì thế là bác của vua [[Edward VII của Anh]], Hoàng hậu [[Victoria, Vương nữ Vương thất|Victoria của Đức]] (vợ của Hoàng đế [[Friedrich III, Hoàng đế Đức|Friedrich III]]).<hr> | |||
Thông qua vợ, ông là con rể của [[Leopold, Đại công tước xứ Baden|Đại công tước Leopold xứ Baden]] và Vương nữ [[Sofia Wilhelmina của Thụy Điển]].<hr> | |||
Thông qua cha, Vua [[Leopold I của Bỉ]] là chú của ông, Vua [[Leopold II của Bỉ]] là em họ đời đầu. Gọi thân vương [[Ferdinand xứ Sachsen-Coburg và Gotha]] là chú, và vì thế chồng của Nữ vương [[Maria II của Bồ Đào Nha]] - [[Fernando II của Bồ Đào Nha|Thân vương Fernando]] là em họ đời đầu. | |||
|} | |||
|} | |||
==📕 TUYỂN HẦU XỨ BAYERN== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#ccf"|[[File:Wappen des Herzogs in Bayern (Haus Wittelsbach).png|70px]] | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|VƯƠNG TỘC WITTELSBACH | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
[[File:HRR 1648 Bayern.png|thumb|250px|Tuyển hầu Bayern]] | |||
[[File:Bavaria in the German Reich (1871).svg|thumb|250px|Vương quốc Bayern]] | |||
[[Vương tộc Wittelsbach|Triều đại Wittelsbach]] ra đời vào đầu thế kỷ XII khi [[Otto II, Bá tước xứ Scheyern]], con trai thứ 3 của [[Otto I, Bá tước xứ Scheyern]] đã tiếp quản [[Lâu đài Wittelsbach]] (gần [[Aichach]]). Các Bá tước xứ Scheyern đã rời Lâu đài Scheyern (được xây dựng vào khoảng năm 940) vào năm 1119 để đến Lâu đài Wittelsbach và lâu đài trước đây đã được trao cho các tu sĩ để thành lập [[Tu viện Scheyern]]. Hậu duệ của Otto II đã lấy tên lâu đài Wittelsbach để làm họ của mình. | |||
* Nguồn gốc của các Bá tước Scheyern vẫn chưa rõ ràng. Một số giả thuyết suy đoán liên kết họ với Phiên hầu [[Heinrich xứ Schweinfurt]] và cha của ông là [[Berthold xứ Schweinfurt|Phiên hầu Berthold]], người có xuất thân cũng đang bị tranh cãi. Một số người suy đoán rằng gia tộc Schweinfurter có thể là hậu duệ của triều đại [[Luitpolding]], các công tước xứ Bayern vào thế kỷ thứ X. | |||
* [[Conrad I xứ Merania|Conrad xứ Scheyern-Dachau]], chắt của Otto I xứ Scheyern, đã trở thành [[Công quốc Meranien|Công tước xứ Merania]] vào năm 1153 và được con trai ông là [[Conrad II xứ Merania|Conrad II]] kế vị. Đây là công quốc đầu tiên do gia tộc Wittelsbach nắm giữ (cho đến năm 1180/82). | |||
* [[Otto I xứ Bayern|Otto I]] đã được trao tặng [[Công quốc Bayern]] vào năm 1180, sau khi [[Heinrich Sư tử]] sụp đổ và do đó là người Nhà Wittelbach đầu tiên cai trị Bayern. Năm 1214, con trai của Otto I là [[Ludwig Người Kelheim|Ludwig I xứ Bayern]] giành được [[Tuyển hầu xứ Pfalz]]. Nhà Wittelsbach kế thừa quyền ai trị Bayern và Pfalz từ [[Nhà Welf]]. | |||
<hr> | |||
Trong suốt chiều dài lịch sử của mình, từ thế kỷ XII cho đến khi chế độ quân chủ bị bãi bỏ vào năm 1918, người Nhà Wittelsbach đã nắm giữ nhiều ngai vàng và tước vị: | |||
* [[Công quốc Meranien|Công tước xứ Merania]] (1153-1180/82); [[Danh sách quân chủ Bayern|Công tước, Tuyển hầu và Vua xứ Bayern]] (1180-1918); [[Tuyển hầu xứ Pfalz|Hành cung Bá tước xứ Rhein]] (1214-1803 & 1816-1818); [[Bá quốc Brandenburg|Phiên hầu Brandenburg]] (1323-1373); [[Bá quốc Holland|Bá tước xứ Holland]], [[Bá quốc Hainaut|Hainaut]] và [[Bá quốc Zeeland|Zeeland]] (1345-1433); [[Tuyển hầu xứ Köln]] (1583-1761); [[Công quốc Jülich|Công tước xứ Jülich]] và [[Công quốc Berg|Berg]] (1614-1794/1806); Vua của Thụy Điển (1441-1448 và 1654-1720); Công tước xứ [[Bremen-Verden]] (1654-1719). | |||
* Wittelsbach cũng có 2 người được bầu lên ngai vàng Đế chế La Mã Thần thánh: [[Ludwig IV của Thánh chế La Mã]] (1314-1347) và [[Karl VII của Thánh chế La Mã]] (1742-1745), cả 2 đều thuộc nhánh Wittelsbach-Bayern; 1 người được bầu làm Vua La Mã - Đức, đó là [[Ruprecht của Đức]] (1400-1410) thuộc nhánh Wittelsbach-Pfalz; Hai người trở thành [[Danh sách quân chủ Bohemia|Vua đối lập của Bohemia]]: [[Friedrich V xứ Pfalz]] (1619-1620) và [[Karl VII của Thánh chế La Mã|Karl xứ Bayern]] (1742-1448); Một người trở thành [[Danh sách quân chủ Hungary|Vua của Hungary]]: Otto III xứ Bayern (1305-1308); Một người trở thành [[Danh sách quân chủ Đan Mạch|Vua của Đan Mạch và Na Uy]]: [[Christoph III xứ Bayern]] (1440-1448) và 1 người trở thành Vua của Hy Lạp, đó là [[Othon I của Hy Lạp]]. | |||
<hr> | |||
Sau khi [[Otto II xứ Bayern]] qua đời vào năm 1253, các con của ông đã phân chia tài sản: [[Heinrich XIII xứ Bayern|Heinrich von Wittelsbach]] sở hữu [[Hạ Bayern]]; [[Ludwig Nghiêm khắc]] sở hữu Thượng Bayern và Pfalz. Sau khi nhánh của Heinrich tuyệt tự vào năm 1340, con trai của Ludwig Nghiêm khắc là Hoàng đế [[Ludwig IV của Thánh chế La Mã]] đã cho thống nhất lãnh thổ của Nhà Wittelsbach. | |||
Nhà Wittelsbach được chia thành 2 nhánh vào năm 1329, theo [[Hiệp ước Pavia (1329)|Hiệp ước Pavia]]: | |||
* '''[[Nhánh Wittelsbach-Bayern]]''': là hậu duệ của Hoàng đế [[Ludwig IV của Thánh chế La Mã]], nhánh trưởng của Nhà Wittelsbach. Ludwig IV đã thống nhất Bayern vào năm 1340, nhưng từ năm 1349 trở đi, Bayern bị phân mảnh giữa những người con cháu của Ludwig IV và tạo ra các chi nhánh: [[Bayern-Landshut]], [[Bayern-Straubing]], [[Bayern-Ingolstadt]] và [[Bayern-Munich]]. Thông qua [[Chiến tranh Kế vị Landshut]], Bayern đã được thống nhất dưới quyền nhánh [[Bayern-Munich]]. Nhánh Bayern là những người Công giáo mộ đạo, nên họ trở thành những nhà lãnh đạo của Phong trào Phản cải cách Đức và nhiều người trong nhánh này đã trở thành Giám mục vương quyền trong đế chế. | |||
** Năm 1623, [[Maximilian I, Tuyển hầu xứ Bayern|Công tước Maximilian xứ Bayern]] đã chiếm được quyền [[Tuyển đế hầu]] của dòng Pfalz, đưa [[Công quốc Bayern]] trở thành [[Tuyển hầu xứ Bayern|Tuyển hầu quốc Bayern]] và sở hữu một lá phiếu bầu ra Hoàng đế La Mã Thần thánh. | |||
** Năm 1777, Tuyển đế hầu [[Maximilian III Joseph xứ Bayern]] qua đời vì bệnh [[đậu mùa]] mà không để lại người kế vị, sau [[Chiến tranh Kế vị Bayern]] ngắn ngủi, vương quyền được trao cho người họ hàng xa thuộc Nhánh Pfalz. | |||
* '''[[Nhánh Wittelsbach-Pfalz]]''': Hoàng đế [[Ludwig IV của Thánh chế La Mã]] đã chia cho em trai mình là [[Rudolf I xứ Bayern]] vùng [[Thượng Pfalz]] và Rudolf trở thành ông tổ của dòng Pfalz, dòng dõi này đã trở lại nắm quyền Bayern vào năm 1777, sau khi dòng Bayern tuyệt tự sau cái chết của Tuyển hầu [[Maximilian III Joseph xứ Bayern]]. | |||
** Thông qua [[Goldene Bulle|Sắc chỉ vàng]] của Hoàng đế [[Karl IV của Thánh chế La Mã]] năm 1356, Hành cung bá tước xứ Rhein đã được trao quyền Tuyển đế hầu. Các tuyển hầu Pfalz cũng là những người Công giáo ngoan đạo và nhiều thành viên trở thành Giám mục vương quyền trong khắp đế chế, trong đó có [[Tuyển hầu xứ Mainz]] và [[Tuyển hầu xứ Trier]]. | |||
** Sau cái chết của [[Ruprecht của Đức|Tuyển hầu Rupert]] vào năm 1410, lãnh thổ Pfalz được chia cắt cho các con cháu của ông và trở thành 6 chi nhánh: [[Nhà Pfalz-Neumarkt|Pfalz-Neumarkt]], [[Nhà Pfalz-Simmern|Pfalz-Simmern]], [[Nhà Pfalz-Zweibrücken|Pfalz-Zweibrücken]], [[Pfalz-Neuburg]] và [[Pfalz-Sulzbach]]. | |||
**Năm 1559, dòng cao cấp tuyệt tự, quyền tuyển hầu được để lại cho [[Friedrich III xứ Pfalz|Friedrich của nhánh Simmern]], ông này là người theo chủ nghĩa Calvin trung thành, từ đó [[Tuyển hầu xứ Pfalz]] trở thành một trong những trung tâm của Chủ nghĩa Calvin ở châu Âu. | |||
** Chi nhánh [[Pfalz-Neuburg]] sở hữu thâm [[Công quốc Jülich]] và [[Công quốc Berg]] vào năm 1614 sau khi công tước xứ này qua đời mà không có người thừa kế. | |||
**Năm 1619, [[Friedrich V xứ Pfalz]] theo Tin Lành trở thành vua của Bohemia, nhưng đã bị [[Maximilian I xứ Bayern]] theo Công giáo đánh bại, kết quả là Thượng Bayern đã được Nhánh Pfalz nhượng lại cho nhánh Bayern vào năm 1623 cùng với chức vụ Đại tổng quản của Đế chế, đưa dòng Bayern lên ngôi Tuyển đế hầu. | |||
**Khi [[Chiến tranh Ba mươi năm]] kết thúc với Hiệp ước Münster (còn gọi là [[Hòa ước Westphalia]]) vào năm 1648, Hành cung bá tước xứ Rhein được phục hồi quyền Tuyển để hầu với chức vụ Đại thủ quỹ của Đế chế. Từ đó, Nhà Wittelsbach sở hữu 2 ghế [[Tuyển đế hầu]] trong đế chế, một ghế của dòng Pfalz và ghế còn lại của dòng Bayern. | |||
**Chi nhánh [[Nhà Pfalz-Zweibrücken|Pfalz-Zweibrücken]] được thừa kế ngai vàng Thuỵ Điển và đồng thời cai trị Công quốc [[Bremen-Verden]] (1654–1719). | |||
**Năm 1685, chi nhánh [[Nhà Pfalz-Simmern|Pfalz-Simmern]] tuyệt tự, [[Philipp Wilhelm xứ Pfalz|Philipp Wilhelm]] của chi nhánh [[Pfalz-Neuburg]] theo Công giáo đã được thừa kế Tuyển hầu Pfalz (và cả Công tước xứ Jülich và Berg). | |||
**Năm 1742, chi nhánh [[Pfalz-Neuburg]] tuyệt tự, ngôi vị tuyển hầu được để lại cho [[Karl Theodor, Tuyển hầu xứ Bayern|Karl Theodor]] của chi nhánh [[Pfalz-Sulzbach]]. Năm 1777, sau khi nhánh Wittelsbach-Bayern tuyệt tự, Karl Theodor đã thừa kế thêm [[Tuyển hầu xứ Bayern]]. | |||
**Năm 1799, [[Karl Theodor, Tuyển hầu xứ Bayern|Karl Theodor]] qua đời mà không có con cái hợp pháp, toàn bộ đất đai và tài sản của Nhà Wittelsbach được thừa kế bởi [[Maximilian I Joseph của Bayern|Maximilian IV Joseph]] của chi nhánh [[Nhà Pfalz-Birkenfeld|Pfalz-Birkenfeld]]. Vào thời điểm đó, có hai chi nhánh còn tồn tại của Nhà Wittelsbach: [[Nhà Pfalz-Birkenfeld|Pfalz-Zweibrücken-Birkenfeld]] (do Maximilian Joseph đứng đầu) và Pfalz-Birkenfeld-Gelnhausen (do [[Công tước Wilhelm ở Bayern|Bá tước Wilhelm]] đứng đầu). Maximilian Joseph thừa hưởng danh hiệu Tuyển hầu xứ Bayern của Karl Thedor, trong khi Wilhelm được đền bù bằng danh hiệu [[Công tước ở Bayern]]; '''''Wilhelm là ông cố nội của [[Elisabeth xứ Bayern|Hoàng hậu Elisabeth của Áo]], vợ của Hoàng đế [[Franz Joseph I của Áo]]'''''. | |||
<hr> | |||
Hoàng đế [[Ludwig IV của Thánh chế La Mã]] đã kiểm soát nhiều lãnh thổ và quyền lực trong đế chế. Điều này đã tạo cho họ cơ hội thống trị Đế chế La Mã Thần thánh như các gia tộc đế chế trước đó là [[Vương tộc Staufer]] (Hohenstaufen), [[Vương triều Salic|Salian]], [[Vương triều Otto|Ottonia]] và [[Vương triều Caroling|Carolingian]] đã từng làm. Tuy nhiên, ở thế hệ tiếp theo, họ đã bị [[Nhà Habsburg]] và quan trọng nhất là [[Nhà Luxemburg]] qua mặt.<hr> | |||
Nếu [[Joseph Ferdinand xứ Bayern|Joseph Ferdinand]] không qua đời quá sớm thì Đế chế Tây Ban Nha đã thuộc về Nhà Wittelsbach, vì [[Carlos II của Tây Ban Nha]] đã chỉ định Joseph Ferdinand trở thành người thừa kế duy nhất của mình vào năm 1693. Chính cái chết sớm của ông đã phần nào dẫn đến [[Chiến tranh Kế vị Tây Ban Nha]] giữa [[Louis XIV của Pháp]] và các hoàng đế Thánh chế La Mã của Nhà Habsburg. | |||
|- | |||
! style="background:#ccf"|[[Tập tin:Arms of Pfalz-Neuburg (1609-1685).svg|70px]] | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|Triều đại Pfalz-Sulzbach (2)<hr> 1614 - 1742 | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
[[Pfalz-Sulzbach]] là một nhánh của [[Pfalz-Neuburg]] thuộc dòng [[Tuyển hầu xứ Pfalz|Pfalz của Nhà Wittelsbach]]. Ông tổ của nhánh này chính là [[August xứ Pfalz-Sulzbach|Bá tước August]], con trai thứ 2 của Bá tước [[Philipp Ludwig xứ Pfalz-Neuburg]]. Sau khi cha ông qua đời vào năm 1614, lãnh thổ được phân chia giữa August và hai người anh em của ông. August nhận được phần phía bắt của [[Pfalz-Neuburg]] và lập ra [[Pfalz-Sulzbach]].<hr> | |||
Pfalz-Sulzbach tồn tại trong 128 năm, trải qua 5 đời bá tước cai trị, đến năm 1742, Bá tước đời thứ 5 là [[Karl Theodor, Tuyển hầu xứ Bayern|Karl Theodor]] đã thừa kế [[Tuyển hầu xứ Pfalz]] và [[Pfalz-Neuburg]] sau cái chết của Tuyển hầu [[Karl III Philipp]] mà không có con trai thừa tự. Năm 1777, [[Maximilian III Joseph, Tuyển hầu xứ Bayern]] qua đời vì bệnh đậu mùa mà không có con trai thựa tự nên Karl Theodor thừa kế thêm [[Tuyển hầu xứ Bayern]], thống nhất lãnh thổ và quyền cại trị từ cả 2 nhánh Wittelsbach.<hr> | |||
Tuy có nhiều con, nhưng Tuyển đế hầu Karl Theodor lại không có con hợp pháp, nên sau khi qua đời vào năm 1799, nhánh Pfalz-Sulzbach tuyệt tự dòng nam và lãnh thổ đã phải để lại cho người họ hàng xa thuộc nhánh [[Nhà Pfalz-Birkenfeld|Pfalz-Birkenfeld]] là [[Maximilian I Joseph của Bayern|Maximilian Joseph]]. | |||
|- | |||
! style="background:#ccf"|[[File:Coat of Arms of Palatinate-Birkenfeld.svg|70px]] | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|Triều đại Pfalz-Birkenfeld-Zweibrücken<hr> 1569 - 1799 | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
Tiền thân của [[Pfalz-Birkenfeld-Zweibrücken|Triều đại Pfalz-Birkenfeld-Zweibrücken]] là '''[[Nhà Pfalz-Birkenfeld|Pfalz-Birkenfeld]]''' thuộc nhánh [[Pfalz Zweibrücken]] của dòng [[Tuyển hầu xứ Pfalz|Pfalz-Wittelsbach]]. Ông tổ của nhánh này là Bá tước [[Karl I xứ Zweibrücken-Birkenfeld]]. Ông là con trai của Bá tước [[Wolfgang xứ Zweibrücken]], sau khi người cha qua đời vào năm 1569, đã để lại phần [[Bá quốc Sponheim]] cho Karl. Ông đã chọn [[Birkenfeld]] làm nơi cư trú của mình và chính thức khai sinh ra nhánh [[Nhà Pfalz-Birkenfeld|Pfalz-Birkenfeld]]. <hr> | |||
Năm 1671, nhánh Pfalz-Birkenfeld được chuyển thành '''[[Pfalz-Bischwiller-Birkenfeld]]''' sau khi [[Christian II xứ Zweibrücken-Birkenfeld|Christian, Lãnh chúa xứ Bischwiller]], cháu trai của vị bá tước tiền nhiệm qua đời mà không có người kế vị, ông lấy hiệu Christian II. <hr> | |||
Năm 1734, con trai của Christian II là [[Christian III xứ Zweibrücken|Christian III]] được thừa kế [[Pfalz Zweibrücken]] sau khi nhánh này tuyệt tự dòng nam với cái chết của vị bá tước cuối cùng là [[Gustav xứ Zweibrücken]] vào năm 1731. Quá trình thừa kế này đã chuyển nhánh [[Pfalz-Bischwiller-Birkenfeld]] thành '''[[Pfalz-Birkenfeld-Zweibrücken]]'''. <hr> | |||
Người thừa kế Christian III là [[Christian IV xứ Zweibrücken|Christian IV]] đã kết hôn với một vũ công, vì thế quy phạm [[Quý tiện kết hôn]] nên các con của ông không được thừa kế quyền cai trị. Sau khi Christian qua đời, cháu trai của ông là [[Karl II August Christian xứ Zweibrücken|Karl II August Christian]] đã thừa kế. <hr> | |||
Karl II August Christian qua đời không có con, em trai ông là [[Maximilian I Joseph của Bayern|Maximilian Joseph]] đã thừa kế. Năm 1799, người họ hàng xa của ông là [[Karl Theodor, Tuyển hầu xứ Bayern]] qua đời mà không có người thừa kế hợp pháp, Maximilian đã thừa kế Tuyển hầu xứ Bayern và Tuyển hầu xứ Pfalz, thống nhất các tài sản và lãnh thổ của Nhà Wittelsbach lại dưới một vương quyền. Năm 1806, Tuyển hầu xứ Bayern được nâng lên thành [[Vương quốc Bayern]], Wittelsbach trở thành một vương tộc.<hr> | |||
Nhánh này tồn tại trong 230 năm, kể từ khi vị bá tước đầu tiên là Karl khai sinh ra Pfalz-Birkenfeld vào năm 1569, trải qua 8 đời bá tước cai trị, đến năm 1799 thì vị bá tước thứ 8 nhận được quyền thừa kế toàn bộ lãnh thổ và tài sản của Nhà Wittstelbach. Năm 1806, dòng này trở thành quân vương của Bayern và họ cại trị vương quốc này cho đến năm 1918, khi chế độ quân chủ ở Đức bị bãi bỏ. <hr> | |||
===Maximilian III Joseph=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đế chế La Mã Thần thánh|ĐẾ CHẾ LA MÃ THẦN THÁNH]]<hr>[[Tuyển hầu xứ Bayern|Tuyển hầu quốc Bayern]] <br> (1623 - 1806)}}||colspan="1"|{{center|[[File:Electoral Standard of Bavaria (1623-1806).svg|center|90px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of Arms of the Electorate of Bavaria 1753.svg|center|85px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Maximilian III Joseph, Tuyển hầu xứ Bayern|Tuyển đế hầu Maximilian III Joseph]]<br> (1745 - 1777)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị tuyển đế hầu cuối cùng đến từ dòng Wittelsbach-Bayern}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 Konventionsthaler Maximilian III Joseph of Bayern - 1775.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 Konventionsthaler [[Maximilian III Joseph, Tuyển hầu xứ Bayern|Maximilian III Joseph]] - 1775<hr>250 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Desmarees workshop Maximilian III of Bavaria.jpg|100px]]<br>'''1760 - 1777<hr>[[AU]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[40,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[83,3%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[28,06 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[23,377 gr]] <hr>'''Số lượng'''<br>[[7%]]<hr>3.707.000<br>[[(154,46$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|} | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#fbd"|MAXIMILIAN III JOSEPH | |||
|- | |||
|style="background:LemonChiffon;"| | |||
'''Maximilian III Joseph''' (1727-1777) được mệnh danh là '''Người được yêu mến''', là Tuyển đế hầu cuối cùng của Bayern đến từ [[Tuyển hầu xứ Bayern|dòng Wittelbach-Bayern]], việc ông qua đời không để lại người thừa kế đã dẫn đến [[Chiến tranh Kế vị Bayern]] (1778-1779), tuy cuộc chiến diễn ra ngắn hạn và ít đổ máu, nhưng sự kiện này đã thay đổi sâu sắc cục diện chính trị châu Âu cận đại. Ngai vàng Bayern đã được thừa kế bởi người họ hàng xa là '''''[[Karl Theodor, Tuyển hầu xứ Bayern|Karl Theodor]]''''' thuộc [[Pfalz-Sulzbach|dòng Pfalz-Sulzbach]], người trước đó cũng được thừa kế [[Tuyển hầu xứ Pfalz]] từ [[Karl III Philipp xứ Pfalz|Karl III Philipp]], một người họ hàng xa thuộc [[Pfalz-Neuburg|dòng Pfalz-Neuburg]]. Maximilian là nhánh cuối cùng của triều đại Wittelbach, bắt nguồn từ [[Ludwig IV của Thánh chế La Mã]] và cai trị Bayern từ thế kỷ XIV | |||
* Ông là con trai duy nhất của Hoàng đế [[Karl VII của Thánh chế La Mã]] và [[Maria Amalia, Hoàng hậu Thánh chế La Mã|Maria Amalia của Áo]], cha ông là 1 trong 2 người duy nhất thuộc [[Nhà Wittelbach]] từng được bầu lên ngôi [[Hoàng đế La Mã Thần thánh]], người đầu tiên là [[Ludwig IV của Thánh chế La Mã]] (1314-1347). Karl là người duy nhất không thuộc Nhà Habsburg trở thành Hoàng đế trong 3 thế kỷ qua. | |||
* Thông qua mẹ mình là [[Maria Amalia, Hoàng hậu Thánh chế La Mã|Maria Amalia của Áo]], Karl là cháu ngoại của Hoàng đế [[Joseph I của Thánh chế La Mã]] (1705-1711) và cháu cố của Hoàng đế [[Leopold I của Thánh chế La Mã]] (1658-1705). Hoàng đế [[Karl VI của Thánh chế La Mã]], cha của '''''[[Maria Theresia của Áo]]''''' chính là chú ruột của mẹ ông. Vì thế Maria Theresia là em họ đời đầu của mẹ Maximilian và Maximilian gọi bà là dì họ. | |||
* Thông qua chị gái mình là [[Maria Antonia xứ Bayern]], Maximilian là em vợ của '''''[[Friedrich August I của Sachsen|Friedrich August I]]''''' (1763-1806 & 1806-1827), vị tuyển đế hầu cuối cùng và vị vua đầu tiên của Vương quốc Sachsen. Cặp đôi không có hậu duệ nam. | |||
* Thông qua em gái mình là [[Maria Josepha xứ Bayern]], Maximilian là anh vợ của Hoàng đế [[Joseph II của Thánh chế La Mã]], con trai của Hoàng đế '''''[[Franz I của Thánh chế La Mã]]''''' và '''''[[Maria Theresia của Áo]]'''''. Cặp đôi không có hậu duệ nam.<hr> | |||
Maximilian thừa kế [[Tuyển hầu xứ Bayern]] vào năm 1745 sau cái chết của cha, lúc này Beyern đang trong tình trạng chiến tranh với Áo thông qua [[Chiến tranh Kế vị Áo]]. Sau khi thất bại trong [[Trận Pfaffenhofen]] trước Áo, Maximilian đã từ bỏ ý định tranh cử ngôi vị Hoàng đế Thánh chế La Mã, hoà giải với [[Maria Theresia của Áo]] thông qua [[Hiệp ước Füssen]], qua đó ông cam kết sẽ dùng là phiếu bầu của Tuyển hầu Bayern bầu chồng của Marie Theresia là [[Franz I của Thánh chế La Mã|Đại công tước Franz]] vào ngôi vị hoàng đế.<hr> | |||
Maximilian Joseph là một nhà cai trị tiến bộ và khai sáng, ông khuyến khích phát triển các ngành nghề và bãi bỏ chế độ kiểm duyệt báo chí của [[Dòng Tên]]. Trong nạn đói nghiêm trọng xảy ra vào năm 1770, Maximilian đã bán đi một số đồ trang sức để trả tiền nhập khẩu [[ngũ cốc]], giúp giảm nạn đói. Cũng trong năm 1770, ông ban hành một sắc lệnh chống lại sự phung phí của Nhà thờ, điều này đã góp phần kết thục [[Rococo|Kỷ nguyên Rococo]] tại Bayern.<hr> | |||
Tháng 12/1777, Maximilian Joseph đi trên một xe ngựa qua [[München]]; trên chuyến đi, khi xe của ông qua tháp đồng hồ, vì cơ chế hoạt động của đồng hồ bị lỗi nên đổ chuông đến 77 lần liên tục. Maximilian cho rằng đây là điểm báo cho sự chấm hết của triều đại mình. Sau đó vài ngày, Maximilian lâm bệnh, đội bác sĩ hoàng gia gồm 15 người không thể nào chẩn đoán ra bệnh. [[Giáng sinh]] năm đó, các bác sĩ dựa vào các triệu chứng đã phát hiện ra Maximilian đang mắc phải bệnh [[Đậu mùa]] và đây là chủng "purple small pox" rất nguy hiểm ở thời điểm đó. | |||
|} | |||
===Karl Theodor=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đế chế La Mã Thần thánh|ĐẾ CHẾ LA MÃ THẦN THÁNH]]<hr>[[Tuyển hầu xứ Bayern|Tuyển hầu quốc Bayern]] <br> (1623 - 1806)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Electoral Standard of Bavaria (1623-1806).svg|center|90px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of Arms of the Electorate of Bavaria 1753.svg|center|85px]]}} | |||
|- | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Karl Theodor, Tuyển hầu xứ Bayern|Tuyển đế hầu Karl Theodor]] <br>(1742 - 1799)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị tuyển đế hầu duy nhất đến từ dòng [[Pfalz-Sulzbach]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 Konventionsthaler of Bayern, Karl Theodor 1778.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 Konventionsthaler [[Karl Theodor, Tuyển hầu xứ Bayern|Karl Theodor]]_[[Maria|Đức trinh nữ Maria]] (2nd portrait) - 1778<hr>247 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Kurfürst Karl Theodor (Bayern).jpg|100px]]<br>1778 - 1783}}<hr>{{Center|'''[[AU|AU<small>-cleaned<small/>]]'''}} || style="background:#ceb"colspan="1"|{{center|'''Đường kính'''<br>[[40,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[83,3%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[28,06 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[23,377 gr]] <hr>'''Số lượng'''<br>[[74%]]<hr>4.600.000<br>[[(195,74$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|} | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#fbd"|Karl Theodore | |||
|- | |||
|style="background:LemonChiffon;"| | |||
* Karl Theodor có cuộc hôn nhân 52 năm (1742-1794) không hạnh phúc với người vợ đầu là [[Elisabeth Auguste xứ Sulzbach]] và họ chỉ sinh được 1 người con trai nhưng đã chết khi còn nhỏ, tuy không hạnh phúc và 2 người đều có những chuyện tình ngoài luồn nhưng họ không li dị. Bản thân Karl có nhiều người con [[con hoang hoàng gia|ngoài giá thú]] với 2 người tình [[Françoise Després-Verneuil]] và [[Josepha von Heydeck]] và những đứa con này không thể kế thừa ngai vàng của ông. Vì thế sau khi vợ qua đời, '''''lúc đó ông đã 70 tuổi''''', ông đã nỗ lực tìm kiếm một cuộc hôn nhân thứ 2 để hy vọng có người thừa kế. '''''[[Franz II của Thánh chế La Mã|Hoàng đế Franz II của Thánh chế La Mã]]''''' đã chọn em họ của mình là ''''''[[Maria Leopoldine của Áo-Este]] (18 tuổi) cho cuộc liên hôn này'''''. Sau cuộc hôn nhân, người vợ trẻ của Karl Theodor đã từ chối chăn gối với ông và công khai vụng trôm với những người tình trẻ, cô cũng từ mặt gia đình mình ở Áo, vì cô đổ lỗi cho họ về cuộc hôn nhần của mình; thay vào đó, cô đã chọn liên minh với [[Nhà Pfalz-Birkenfeld]] của [[Maximilian I Joseph của Bayern|Maximilian xứ Zweibrücken]], người sẽ thừa kế lãnh thổ của Karl nếu ông ấy qua đời mà không có người thừa tự. Năm 1799, Karl qua đời và Maximilian đã thừa kế mọi thứ từ Karl.<hr> | |||
* Karl Theodor là người rất yêu nghệ thuật, bao gồm cả kịch và đặc biệt là âm nhạc. Dàn nhạc cung đình Mannheim của ông được coi là một trong những dàn nhạc hay nhất thời bấy giờ. [[Trường Mannheim]] (bao gồm nhà soạn nhạc [[Christian Cannabich]] và nhạc trưởng [[Johann Stamitz]]) đã thực hiện công trình mang tính đột phá mà sau này [[Âm nhạc thời kỳ Cổ điển|âm nhạt cổ điển]] nổi tiếng sẽ dựa vào. [[Wolfgang Amadeus Mozart|Mozart]] đã nộp đơn xin việc tại dàn nhạc Mannheim vào năm 1777, nhưng đã bị từ chối vì triều đình sắp chuyển đến Munich. Năm 1780, Karl Theodor đã ủy quyền cho nhà soạn nhạc này sáng tác ''[[Idomeneo]]''. Mozart trích lời ông nói rằng ''"Không có bản nhạc nào từng gây ấn tượng với tôi như vậy. Thật tuyệt vời"''. (Mozart và bố mình đã phục vụ âm nhạc tại [[Tổng giáo phận vương quyền Salzburg]] dưới thời 2 tổng giám mục cuối cùng là [[Sigismund von Schrattenbach]] và [[Hieronymus von Colloredo]])<hr> | |||
* Sau khi người vợ trẻ Maria Leopoldine của Áo-Este không cho ông động phòng, việc kiếm người thừa kế hợp pháp thất bại. Karl Theodor đã đề nghị đổi Bayern lấy Hà Lan thuộc Áo vào năm 1784, vì lãnh thổ này ông có thể phân chia cho các con ngoài giá thú của mình, nhưng kế hoạch này cũng thất bại khi [[Friedrich II của Phổ]] khởi xướng ''[[Liên minh các Vương hầu]]. Mặc dù Karl Theodor chắc chắn muốn có thêm lãnh thổ, nhưng ông chỉ có những người con trai ngoài giá thú và vì vậy ông thích lãnh thổ mà ông có thể định đoạt thông qua di chúc của mình, hơn là lãnh thổ bị ràng buộc bởi một sự thừa kế hợp pháp mà ông chỉ có thể truyền lại cho một người con trai hợp pháp.<hr> | |||
* Karl Theodor quan tâm đến nghệ thuật và triết học nhiều hơn là chính trị. Nhà sử học người Anh thời kỳ Victoria [[Thomas Carlyle]] gọi ông là ''"một kẻ nhàn rỗi, ích kỷ, chỉ biết đến bản chất, thích trang trí, thích chơi bời; đắm chìm trong sân khấu, con hoang và những thứ tương tự; được Voltaire, người thỉnh thoảng đến thăm ông, khen ngợi; và Collini, người mà ông [Karl Theodor] coi là một người chủ tốt bụng"''.<hr> | |||
* Bộ trưởng ngoại giao Pháp, Charles Gravier, comte de Vergennes đã nhận xét về Karl Theodor thế này: ''Mặc dù thông minh bẩm sinh, ông chưa bao giờ thành công trong việc tự mình cai trị; ông luôn bị các bộ trưởng hoặc cha giải tội hoặc (trong một thời gian) là tuyển hầu phu nhân [vợ ông] cai trị. Hành vi này đã làm tăng thêm sự yếu đuối và thờ ơ tự nhiên của ông đến mức trong một thời gian dài, ông không có ý kiến nào ngoại trừ những ý kiến được truyền cảm hứng từ đoàn tùy tùng của mình. Khoảng trống mà sự lười biếng này để lại trong tâm hồn ông được lấp đầy bằng những thú vui săn bắn, âm nhạc và những mối quan hệ bí mật, mà Tuyển đế hầu luôn có sở thích đặc biệt''. | |||
|} | |||
==📕 VƯƠNG QUỐC BAYERN== | |||
===Maximilian I Joseph=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Bang liên Đức|BANG LIÊN ĐỨC]]<hr>[[Vương quốc Bayern]] <br> (1805 - 1918)}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Bavaria (striped).svg|center|150px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of Arms of the Kingdom of Bavaria 1835-1918.svg|center|69px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Maximilian I Joseph của Bayern|Vua Maximilian I Joseph]] <br>(1756 - 1825)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị Tuyển đế hầu cuối cùng và là vị Vua đầu tiên của Bayern}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 Conventionsthaler - Maximilian I Joseph of Bayern 1818.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 Thaler [[Maximilian I Joseph của Bayern|Maximilian I Joseph]]_[[Hiến pháp Bayern|Kỷ niệm hiến pháp Bayern]] - 1818<hr>207 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:King Max I Joseph in Coronation Robe.jpg|120px]]<br> 1818<hr>'''[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[39,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[86,8%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[28,06 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,3561 gr]] <hr>'''Số lượng'''<br>[[40.000]]<hr>8.200.000<br>[[(346,0$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#fbd"|Maximilian I Joseph | |||
|- | |||
|style="background:LemonChiffon;"| | |||
Ông là con trai út trong số 5 người con của [[Frederick Michael, Bá tước Pfalz xứ Zweibrücken|Bá tước Frederick Michael xứ Zweibrücken]], chỉ mang tước hiệu chứ không có lãnh thổ, vì thế ông hoàn toàn không có khả năng thừa kế bất kỳ ngai vàng nào, nhưng trong suốt cuộc đời của mình, ông đã nhận được nhiều tước vị cai trị và có sức ảnh hưởng khắp châu Âu. | |||
* Năm 1775, bác của ông qua đời mà không có người con hợp pháp nào, dù ông có đến 6 người con trong cuộc hôn nhân [[quý tiện kết hôn]]. Vì thế anh trai cả của ông là [[Karl II August, Công tước xứ Zweibrücken|Bá tước Karl]] đã được thừa kế [[Pfalz Zweibrücken|Công quốc Zweibrücken]]. Năm 1795, anh trai Karl qua đời không để lại người thừa kế nên lãnh thổ được để lại cho Maximilian, nhưng lúc này, Zweibrücken đã bị Pháp chiếm đống, cho nên Maximilian là vị Công tước có ngôi nhưng không có lãnh thổ. | |||
* Năm 1799, [[Karl Theodor, Tuyển hầu xứ Bayern]] qua đời mà không để lại bất kỳ người thừa kế nam hợp pháp nào, dù có nhiều con ngoài giá thú với tình nhân. Vì thế toàn bộ lãnh thổ và tài sản của [[Vương tộc Wittelsbach]] đều thuộc về Maximilian. Ông trở thành [[Tuyển hầu xứ Bayern]] và [[Tuyển hầu xứ Pfalz]] với hiệu Maximilian IV Joseph, đồng thời cũng là "Tổng quản của [[Đế chế La Mã Thần Thánh]]". Lãnh thổ nằm dưới quyền cai trị của Maximilian lớn thứ 3 trong Đế chế La Mã Thần thánh, chỉ xếp sau [[Quân chủ Habsburg]] và [[Brandenburg-Phổ]] của [[Vương tộc Hohenzollern]]. | |||
* Vì là đồng minh trung thành nhất của [[Napoleon I|Hoàng đế Napoleon I]] của Pháp nên ông nhận được 14.000 km2 lãnh thổ với 850.000 dân từ [[Hòa giải Đức]] và đến năm 1806, Tuyển hầu Bayern được nâng lên thành [[Vương quốc Bayern]] vào năm 1806. Con trai nuôi của Hoàng đế Napoleon là [[Eugène de Beauharnais]] hôn phối với con gái trưởng của Maximilian. | |||
* Ngoài ra, ông còn là Công tước xứ Berg (1799 - 1806) và Công tước xứ Salzburg (1810 - 1816). | |||
<hr> | |||
Sau khi [[Tuyển hầu xứ Bayern]] được nâng lên thành [[Vương quốc Bayern]], Maximilian đã cho đặt làm chiếc [[Vươn miện Bayern]], nó được thiết kế bởi thợ kim hoàng [[người Pháp]] [[Jean-Baptiste de Lasne]], được lấy cảm hứng từ [[Vương miện Louis XV của Pháp]]. Vương miện Hoàng gia của Bayern được khảm bằng [[hồng ngọc]], [[kim cương]], [[ngọc lục bảo]], [[ngọc bích]] và [[ngọc trai]]. [[Viên kim cương Wittelsbach-Graff]] đã được gỡ xuống và bán vào năm 1931 bởi gia đình Wittelsbach. | |||
|} | |||
===Ludwig II=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Bang liên Đức|BANG LIÊN ĐỨC]]<hr>[[Vương quốc Bayern]] <br> (1805 - 1918)}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Bavaria (striped).svg|center|150px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of Arms of the Kingdom of Bavaria 1835-1918.svg|center|69px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Ludwig II của Bayern|Vua Ludwig II]] <br>(1864 - 1886)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị vua thứ 4 của Vương quốc Bayern}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 Vereinsthaler Ludwig II of Bayern 1865.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 Vereinsthaler [[Ludwig II của Bayern|Ludwig II]]_Madona - 1865<hr>160 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Ludwig II of Bavaria.jpg|120px]]<br> 1865 - 1871<hr>'''[[MS]]'''}} || style="background:#ceb"colspan="1"|{{center|'''Đường kính'''<br>[[33,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[18,5 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[16,65 gr]] <hr>'''Số lượng'''<br>[[110.000]]<hr>5.100.000<br>[[(201,18$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:5 marks Ludwig II of Bayern - 1876.png|center|700px]]<hr>{{center|'''5 Mark [[Ludwig II của Bayern|Ludwig II]] - 1876<hr>149 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Ludwig II of Bavaria.jpg|120px]]<br> 1874 - 1876<hr>'''[[XF]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[38,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,777 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,9993 gr]] <hr>'''Số lượng'''<br>[[1.130.000]]<hr>2.796.000<br>[[(120,0$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#fbd"|LUDWIG II | |||
|- | |||
|style="background:LemonChiffon;"| | |||
Được mệnh danh là '''Vua Thiên nga''' hoặc '''Vua truyện cổ tích''', đôi khi được gọi là '''Vua điên Ludwig''', ông là vị vua thứ 4 của Bayern và tại vị từ năm 1864 - 1886. Ông đam mê kiến trúc và nghệ thuật hơn là ngai vàng của Bayern, vì thế trong suốt 22 năm trị vì ông luôn lẩn tránh việc triều đình mà chỉ tập trung vào mơ mọng, xây lâu đài và bảo trợ nghệ thuật. Là người hướng nội, thích sống ẩn dật và tránh xa đám đông.<hr> | |||
Ông đã chi rất nhiều tiền để xây dựng các lâu đài và công trình xây dựng cũng như bảo trợ cho nghệ thuật, dù số tiền đó là ông lấy từ tài sản cá nhân, nhưng số nợ ông mang cũng rất nhiều, lên đến 14 triệu mark vào năm 1885. Vì thế ông bị các bộ trưởng của mình không hài lòng, họ đã quyết định tìm cách để loại bỏ ông khỏi ngai vàng thông qua việc vu cho ông mắc chứng tâm thần.<hr> | |||
Sau khi bị phế truất, ông đã chết bất thường sau đó chỉ 1 ngày tại hồ Starnberg cùng với người điều trị bệnh cho ông là Gudden. Khám nghiệm tử thi không phát hiện nước trong phổi của ông.<hr> | |||
Sau cái chết của Ludwig vào năm 1886, em trai ông là [[Otto của Bayern|Vương tử Otto]] được đưa lên ngai vàng, nhưng vì ông này bị bệnh tâm thần nên chú của họ là [[Luitpold của Bayern|Thân vương Luitpold]] trở thành nhiếp chính vương cho đến năm 1912 khi ông này qua đời ở tuổi 91. Con trai Luitpold là Ludwig tiếp tục làm nhiếp chính và sau đó phế truất Otto vào năm 1913, để lên làm vua với vương hiệu [[Ludwig III của Bayern]] cho đến khi chế độ quân chủ Đức bị bãi bỏ sau Thế chiến thứ nhất.<hr> | |||
Ông là người đã xây dựng [[Lâu đài Neuschwanstein]], [[Cung điện Linderhof]] và [[Herrenchiemsee]]... ngày nay, nó là những công trình thu hút rất nhiều du khách cho bang Bayern. Ông cũng là người bảo trợ nhiệt thành và cứu vớt cuộc đời nghệ thuật của [[Richard Wagner]]. '''Hoàng đế [[Pedro II của Brasil]]''' vừa là bạn vừa là người bảo trợ xây dựng Bayreuth Festspielhaus của Wagner<hr> | |||
Ludwig và Hoàng hậu [[Elisabeth xứ Bayern|Elisabeth của Áo]] vừa là anh em họ, vừa là bạn bè thân thiết của nhau, ông với em gái của Elisabeth cũng mém chút nữa đính hôn với nhau, nhưng sau đó không thành... và ông chưa bao giờ có vợ cho đến khi qua đời. Ông bị cho là người đồng tính, có các mối quan hệ thân thiết đang ngờ với nhiều người đàn ông trong triều đình.<hr> | |||
Ông đứng về phe Đế quốc Áo trong Chiến tranh Áo-Phổ, nhưng sau khi Áo thua, ông bị Phổ ép tham gia liên minh và cuối cùng trở thành một phần của Đế quốc Đức dưới quyền của Phổ.<hr> | |||
<span style="background: #CCECFF;">Được mệnh danh là "Vua thiên nga", Ludwig được cho là đã truyền cảm hứng cho câu chuyện đằng sau vở ballet cổ điển ''[[Hồ thiên nga]]'' của nhà soạn nhạc người Nga [[Pyotr Ilyich Tchaikovsky]].</span><hr> | |||
<span style="background: #FFFFCC;">[[Lâu đài Neuschwanstein]] do Ludwig xây dựng và được [[Walt Disney]] sử dụng vào thế kỷ 20 làm nguồn cảm hứng cho [[Lâu đài Người đẹp ngủ trong rừng]] tại các [[Trải nghiệm Disney|Công viên Disney]] trên khắp thế giới.</span><hr> | |||
Ludwig rất say mê chính quyền chuyên chế thời [[Ancien Régime]], vì thế ông tự coi mình là "Vua Mặt trăng", một cái bóng Lãng mạn của "Vua Mặt trời" '''''[[Louis XIV của Pháp]]'''''. | |||
|} | |||
===Otto I=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đế quốc Đức|ĐẾ CHẾ ĐỨC]]<hr>[[Vương quốc Bayern]] <br> (1805 - 1918)}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Bavaria (striped).svg|center|150px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of Arms of the Kingdom of Bavaria 1835-1918.svg|center|69px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Otto của Bayern|Vua Otto]] <br>(1886 - 1913)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị vua thứ 5 của Vương quốc Bayern}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:5 Marks Otto of Bayern 1913.png|center|700px]]<hr>{{center|'''5 Mark [[Otto của Bayern|Otto]] - 1913D<hr>112 năm (2025)'''}}|| {{center|[[File:OttoIBeieren.jpg|120px]]<br>1891 - 1913<hr>'''[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[38,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,777 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,9993 gr]] <hr>'''Số lượng'''<br>[[520.000]]<hr>2.439.000<br>[[(103,79$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
* Ông bị bệnh tâm thần, vì thế tuy ông là vua nhưng ông chưa từng trực tiếp cai trị đất nước, quyền hành nằm dưới tay của chú của ông. | |||
===Nhiếp chính Luitpold=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đế quốc Đức|ĐẾ CHẾ ĐỨC]]<hr>[[Vương quốc Bayern]] <br> (1805 - 1918)}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Bavaria (striped).svg|center|150px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of Arms of the Kingdom of Bavaria 1835-1918.svg|center|69px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Otto của Bayern|Vua Otto]] <br>(1886 - 1913)<hr>[[Luitpold của Bayern|Nhiếp chính vương Luitpold]]<br>(1886 - 1912)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị vua thứ 5 của Vương quốc Bayern}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:5 Mark, Prince Regent Luitpold of Bayern 1911.png|center|700px]]<hr>{{center|'''5 Mark [[Luitpold của Bayern|Nhiếp chính vương Luitpold]] - 1911D<hr>114 năm (2025)'''}}|| {{center|[[File:Luitpold Wittelsbach cropped.jpg|120px]]<br>1911<hr>'''[[AU]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[38,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,777 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,9993 gr]] <hr>'''Số lượng'''<br>[[130.000]]<hr>2.853.000<br>[[(110,73$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
|} | |||
==[[File:Flag map of the Kingdom of Prussia (1795).png|80px]] 📕 VƯƠNG QUỐC PHỔ == | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#ccf"|[[File:Wappen Hohenzollern 2.svg|50px]] | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|TRIỀU ĐẠI HOHENZOLLERN - BRANDENBURG & PHỔ | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
[[File:Map-DB-PrussiaProvs-1818.svg|thumb|250px|Vương quốc Phổ năm 1818]] | |||
[[File:German Empire states map-ms.svg|thumb|250px|Đế chế Đức]] | |||
[[Vương tộc Hohenzollern]] là một triều đại lâu đời ở châu Âu có nguồn gốc từ Đức. '''''[[Burkhard I, Lãnh chúa xứ Zollern]]''''' (1025-1061) là tổ tiên lâu đời nhất của hoàng gia này được nhắc đến trong một văn bản chính thức, trong biên niên sử thời trung cổ của [[Berthold xứ Reichenau]] thế kỷ XI. Họ của gia tộc này được đặt theo [[Lâu đài Hohenzollern]] (trường hợp này giống với [[Vương tộc Habsburg]], được đặt tên theo [[Lâu đài Habsburg]]). Gia tộc Zollern nhận được tước hiệu [[Graf]] (Bá tước) từ Hoàng đế [[Heinrich V của Thánh chế La Mã]] vào năm 1111, kể từ năm 1218 thì được gọi là Hohenzollern.<hr> | |||
Là chư hầu trung thành của [[Vương tộc Staufer|triều đại Hohenstaufen]] Swabia, người Nhà Hohenzollern đã mở rộng đáng kể lãnh thổ của mình. Bá tước [[Friedrich III xứ Nuremberg|Friedrich III]] (khoảng 1139 – khoảng 1200) đã tháp tùng Hoàng đế [[Friedrich I của Thánh chế La Mã|Friedrich Barbarossa]] chống lại [[Heinrich Sư tử]] vào năm 1180, và thông qua cuộc hôn nhân của mình, ông đã được Hoàng đế [[Heinrich VI của Thánh chế La Mã]] ban cho tước hiệu ''[[Burggraf]]'' (Bá tước lâu đài) của [[Nuremberg]] vào năm 1192. Vào năm 1218, chức ''Burggraf'' được chuyển cho con trai cả của Friedrich là [[Conrad I xứ Nuremberg]], qua đó ông trở thành tổ tiên của nhánh Franconia của Hohenzollern, '''''nhánh này đã trở thành [[Tuyển đế hầu]] xứ [[Bá quốc Brandenburg|Brandenburg]] vào năm 1415'''''.<hr> | |||
Ban đầu, các bá tước lâu đài Nürnberg có ít tài sản. Gia đình chỉ có quyền sử dụng tài sản của cơ quan cai quản lâu đài. Tuy nhiên từ thế kỷ XIII, do mua lại đất đai mà lãnh thổ của họ đã mở rộng và đến thế kỷ XV trong thời công tước [[Friedrich I xứ Brandenburg|Friedrich VI xứ Nürnberg]] thì có lãnh thổ lớn nhất. Nhờ làm sui gia với [[Nhà Abenberg]] năm 1236 mà họ được thêm [[Lâu đài Abenberg]] và [[Cadolzburg#Burg|Cadolzburg]]. Năm 1260, họ được thừa hưởng [[Bayreuth]]; năm 1331, họ được [[Ansbach]]; năm 1340 thì được [[Kulmbach]] và [[Plassenburg]].<hr> | |||
'''''Năm 1363, Hoàng đế [[Karl IV của Thánh chế La Mã|Karl IV]] đã nâng trước vị từ Bá tước lên Công tước'''''.<hr> | |||
Tại [[Công đồng Constance]] (1415), '''''Hoàng đế [[Sigismund của Thánh chế La Mã]] đã trao cho [[Friedrich I xứ Brandenburg|Friedrich VI xứ Nuremberg]] tước hiệu [[Tuyển đế hầu]] và [[Bá quốc Brandenburg|Phiên hầu tước xứ Brandenburg]]'''''. Đây là dấu mốc vinh vang đầu tiên mở ra triều đại của Hohenzollern. Có '''''12 vị tuyển đế hầu của Brandenburg đến từ Nhà Hohenzollern'''''<hr> | |||
Vào năm 1427, [[Friedrich II, Tuyển hầu xứ Brandenburg]], đã bán [[Lâu đài Nürnberg]] và quyền Bá tước lâu đài của mình cho [[Thành bang Đế chế Nürnberg]]. Từ những lãnh thổ mà không bán đi, sau đó phát triển thành [[Thân vương quốc Bayreuth]] và [[Thân vương quốc Ansbach]], cũng được cai trị bởi dòng họ Hohenzollern. Trong quá trình [[Hòa giải Đức]], Ansbach và Bayreuth được sáp nhập vào [[Vương quốc Bayern]].<hr> | |||
Năm 1525, [[Deutschordensstaat|Lãnh thổ của Kỵ sỹ đoàn Teuton]] bị thế tục hoá, trở thành [[Công quốc Phổ]], Grand Master của Kỵ sỹ đoàn Teuton là [[Albrecht, Công tước của Phổ|Thân vương Albrecht]] thuộc dòng [[Thân vương quốc Ansbach|Brandenburg-Ansbach]] trở thành công tước đầu tiên của Phổ. Vì khu vực này là một phần của [[Vương quyền của Vương quốc Ba Lan|Vương quốc Ba Lan]] từ [[Hòa ước Thorn lần thứ hai (1466)]] nên vua của Ba Lan [[Zygmunt I Stary]] với tư cách là người cai trị đã trao lãnh thổ này làm [[thái ấp]] cha truyền con nối cho Albrecht theo [[Hiệp ước Kraków]], kinh đô vẫn đặt ở Königsberg (nay là [[Kaliningrad]]).<hr> | |||
Ngay sau khi Công quốc Phổ thành lập, Công tước Albrecht đã lấy đạo [[Tin Lành]] làm quốc giáo của nhà nước, và Phổ trở thành nhà nước đầu tiên trên thế giới làm như thế. Năm 1618, dòng dõi Hohenzollern của Phổ đã tuyệt tự dòng nam sau 2 đời công tước, vì thế Công quốc Phổ được thừa kế bởi dòng Hohenzollern Brandenburg, bắt đầu từ Tuyển đế hầu [[Johann Sigismund xứ Brandenburg|Johann Sigismund]] đã cai trị Công quốc Phổ (thái ấp của Ba Lan) và Tuyển hầu Brandenburg (thái ấp của Thánh chế La Mã) dưới hình thức [[Liên minh cá nhân]], thực thể chính trị này được gọi là Nhà nước [[Brandenburg-Phổ]].<hr> | |||
[[Chiến tranh Áo-Phổ]] (1866) đã giúp Phổ đẩy Áo ra khỏi các vấn đề của Đức, họ mở rộng thêm nhiều lãnh thổ và tạo ra tiền đề để thống nhất Đức và tạo ra [[Đế quốc Đức]] nằm dưới hoàng quyền của Nhà Hohenzollern vào năm 1871. Sau 7 tuần giao tranh, Nhà Habsburg trên đường xụp đổ, Thủ tướng Bismarck đã thuyết phục vua Phổ là Wilhelm I ngừng cuộc tiến công của Quân đội Phổ vì chiến tranh tiếp tục sẽ chỉ làm lợi cho đế quốc Nga và Pháp. Chiến tranh kết thúc thông qua [[Hòa ước Prague (1866)]], và theo nội dung hòa ước thì [[Bang liên Đức]] chính thức tan rã; Phổ sẽ sáp nhập [[Vương quốc Hannover]] và [[Tuyển hầu xứ Hessen|Hessen-Kassel]], [[Công quốc Nassau]]; Áo phải nhượng lại [[Công quốc Holstein]] cho Phổ; bồi thường một khoản chiến phí nhỏ và nhượng lại xứ [[Veneto]] cho Ý, đồng minh của nước Phổ, mặc dù quân đội Ý đã thua trận Custoza trên bộ và trận Lissa trên biển<hr> | |||
[[Chiến tranh Pháp-Phổ]] (1870-1871) giữa [[Liên bang Bắc Đức]] do Phổ lãnh đạo với [[Đệ Nhị Đế chế Pháp]] của Hoàng đế [[Napoleon III]]. Đây là cuộc chiến tranh có tầm vóc đồ sộ, trọng đại nhất kể từ [[Chiến tranh Napoleon]] đến [[Chiến tranh thế giới thứ nhất]],có vai trò hết sức to lớn trong lịch sử châu Âu, đặc biệt là nó đã gây ra mối thù nước Đức trong lòng người Pháp về việc mất lãnh thổ và điều này góp phần dẫn đến Thế chiến I. Thất bại thảm hại của Pháp cũng đánh dấu sự sụp đổ của Napoléon III và dấu chấm hết cho nền Đệ Nhị đế chế Pháp, sau đó được thay thế bởi Đệ Tam cộng hòa. Đế chế Đức đã được thành lập dưới vương quyền của Nhà Hohenzollern, một nhà nước của các dân tộc Đức đã thành hiện thực nhờ vào tài năng của Thủ tướng [[Otto von Bismarck]]. '''''Pháp đã đề nghị sẽ trao cho Đức [[Nam Kỳ]] để đổi lấy [[Alsace-Lorraine]], nhưng Đức đã từ chối, họ đã chiếm đống và hợp nhất lãnh thổ này cho đến sau Thế chiến I kết thúc'''''.<hr> | |||
[[Friedrich Wilhelm I xứ Brandenburg]] đã đạt được chủ quyền hoàn toàn đối với công quốc theo [[Hiệp ước Bydgoszcz]] năm 1657, được xác nhận trong [[Hiệp ước Oliva]] năm 1660. Kể từ năm 1701, [[Friedrich I của Phổ|Tuyển đế hầu Friedrich III]] đã trở thành vua của [[Vương quốc Phổ]], nâng Hohenzollern thành một vương tộc. Từ năm 1701 đến khi chế độ quân chủ ở Đức bị bãi bỏ vào năm 1918, '''''Vương quốc Phổ có 9 vị vua''''' và kể từ [[Wilhelm I, Hoàng đế Đức|Wilhelm I]], các vị quân chủ của Phổ đồng thời là [[Hoàng đế Đức]] ('''''3 hoàng đế Đức'''''). | |||
* '''Vua của Phổ''': [[Friedrich I của Phổ|Friedrich I]] (1701-1713); [[Friedrich Wilhelm I của Phổ|Friedrich Wilhelm I]] (1713-1740); [[Friedrich II của Phổ|Friedrich II]] (1740-1786); '''''[[Friedrich Wilhelm II của Phổ|Friedrich Wilhelm II]]''''' (1786-1797); '''''[[Friedrich Wilhelm III của Phổ|Friedrich Wilhelm III]]''''' (1797-1840); [[Friedrich Wilhelm IV của Phổ|Friedrich Wilhelm IV]] (1840-1861). | |||
*'''Vua của Phổ kiêm Hoàng đế Đức''': '''''[[Wilhelm I, Hoàng đế Đức|Wilhelm I]]''''' (1861-1888); '''''[[Friedrich III, Hoàng đế Đức|Friedrich III]]''''' (1888); '''''[[Wilhelm II, Hoàng đế Đức|Wilhelm II]]''''' (1888-1918). | |||
<hr> | |||
Dòng Swabia của Hohenzollern cai trị 2 thân vương quốc [[Hohenzollern-Hechingen]] và [[Hohenzollern-Sigmaringen]] ít nổi tiếng hơn, nhưng đến năm 1866, [[Carol I của România|Thân vương Karl xứ Hohenzollern-Sigmaringen]] được bầu lên ngai vàng [[Thân vương quốc Liên hiệp Moldavia và Wallachia]] với vương hiệu Carol I, chư hầu của [[Đế quốc Ottoman]]. Đến năm 1881, ông trở thành vua của [[Vương quốc România]] độc lập, tạo lập ra Vương tộc Hohenzollern Romania trải qua 4 đời quân chủ: [[Carol I của România|Carol I]] (1881-1914); [[Ferdinand I của România|Ferdinand I]] (1914-1927); [[Mihai I của România|Mihai I]] (1927-1930 & 1940-1947); [[Carol II của România|Carol II]] (1930-1940). '''''Mihai I có hai lần trị vì Romania'''''. | |||
'''[[Các nhánh của Hohenzollern-Franconia]]''' | |||
* [[Thân vương quốc Bayreuth|Nhánh Brandenburg-Bayreuth]] (1398-1791) | |||
* [[Thân vương quốc Ansbach|Nhánh Brandenburg-Ansbach]] (1398-1792) | |||
<hr> | |||
'''[[Nhánh Hohenzollern-Swabia cấp cao]]''' ít được biết đến trong lịch sử hơn nhánh Hohenzollern-Franconia cấp dưới, nhánh sau này trở thành Bá tước lâu đài Nuremberg và sau đó cai trị [[Bá quốc Brandenburg|Tuyển hầu xứ Brandenburg]] và [[Vương quốc Phổ]], và [[Đế quốc Đức]]. Sau cái chết của Bá tước [[Karl I xứ Hohenzollern]], [[Bá quốc Hohenzollern]] đã được chia cho 3 người con của ông: | |||
* '''''[[Hohenzollern-Hechingen|Nhánh Hohenzollern-Hechingen]] (1576-1850)''''': Người con cả [[Eitel Friedrich IV xứ Hohenzollern|Eitel Friedrich]] được nhận vùng Hechigen và trở thành bá tước đầu tiên của xứ [[Hohenzollern-Hechingen]]. Đến thời con của ông là [[Johann Georg xứ Hohenzollern-Hechingen|Johann Georg]] được nâng lên thân vương quốc. Dòng này trải qua 9 đời thân vương và 1 đời bá tước cai trị trong 274 năm. Vị quân chủ thứ 10 và thân vương thứ 9 là [[Konstantin xứ Hohenzollern-Hechingen]] cùng với người họ hàng là Thân vương [[Karl Anton xứ Hohenzollern-Sigmaringen]] đã nhượng lãnh thổ lại cho Vương quốc Phổ vào năm 1849 sau các cuộc [[Cách mạng 1848]]. Konstantin và vợ [[Eugénie xứ Leuchtenberg]] (con gái thứ 2 của [[Eugène de Beauharnais] và [[Auguste của Bayern]]) không có bất cứ người con nào, vì thế, sau cái chết của thân vương vào năm 1869 thì dòng Hohenzollern-Hechingen đã tuyệt tự. | |||
* '''''[[Hohenzollern-Sigmaringen|Nhánh Hohenzollern-Sigmaringen]] (1576-1850)''''': Người con trai thứ 2 là [[Karl II xứ Hohenzollern-Sigmaringen|Karl]] đã nhận vùng Sigmaringen và trở thành bá tước đầu tiên của xứ [[Hohenzollern-Sigmaringen]]. Đến đời con của ông là [[Johann xứ Hohenzollern-Sigmaringen|Johann]] thì được nâng lên thành thân vương quốc. Nhánh này trải qua 10 đời quân chủ cai trị, trong đó có 1 bá tước và 9 thân vương. Năm 1849, Thân vương thứ 9 là [[Karl Anton xứ Hohenzollern-Sigmaringen|Karl Anton]] cùng với người họ hàng là Thân vương [[Konstantin xứ Hohenzollern-Hechingen]] đã quyết định nhường lãnh thổ lại cho Vương quốc Phổ. | |||
** [[Vương quốc România|Vương tộc Sigmaringen-Romania]] (1866-1947): Tuy nhiên, người con trai thứ 2 của Thân vương Karl Anton là Karl Eitel đã được bầu lên làm [[Thân vương quốc Liên hiệp Moldavia và Wallachia|Thân vương xứ Moldavia và Wallachia]] vào năm 1866 và đến năm 1881 thì lập ra [[Vương quốc România]], ông trở thành vị vua đầu tiên với vương hiệu [[Carol I của România]]. | |||
**Sau khi Carol qua đời mà không có con thừa tự vào năm 1914, ngai vàng được nhường lại cho cháu của ông là [[Ferdinand I của România|Ferdinand]], con trai của em trai ông [[Leopold xứ Hohenzollern]] và [[Antónia của Bồ Đào Nha]] (con gái của [[Maria II của Bồ Đào Nha]]). | |||
**Người nhà Sigmaringen cai trị Romania cho đến năm 1947 thì bị lật đổ, trải qua 4 đời quân chủ với 86 năm: [[Carol I của România|Carol I]] (1866-1914); [[Ferdinand I của România|Ferdinand I]] (1914-1927); [[Mihai I của România|Mihai I]] (1927-1930); [[Carol II của România]] (1930-1940); Mihai I lên ngôi lần 2 (1940-1947). Dòng này cũng đã chính thức tuyệt tự dòng nam sau khi cựu vương [[Mihai I của România]] qua đời vào năm 2017, vì ông chỉ có 5 người con gái. | |||
* '''''[[Hohenzollern-Haigerloch|Nhánh Hohenzollern-Haigerloch]] (1576-1767)'''''': Người con trai thứ 3 nhận được vùng Haigerloch và trở thành bá tước đầu tiên của xứ [[Hohenzollern-Haigerloch]]. | |||
**Vị bá tước thứ 3 là [[Karl xứ Hohenzollern-Haigerloch]], là em trai của vị bá tước thứ 2 [[Johann Christoph xứ Hohenzollern-Haigerloch]], qua đời trong cảnh lưu vòng vào năm 1634 mà không để lại người thừa tự, lãnh thổ Hohenzollern-Haigerloch đã được thừa kế bởi các thân vương xứ [[Hohenzollern-Sigmaringen]]. | |||
**Sau đó, Bá quốc Hohenzollern-Haigerloch đã được thừa kế bởi con trai út của Thân vương [[Meinrad I xứ Hohenzollern-Sigmaringen]] là [[Franz Anton xứ Hohenzollern-Haigerloch|Franz Anton]], sau khi tử trận vào năm 1702, quyền bá tước được trao lại cho người con cả [[Ferdinand Leopold xứ Hohenzollern-Sigmaringen]], nhưng ông này vốn là một giáo sĩ nên không lập gia đình, sau khi qua đời vào năm 1750 thì quyền bá tước thuộc về người em trai [[Franz Christoph Anton xứ Hohenzollern-Sigmaringen]], ông cũng lại là một giáo sĩ và chưa từng lấy vợ, vì thế, sau khi qua đời vào năm 1767, lãnh thổ Hohenzollern-Haigerloch đã được thừa kế bởi các thân vương xứ [[Hohenzollern-Sigmaringen]] cho đến khi Hohenzollern-Sigmaringen được sáp nhập vào Vương quốc Phổ năm 1849. | |||
===Friedrich Wilhelm III=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Bang liên Đức|BANG LIÊN ĐỨC]]<hr>[[Vương quốc Phổ]] <br> (1701 - 1918)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Prussia (1892-1918).svg|center|148px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of Arms of the Kingdom of Prussia 1873-1918.svg|center|53px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Friedrich Wilhelm III của Phổ|Vua Friedrich Wilhelm III]]<br> (1797 - 1840)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị vua thứ 5 của Phổ}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 thaler Friedrich Wilhelm III 1830 D.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 thaler [[Friedrich Wilhelm III của Phổ|Friedrich Wilhelm III]] - 1830 D<hr>195 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Friedrich Wilhelm III., König von Preußen (unbekannter Maler).jpg|110px]]<br>'''1828 - 1840<hr>[[XF]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[34,4 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[75,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[22,272 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[16,704 gr]] <hr>'''Số lượng'''<br>[[23.859.959]]<hr>1.130.000<br>[[(48,50$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
* Thông qua con gái của mình là [[Charlotte Wilhelmine của Phổ]], ông là cha vợ của Hoàng đế [[Nikolai II của Nga]] và ông ngoại của Hoàng đế [[Aleksandr II của Nga]]. | |||
===Wilhelm I và Augusta=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Bang liên Đức|BANG LIÊN ĐỨC]]<hr>[[Vương quốc Phổ]] <br> (1701 - 1918)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Prussia (1892-1918).svg|center|148px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of Arms of the Kingdom of Prussia 1873-1918.svg|center|53px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Wilhelm I, Hoàng đế Đức|Vua Wilhelm I]] <br>(1861 - 1888)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị vua thứ 7 của Phổ và Hoàng đế đầu tiên của Đế chế Đức}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 thaler Wilhelm I & Augusta 1861.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 thaler [[Wilhelm I, Hoàng đế Đức|Wilhelm I]]_[[Augusta xứ Sachsen-Weimar-Eisenach|Kỷ niệm Lễ đăng cơ của Wilhelm và Augusta]] - 1861<hr>164 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Heinrich von Angeli (1840 - 1925) - Bildnis Wilhelm I., Deutscher Kaiser und König von Preußen - A I 442 - Alte Nationalgalerie.jpg|120px]]<br>'''1861<hr>[[AU]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[33,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[18,52 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[16,668 gr]] <hr>'''Số lượng'''<br>[[1.000.000]]<hr>1.800.000<br>[[(77,92$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#fbd"|[[Augusta xứ Sachsen-Weimar-Eisenach]] | |||
|- | |||
|style="background:LemonChiffon;"| | |||
Là vương hậu Phổ và Hoàng hậu đầu tiên của Đế chế Đức sau khi chồng của bà là Hoàng đế Wilhelm I thống nhất Đức vào năm 1871. Mẹ bà là Nữ đại công tước [[Mariya Pavlovna của Nga]], con gái của Hoàng đế [[Pavel I của Nga]] và em gái của hoàng đế [[Aleksandr I của Nga|Aleksandr I]] và là chị gái của Hoàng đế [[Nikolai I của Nga|Nikolai I]]. Cha của bà là [[Karl Friedrich xứ Sachsen-Weimar-Eisenach|Karl Friedrich]], Đại công tước xứ [[Sachsen-Weimar-Eisenach]].<hr> | |||
Sau khi Wilhelm đội vương miện hoàng gia lên đầu, ông trao vương miện cho vợ mình. Augusta là vương hậu thứ hai được trao vương miện trong lịch sử Phổ; trước bà, chỉ có [[Sophia Charlotte xứ Hannover]] được trao vương miện tại Königsberg năm 1701.<hr> | |||
Kể từ Cách mạng 1848, Augusta bắt đầu đối chọi với các chính sách của [[Otto von Bismarck]], bà cũng không thích chủ nghĩa quân phiệt và chiến tranh, vì thế các nhà sử học xem là là người theo chủ nghĩa tự do và hoà bình. Bà luôn muốn chính trị của Phổ được cải tạo theo hình thức [[quân chủ lập hiến]] theo phong cách của người Anh.<hr> | |||
Cuộc hôn nhân giữa bà và Wilhelm là một dàn xếp chính trị của mẹ bà, vì muốn kết đồng minh với Phổ để đảm bảo được sự toàn vẹn lãnh thổ của [[Sachsen-Weimar-Eisenach]]. Wilhelm trên thực tế muốn kết hôn với người em họ là [[Elisa Radziwiłł]], con gái của người dì [[Luise Philippine của Phổ]], nhưng vì cha của Elisa là quý tộc Ba Lan, không môn dặng hộ đối nên bị phản đối. Vì thế, cuộc hôn nhân ban đầu có nhiều xung đột và không hạnh phúc, nhưng qua thời gian, Augusta và Wilhelm đã hoà hợp hơn.<hr> | |||
Theo sự thúc đẩy của Augusta, cuộc họp quốc tế đầu tiên của [[Hội Chữ thập đỏ]] đã diễn ra tại Berlin vào năm 1869. Trước đó vài năm, bà cũng đã tiếp kiến [[Henry Dunant]], cha đẻ của Hội này. <hr> | |||
Augusta và chồng tuy là người theo đạo Tin Lành, nhưng trong suốt cuộc đời của mình, bà đã hết lòng bảo trợ người Công giáo trong Đế chế Đức, những người bị xem là yếu thế trong một đế chế được cai trị bởi một hoàng đế Tin Lành. Bà xung đột nhiều với thủ tướng Bismarck trong vấn đề này, bà đã cố gắng thuyết phục chồng trong các vấn đề hoà giải với Toà Thánh. <hr> | |||
Vì bà xung đột với con dâu là [[Victoria, Vương nữ Vương thất]] nên bà và thủ tướng Bismarck không muốn để cho chồng của Victoria cũng là con trai trưởng của bà là [[Friedrich III, Hoàng đế Đức|Thái tử Friedrich Wilhelm]] thừa kế ngai vàng, thay vào đó là con trai của Victoria là [[Wilhelm II, Hoàng đế Đức|Vương tôn Wilhelm]]. Tuy được thừa kế ngai vàng, nhưng con trai bà chỉ tại vị được 99 ngày thì qua đời vì ung thư thanh quản. Cháu trai của bà lên kế vị với Đế hiệu Wilhelm II. Đây được xem là 1 trong những lần hiếm hoi bà với Bismarck có cùng chung ý tưởng. | |||
|} | |||
===Wilheim I=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đế quốc Đức|ĐẾ CHẾ ĐỨC]]<hr>[[Vương quốc Phổ]]<br>(1701–1918)}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Germany (1867–1918).svg|center|132px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Wappen Deutsches Reich - Reichsadler 1889.svg|center|71px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Wilhelm I, Hoàng đế Đức|Hoàng đế Wilhelm I]] <br>(1861 - 1888)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị vua thứ 7 của Phổ và Hoàng đế đầu tiên của Đế chế Đức}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 thaler Wihelm I siegestaler - 1871.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 thaler [[Wilhelm I, Hoàng đế Đức|Wilhelm I]]_[[Chiến tranh Pháp-Phổ|Victory]]<hr>154 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Heinrich von Angeli (1840 - 1925) - Bildnis Wilhelm I., Deutscher Kaiser und König von Preußen - A I 442 - Alte Nationalgalerie.jpg|120px]]<br>'''1871<hr>[[AU]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[33,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[18,52 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[16,668 gr]] <hr>'''Số lượng'''<br>[[1.000.000]]<hr>1.800.000<br>[[(77,92$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#fbd"|[[Wilhelm I, Hoàng đế Đức|WILHELM I]] | |||
|- | |||
|style="background:LemonChiffon;"| | |||
[[Chiến tranh Áo-Phổ]] diễn ra giữa hai kình địch là Vương quốc Phổ dưới sự lãnh đạo của [[Wilhelm I, Hoàng đế Đức|Wilhelm I]] và [[Đế quốc Áo]] của Hoàng đế [[Franz Joseph I của Áo|Franz Joseph I]]. Cuộc chiến diễn ra vào năm 1866, chiến thắng tại [[Trận Königgrätz|Königgrätz]] đã được xem như là một trong những chiến công hiển hách trong lịch sử quân sự của [[Vương quốc Phổ]], cùng với các trận thắng tại [[Trận Roßbach|Rossbach]], [[Trận Leuthen|Leuthen]], [[Trận Leipzig|Leipzig]] và [[Trận Waterloo|Waterloo]] trước kia. Chiến tranh kết thúc với thắng lợi hoàn toàn thuộc về Phổ khiến Áo phải rút khỏi [[Bang liên Đức]] và mang lại thêm đất đai cho nước Phổ, mở đường cho họ thống nhất Đức và tạo ra [[Đế quốc Đức]]. Thất bại của Áo là một đòn giáng mạnh vào chế độ cai trị của [[Quân chủ Habsburg]]; Đế quốc Áo đã được chuyển đổi thông qua Thỏa hiệp Áo-Hung năm 1867 thành chế độ quân chủ kép Đế chế [[Áo-Hung]] vào năm sau. Chấm dức sự tồn tại của [[Bang liên Đức]] thay vào đó là [[Liên bang Bắc Đức]].<hr> | |||
* Hoàng đế Pháp Napoleon III tin rằng Phổ sẽ thua trước Đế chế Áo nên ông đã chọn cách đứng ngoài cuộc chiến để củng cố vị thế đàm phán của mình về lãnh thổ dọc sống Rhein, trong khi đó Hoàng đế [[Aleksandr II của Nga]] vẫn còn thù Áo sau [[Chiến tranh Krym]] (1853-1856). [[Vương quốc Ý]] tham gia vào cuộc chiến với Phổ, vì Áo nắm giữ Veneto và các vùng lãnh thổ nhỏ hơn khác mà Ý muốn có để thúc đẩy quá trình thống nhất Ý. Để đổi lấy sự hỗ trợ của Ý chống lại Áo, Thủ tướng Bismarck đồng ý không ký kết một hiệp ước hòa bình riêng cho đến khi Ý giành được Veneto. | |||
* Đế chế Áo giao tỉnh [[Veneto]] cho [[Đệ Nhị Đế chế Pháp]], nhưng sau đó [[Napoleon III]] đã trao nó cho [[Vương quốc Ý]], sau một cuộc trưng cầu dân ý tuyên bố 99,99% muốn gia nhập Ý, như đã thỏa thuận trong một hiệp ước bí mật với Phổ. | |||
* Phổ sáp nhập [[Công quốc Schleswig]] và [[Công quốc Holstein]]: Trở thành [[Tỉnh Schleswig-Holstein]] của Phổ. | |||
* Sáp nhập [[Vương quốc Hannover]] và thở thành [[Tỉnh Hannover]]. | |||
* [[Hessen-Darmstadt]]: Nhượng lại cho Phổ phần lãnh thổ nhỏ mà họ đã mua lại trước đó vào năm 1866 khi nhà cầm quyền [[Hessen-Homburg]] sụp đổ. Nửa phía bắc của phần đất còn lại gia nhập [[Liên bang Bắc Đức]] (1867-1870). | |||
* [[Công quốc Nassau]], [[Tuyển hầu xứ Hessen]], [[Frankfurt]]: Được Phổ sáp nhập. Kết hợp với phần lãnh thổ mà Hessen-Darmstadt nhượng lại để thành lập [[Tỉnh Hessen-Nassau]] mới. | |||
* [[Vương quốc Sachsen]], [[Sachsen-Meiningen]], [[Thân vương quốc Reuss-Greiz|Reuss-Greiz]], [[Thân vương quốc Schaumburg-Lippe|Schaumburg-Lippe]]: Không bị sáp nhập nhưng đã gia nhập Liên bang Bắc Đức vào năm sau.<hr> | |||
Wilhelm I, trong cuộc viếng thăm [[Château de Ferrières]], đã nói rằng: "Không có bất kì vị vua nào có thể sở hữu tòa dinh thự này! Nó chỉ có thể thuộc một người trong '''[[gia tộc Rothschild]]'''". Nó là một lâu đài của Pháp được xây dựng từ năm 1855 đến năm 1859 cho [[James Mayer de Rothschild|Nam tước James de Rothschild]] theo phong cách [[Goût Rothschild]] nằm ở miền trung nước Pháp, cách Paris khoảng 26 km về phía đông. Quyền sở hữu Château de Ferrières của gia tộc Rothschild được truyền qua dòng dõi nam giới theo quy tắc thừa kế, cho đến khi gia đình này tặng nó cho [[Đại học Paris]] vào năm 1975. Được coi là lâu đài lớn nhất và xa hoa nhất thế kỷ 19 ở Pháp. | |||
|} | |||
===Friedrich III=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đế quốc Đức|ĐẾ CHẾ ĐỨC]]<hr>[[Vương quốc Phổ]]<br>(1701–1918)}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Germany (1867–1918).svg|center|132px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Wappen Deutsches Reich - Reichsadler 1889.svg|center|71px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Friedrich III, Hoàng đế Đức|Hoàng đế Friedrich III]] <br>(3/1888 - 6/1888)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị vua thứ 8 của Phổ và Hoàng đế thứ 2 của Đế chế Đức}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:5 Marks Friedrich of Prussia 1888MS.png|center|700px]]<hr>{{center|'''5 mark [[Friedrich III, Hoàng đế Đức|Friedrich III]] - 1888 A<hr>137 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Kaiser Friedrich III Porträt.jpg|120px]]<br>'''1888<hr>[[AU]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[38,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,777 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,9993 gr]] <hr>'''Số lượng'''<br>[[200.000]]<hr>4.600.000<br>[[(195,51$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
* Friedrich là con trai trưởng của [[Wilhelm I, Hoàng đế Đức|Hoàng đế Wilhelm I của Đức]] và [[Augusta xứ Sachsen-Weimar-Eisenach]]. Thông qua vợ là [[Victoria, Vương nữ Vương thất|Vương nữ Victoria Adelaide Mary Louisa]] ông là con rể trưởng của [[Nữ hoàng Victoria]] và Thân vương [[Albrecht xứ Sachsen-Coburg và Gotha]]. | |||
* Ông trở thành vị hoàng đế thứ 2 của Đế chế Đức thuộc Nhà Hohenzollern, nhưng ông chỉ tại vị được 98 ngày (9/3/1888 - 15/6/1888) thì qua đời vì '''[[ung thư vòm họng]]''', đây là hậu quả của chứng nghiện thuốc lá từ thời trẻ, khi qua đời ông chỉ 56 tuổi. Con trai trưởng của ông là Thái tử Friedrich Wilhelm đã lên kế vị với đế hiệu [[Wilhelm II, Hoàng đế Đức]] và ông này cũng là hoàng đế cuối cùng của Đế chế Đức. | |||
===Wilhelm II=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đế quốc Đức|ĐẾ CHẾ ĐỨC]]<hr>[[Vương quốc Phổ]]<br>(1701–1918)}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Germany (1867–1918).svg|center|132px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Wappen Deutsches Reich - Reichsadler 1889.svg|center|71px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Wilhelm II, Hoàng đế Đức|Hoàng đế Wilhelm II]] <br>(1888 - 1918)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị vua thứ 9 và cuối cùng của Phổ & Hoàng đế thứ 3 và cuối cùng của Đế chế Đức}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:5 mark Wilhelm II & Friedrich I 1901.png|center|700px]]<hr>{{center|'''5 mark [[Wilhelm II, Hoàng đế Đức|Wilhelm II]] & [[Friedrich I của Phổ|Friedrich I]]_[[Vương quốc Phổ|200 năm Vương quốc Phổ]] 1901<hr>124 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Bruno Heinrich Strassberger - Portrait of Kaiser Wilhelm II, 1909.jpg|120px]]<br>'''1901<hr>[[AU]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[38,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,777 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,9993 gr]] <hr>'''Số lượng'''<br>[[460.000]]<hr>1.800.000<br>[[(73,59$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
* Thông qua mẹ của mình là [[Victoria, Vương nữ Vương thất]], ông là cháu ngoại của Nữ hoàng [[Victoria của Anh]] và Thân vương [[Albrecht xứ Sachsen-Coburg và Gotha]]. Vì thế ông gọi vua [[Edward VII của Anh]] là chú và Vua [[George V của Anh]] là em họ đời đầu. | |||
|} | |||
==🟪 ĐẠI CÔNG QUỐC ÁO== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#ccf"|[[File:Arms of Counts of Habsbourg.svg|50px]] | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|HOÀNG TỘC HABSBURG | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
[[Tập tin:Locator Austrian Circle.svg|thumb|250px|Đại công quốc Áo]] | |||
[[File:HRR 1648 Tirol.png|thumb|250px|Bá quốc Tirol]] | |||
[[File:Map of Austrian Netherlands 1789.svg|thumb|250px|Hà Lan thuộc Áo]] | |||
'''Guntram Giàu có''' (920–973) là một bá tước ở [[Breisgau]], thành viên của gia đình quý tộc [[Etichonid]], và có thể là tổ tiên của [[Vương tộc Habsburg]]. Vì theo các tài liệu còn sót lại thì Guntram chính là cha của Bá tước [[Lanzelin xứ Klettgau]], và Lanzelin đã sinh ra [[Radbot xứ Klettgau]], chính Radbot đã cho xây dựng [[Lâu đài Habsburg]], các hậu duệ sau đó đã lấy tên lâu đài để làm họ và tên gọi triều đại. | |||
* Truy nguồn xa hơn có thể đề cập đến [[Adalrich xứ Alsace|Công tước Adalrich]] (năm 673-690), còn được gọi là Eticho, là [[Công quốc Alsace|Công tước xứ Alsace]], người sáng lập ra gia tộc [[Etichonid]] và là một nhân vật quan trọng và có ảnh hưởng trong nền chính trị quyền lực của [[Austrasia]] vào cuối thế kỷ thứ VII. Ông có thể là tổ tiên của Nhà Habsburg. Trong số những hậu duệ của Etichonid, dòng dõi nữ có [[Hugh xứ Tour]] và gia đình ông, bao gồm cả con gái của ông là [[Ermengarde xứ Tour|Ermengard]] là vợ của [[Lothaire I]] và do đó là mẹ của ba vị vua Carolingian. Vào thế kỷ thứ X, Etichonid vẫn nắm quyền lực ở Alsace với tư cách là bá tước, nhưng quyền lực của họ đã bị hạn chế đáng kể bởi [[Vương triều Otto]]; đến thế kỷ thứ X, [[Giáo hoàng Lêô IX]] có tổ tiên là các lãnh chúa (hoặc bá tước) của Dabo và Eguisheim trong nửa thế kỷ trước thực tế là hậu duệ trực tiếp của Etichonid cuối cùng. Nhiều gia đình đáng chú ý ở châu Âu có nguồn gốc từ Etichonid, bao gồm cả Habsburg. | |||
* Vương tộc này được đặt theo tên của [[Lâu đài Habsburg]], một pháo đài xây dựng bởi [[Radbot xứ Klettgau]] vào những năm 1020 ở [[Thụy Sĩ]] ngày nay. Năm 1108, cháu trai của ông là [[Otto II, Bá tước xứ Habsburg|Otto II]] là người đầu tiên lấy tên pháo đài làm họ của mình và thêm từ Habsburg đằng sau tước vị, đây cũng là dấu mốc cho sự ra đời của [[Bá tước xứ Habsburg]], nguồn gốc khởi đầu của các quân chủ [[Quân chủ Habsburg|Đế chế Habsburg]] trong suốt gần 1000 năm tiếp theo. | |||
* Nguồn gốc tên gọi Lâu đài Habsburg vẫn chưa rõ ràng. Có sự bất đồng về việc liệu tên gọi này có bắt nguồn từ tiếng Đức cổ Habichtsburg (lâu đài diều hâu) hay từ tiếng Đức cổ Trung cổ hab/hap có nghĩa là bến cạn, vì có một con sông có bến cạn gần đó. Việc sử dụng tên gọi đầu tiên được ghi chép lại của chính triều đại này đã được truy tìm đến năm 1108. | |||
* Năm 1273, hậu duệ đời thứ 7 của Bá tước Radbot là [[Rudolf I của Đức|Rudolph nhà Habsburg]] được bầu làm [[Vua La Mã Đức|Vua của người La Mã Đức]]. Lợi dụng vương triều [[Babenberg]] tuyệt tự dòng nam kế vị và chiến thắng của ông trước [[Ottokar II của Bohemia]] trong [[trận chiến trên Marchfeld]] năm 1278, Rudolf I đã cho chuyển cơ sở quyền lực của gia tộc Habsburg đến [[Viên]] (thủ đô của [[Áo]] ngày nay), nơi các quân chủ Habsburg cai trị cho đến năm 1918. | |||
* Đế miện của [[Thánh chế La Mã]] liên tục thuộc về nhà Habsburg từ năm 1440 cho đến khi gia tộc này tuyệt tự dòng nam kế vị vào năm 1740, và sau cái chết của [[Franz I của Thánh chế La Mã]], từ năm 1765 cho đến khi Đế quốc La Mã Thần thánh bị giải thể vào năm 1806, ngai vàng đế quốc đều thuộc về hậu duệ của Franz I và [[Maria Theresia của Áo]], cuộc hôn nhân của họ đã tạo ra [[Vương tộc Habsburg-Lothringen]], kế thừa huyết thống của [[Nhà Habsburg]] và [[Nhà Lorraine]]. | |||
* Vương tộc này cũng sản sinh ra các vị vua của Bohemia, Hungary, Croatia, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và Galicia-Lodomeria. [[Quân chủ Habsburg]] còn cai trị một hệ thống các thuộc địa như [[Hà Lan Áo]], nhiều [[Công quốc]] và [[Đại công quốc]] ở [[Bán đảo Ý]], và vào thế kỷ XIX, các hoàng đế của [[Đế quốc Áo]] và [[Đế quốc Áo-Hung|Áo-Hung]] cũng như 1 vị hoàng đế của Mexico đều là người Nhà Habsburg. Vương tộc này cũng nhiều lần chia ra các chi nhánh song song, vì thế mà vào giữa thế kỷ XVI, Nhánh [[Tây Ban Nha Habsburg]] đã kế thừa quyền cai trị Đế quốc Tây Ban Nha, trong khi đó Habsburg Áo thì vẫn giữ quyền cai trị của tổ tiên ở [[Đế chế La Mã Thần thánh]]. | |||
<hr> | |||
Vào thế kỷ XII, Nhà Habsburg ngày càng gắn bó với các hoàng đế [[Vương tộc Staufer|Nhà Staufer]], tham gia vào triều đình đế quốc và các cuộc viễn chinh quân sự của hoàng đế; [[Werner II xứ Habsburg]] đã tử trận khi chiến đấu cho [[Friedrich I của Thánh chế La Mã|Hoàng đế Friedrich I Barbarossa]] ở [[Bán đảo Ý]]. Sự liên kết này đã giúp họ thừa kế nhiều lãnh địa khi Nhà Staufer gây ra sự tuyệt tự của nhiều triều đại, một số trong đó là do Nhà Habsburg thừa kế. Năm 1198, [[Rudolf II xứ Habsburg]] đã cống hiến toàn bộ triều đại cho sự nghiệp của Nhà Staufer bằng cách tham gia vào [[Guelphs và Ghibellines]] và tài trợ cho cuộc chiến giành ngai vàng của hoàng đế Nhà Staufer [[Friedrich II của Thánh chế La Mã]] vào năm 1211. Hoàng đế là cha đỡ đầu cho đứa cháu trai mới sinh của Rudolf II, vị vua tương lai [[Rudolf I của Đức]].<hr> | |||
Nhà Habsburg mở rộng ảnh hưởng của mình thông qua hôn nhân và bằng cách giành được các đặc quyền chính trị, đặc biệt là quyền bá tước ở [[Liên bang Zürich|Zürich]], [[Aargau]] và [[Thurgau]]. Vào thế kỷ XIII, Habsburg hướng chính sách hôn nhân của mình vào các gia đình ở [[Thượng Alsace]] và [[Swabia]]. Về mặt lãnh thổ, họ thường hưởng lợi từ sự tuyệt tự của các gia đình quý tộc khác như [[Gia tộc Kyburg]]. | |||
* '''[[Gia tộc Kyburg|Nhánh Neu-Kyburg]]''': Gia tộc Kyburg là một trong bốn gia đình quý tộc quyền lực nhất ở cao nguyên Thụy Sĩ (bên cạnh Nhà Habsburg, [[Nhà Zähringen]] và [[Nhà Savoia]]) trong thế kỷ XII. Với sự tuyệt tự của dòng dõi nam của gia tộc Kyburg vào năm 1264 sau cái chết của Hertmann V, thông qua cuộc hôn nhân của nữ thừa kế của Kyburg là Anna với [[Gia phả nhà Habsburg|Eberhard I xứ Habsburg-Laufenburg]]. Dòng dõi của họ được biết đến với tên gọi là Neu-Kyburg hoặc Kyburg-Burgdorf, tồn tại cho đến năm 1417. | |||
<hr> | |||
'''[[Đại công tước Áo]]''': Thông qua văn bản giả mạo có tên là ''[[Privilegium Maius]]'' (1358/59), [[Rudolf IV của Áo]] (1339–1365) đã tự phong cho mình là Đại công tước để đưa Nhà Habsburg ngang hàng với các [[Tuyển đế hầu]] của Đế chế, vì Hoàng đế [[Karl IV của Thánh chế La Mã]] đã không trao cho họ phẩm giá tuyển đế hầu trong [[Goldene Bulle|Sắc lệnh Vàng]] năm 1356. Tuy nhiên, Hoàng đế Karl IV đã từ chối công nhận danh hiệu này, cũng như những người kế vị trực tiếp của ông. | |||
* Công tước [[Ernst của Áo|Ernst Ý chí Sắt]] và con cháu của ông đã đơn phương nhận danh hiệu "đại công tước". Danh hiệu đó chỉ được Hoàng đế [[Friedrich III của Thánh chế La Mã]] (người Nhà Habsburg), chính thức công nhận vào năm 1453.[19] Bản thân Friedrich chỉ sử dụng "Công tước Áo", không bao giờ sử dụng Đại công tước, cho đến khi ông qua đời vào năm 1493. | |||
* Đại công tước ban đầu được trao cho những người cai trị một vùng lãnh thổ Habsburg, tức là chỉ dành cho nam giới và vợ của họ. Tuy cai trị nhưng không được cha truyền con nối lãnh thổ, vì chúng thuộc về vương miện Áo. Từ thế kỷ XVI trở đi, thành viên nữ của Nhà Habsburg cũng được nhận tước phong Đại công tước. | |||
<hr> | |||
Trong nhiều giai đoạn khác nhau, lãnh thổ và tài sản của Nhà Habsburg được phân chia cho các dòng, sau đó lại thống nhất do các dòng tuyệt tự dòng nam thừa kế, nên lãnh thổ lại được thống nhất lại bởi dòng còn tồn tại. | |||
* '''Phân chia giữa Albertine và Leopoldine (1379-1496)''': Sau cái chết của [[Rudolph IV của Áo]], hai em trai của ông là [[Albrecht III của Áo|Albrecht]] và [[Leopold III của Áo|Leopold]] cùng nhau cai trị các vùng đất của Habsburg từ năm 1365 đến năm 1379, sau đó họ đã chia các vùng lãnh thổ theo [[Hiệp ước Neuberg]], Albrecht giữ [[Công quốc Áo]] và Leopold cai trị [[Công quốc Styria]], [[Công quốc Carinthia]], [[Carniola]], [[Windic March]], [[Tirol]] và [[Ngoại Áo]]. Dòng Leopoldine tuyệt tự sau cái chết của [[Sigismund, Đại công tước Áo|Sigismund]] vào năm 1496. Trước đó, ông đã nhận nuôi [[Maximilian I của Thánh chế La Mã|Maximilian I]], con trai của Hoàng đế [[Friedrich III của Thánh chế La Mã]]. Dưới thời Maximilian, các vùng đất của Habsburg sẽ được thống nhất lại dưới một người cai trị, sau khi ông tái chiếm [[Công quốc Áo]] sau cái chết của [[Matthias Corvinus]] của [[Giá tộc Hunyadi]], người cư trú tại Viên và tự xưng là công tước Áo từ năm 1485 đến năm 1490. | |||
* '''Phân chia giữa Maximilian và Karl (1564-1619) - Ferdinand và Leopold (1623-1665)''': Sau cái chết của Hoàng đế [[Ferdinand I của Thánh chế La Mã]], năm 1564 quyền thừa kế được chia cho các con trai của ông. [[Maximilian II của Thánh chế La Mã|Maximilian II]] lên ngôi Hoàng đế Thánh chế La Mã và em trai ông là [[Karl II của Áo|Đại công tước Karl II]] cai trị [[Nội Áo]] (tức là [[Công quốc Styria]], [[Công quốc Carniola]] với [[Phiên hầu Istria]], [[Công quốc Carinthia]], [[Lãnh địa Bá tước Gorizia và Gradisca]], và Thành phố Đế quốc [[Trieste]], cai trị từ [[Graz]]). Người kế vị của Karl II là [[Ferdinand II của Thánh chế La Mã|Ferdinand II]] vào năm 1619 đã trở thành Đại công tước của Áo và Hoàng đế La Mã Thần thánh cũng như Vua của Bohemia và Hungary vào năm 1620 sau khi Hoàng đế [[Matthias của Thánh chế La Mã]] qua đời mà không để lại người thừa kế (ông là con của [[Maximilian II của Thánh chế La Mã|Maximilian II]] và em trai của [[Rudolf II của Thánh chế La Mã|Rudolf II]]). '''Dòng dõi Áo/Tyrol''' của em trai Ferdinand II là [[Leopold V của Ngoại Áo|Đại công tước Leopold V]] vẫn tồn tại cho đến khi con trai ông là [[Sigismund Franz của Áo|Sigismund Franz]] qua đời vào năm 1665 mà không để lại người thừa kế, sau đó lãnh thổ của họ cuối cùng đã thống nhất lại dưới vương quyền của '''[[Leopold I của Thánh chế La Mã]]''', con trai của Ferdinand III và cháu nội của Ferdinand II.<hr> | |||
'''Nhà Habsburg đã rất thành công trong việc mở rộng lãnh thổ và tài sản thông qua các cuộc hôn nhân chính trị:''' | |||
*'''Thừa kế [[Hà Lan Bourgogne]]''': Sau khi thành công trong [[Cuộc vây hãm Neuss]] (1474-1475), Hoàng đế [[Friedrich II của Thánh chế La Mã]] thuộc Nhà Habsburg đã ép [[Charles I xứ Bourgogne|Karl Táo bạo]] (thuộc [[Vương tộc Valois-Bourgogne]]) gả con gái và người thừa kế cảu mình là [[Marie I xứ Bourgogne]] cho con trai của mình là [[Maximilian I của Thánh chế La Mã|Maximilian]] vào năm 1477, và cuối cùng dẫn đến việc Nhà Habsburg giành được quyền thừa kế [[Hà Lan Bourgogne]] sau cái chết sớm của Mary vào năm 1482. Maximilian đã cố gắng đảm bảo quyền thừa kế Bourgogne cho một người con trai của ông và Mary, đó là [[Philipp Đẹp trai]]. Tuy [[Charles VIII của Pháp]] (thuộc [[Vương tộc Valois]]) đã phản đối nhưng cuối cùng quyền thừa kế đã rơi vào tay Philipp qua [[Hiệp ước Senlis]] năm 1493. | |||
*'''Thừa kế [[Đế quốc Tây Ban Nha]]''': Con trai của Hoàng đế [[Maximilian I của Thánh chế La Mã]] và [[Marie I xứ Bourgogne]] là [[Philipp Đẹp trai]] được thu xếp để lấy [[Juana I của Castilla|Juana I]] Nữ vương của [[Vương quyền Castilla|Castilla]] và [[Vương quyền Aragón|Aragón]], họ có với nhau 6 người con, trong đó người con cả là Hoàng đế [[Karl V của Thánh chế La Mã]] đã thừa kế Castilla và Aragón (bao gồm các thuộc địa của nó ở [[Tân Thế giới]]), Nam Ý, Áo và Habsburg Hà Lan. Thuật ngữ '''''[[Đế quốc mặt trời không bao giờ lặn]]''''' lần đầu tiên được vận dụng là để chỉ Đế chế Habsburg của Karl V. | |||
*'''Thừa kế Bohemia và Hungary''': Năm 1515, một cuộc hôn nhân đôi được thực hiện giữa Nhà Habsburg và [[Triều đại Jagiellon]]. Tất cả những đứa trẻ này vẫn còn nhỏ, vì vậy đám cưới được chính thức hoàn thành vào năm 1521. | |||
** Hôn nhân đầu tiên: Con trai duy nhất của Vua [[Vladislaus II của Hungary|Vladislaus II của Bohemia và Hungary]] là [[Lajos II của Hungary|Vương tử Lajos]] với cháu gái của Hoàng đế [[Maximilian I của Thánh chế La Mã]] là [[María của Áo và Castilla]] (con gái của [[Philipp Đẹp trai]] và [[Juana I của Castilla]]). | |||
** Hôn nhân thứ hai: Giữa [[Ferdinand I của Thánh chế La Mã|Đại công tước Ferdinand]] anh trai của [[María của Áo và Castilla]] (con trai của [[Philipp Đẹp trai]] và [[Juana I của Castilla]]) với [[Anna của Bohemia và Hungary]], chị gái của [[Lajos II của Hungary|Vương tử Lajos]] (con gái duy nhất của [[Vladislaus II của Hungary|Vladislaus II của Bohemia và Hungary]]). | |||
** [[Lajos II của Hungary]] qua đời không để lại người kế vị trong chiến trận vào năm 1526, vì thế [[Ferdinand I của Thánh chế La Mã|Đại công tước Ferdinand]] đã thừa kế và trở thành vua của Bohemia và Hungary. | |||
<hr> | |||
Sau cái chết của cha mình vào năm 1493, Maximilian được tuyên bố là Vua mới của Đức, vương hiệu là [[Maximilian I của Thánh chế La Mã|Maximilian I]]. Ban đầu, Maximilian không thể đến [[Rome]] của [[Lãnh địa Giáo hoàng]] để nhận tước hiệu Hoàng đế Thánh chế La Mã từ Giáo hoàng, do sự phản đối của Cộng hòa Venice và người Pháp đang chiếm đóng Milan, cũng như sự từ chối của Giáo hoàng do lực lượng đối phương hiện diện trên lãnh thổ của ông. Năm 1508, Maximilian tự xưng là 'Hoàng đế được chọn', và điều này cũng được Giáo hoàng công nhận do những thay đổi trong các liên minh chính trị. Điều này dẫn đến hậu quả là vua La Mã tự động trở thành hoàng đế mà không cần sự đồng ý của Giáo hoàng. Hoàng đế [[Karl V của Thánh chế La Mã]] sẽ là người cuối cùng được chính Giáo hoàng trao vương miện, tại Bologna vào năm 1530.<hr> | |||
Sau khi [[Karl V của Thánh chế La Mã]] thoái vị vào năm 1556, Nhà Habsburg được chia thành 2 nhánh: Habsburg Áo và Habsburg Tây Ban Nha. Dòng Tây Ban Nha tuyệt tự dòng nam vào năm 1700, dòng Áo tuyệt tự dòng nam vào năm 1765 và được tiếp nối bởi [[Vương tộc Habsburg-Lothringen]]. | |||
* '''[[Habsburg Tây Ban Nha]] (1516-1700):''' là một chế độ quân chủ hỗn hợp và một [[liên minh cá nhân]]. Triều đại này tồn tại trong 184 năm, trải qua 5 đời quân chủ, gồm có: [[Karl V của Thánh chế La Mã|Carlos I]] (1516-1556) (đồng thời là Karl V của Thánh chế La Mã); [[Felipe II của Tây Ban Nha|Felipe II]] (1556-1598); [[Felipe III của Tây Ban Nha|Felipe III]] (1598-1621); [[Felipe IV của Tây Ban Nha|Felipe IV]] (1621-1665); [[Carlos II của Tây Ban Nha|Carlos II]] (1665-1700). Chính cái chết không để lại người thừa kế của Carlos II đã khiến dòng Habsburg Tây Ban Nha tuyệt tự, và ngai vàng Tây Ban Nha rời vào tay của [[Felipe V của Tây Ban Nha|Phillip xứ Anjou]], cháu nội của Vua Mặt trời [[Louis XIV của Pháp]] và [[María Teresa của Tây Ban Nha]], có nghĩa là Phillip thừa kế theo quyền của bà nội. Khi đó, người đứng đầu nhánh Habsburg Áo là Hoàng đế [[Leopold I của Thánh chế La Mã]] cũng tuyên bố quyền kế vị Tây Ban Nha, sự tranh chấp này đã gây ra [[Chiến tranh Kế vị Tây Ban Nha]] (1701-1714). Sự tranh chấp kết thúc thông qua [[Hiệp ước Utrecht]] (1713) và [[Hiệp ước Rastatt]] (1714). Nhánh Habsburg Áo nhận nhiều lãnh địa của Tây Ban Nha ở châu Âu, nhưng Công tước xứ Anjou của [[Nhà Bourbon]] vẫn trở thành vua của Tây Ban Nha và các thuộc địa ở châu Mỹ. '''''Nhà Bourbon Tây Ban Nha vẫn trị vì Tây Ban Nha cho đến tận ngày nay'''''. | |||
* '''Habsburg Áo (1556-1765):''' nhánh này trở sở hữu các lãnh thổ rộng lớn ở Trung Âu, bao gồm Đại công quốc Áo, Vương quyền Bohemia, Vương quốc Hungary và nhiều lãnh thổ khác. Sau khi Nhà Habsburg chia thành 2 dòng thì Habsburg Áo trải qua 11 đời quân chủ với 209 năm tồn tại, bắt đầu từ [[Ferdinand I của Thánh chế La Mã]] cho đến khi [[Maria Theresia của Áo]] qua đời vào năm 1765 thì dòng Habsburg Áo bị tuyệt tự dòng nam. Trước đó, cha của Maria là Hoàng đế [[Karl VI của Thánh chế La Mã]] đã cố gắng hợp thức hoá quyền kế vị của con gái, dẫn đến [[Chiến tranh Kế vị Tây Ban Nha]], nhưng kết quả đã khác với dòng Habsburg Tây Ban Nha, người nhà Habsburg Áo đã chiến thắng và vẫn giữ được các ngai vàng của minh. Quyền thừa kế thuộc về các con trai của Maria Thereia với [[Franz I của Thánh chế La Mã|Franz xứ Lothringen]], điều này khởi đầu cho [[Vương tộc Habsburg-Lothringen]] và họ tồn tại thêm 153 năm nữa thì chế độ quân chủ bị bãi bỏ ở Đức-Áo sau Thế chiến thứ nhất. | |||
<hr> | |||
Nhà Habsburg tìm cách củng cố quyền lực của mình thông qua các cuộc hôn nhân cận huyết, dẫn đến tác động có hại tích lũy lên [[vốn gen]] của họ. Những suy giảm sức khỏe do cận huyết bao gồm động kinh, mất trí và chết sớm. Một nghiên cứu về 3.000 thành viên gia đình trong 16 thế hệ của [[Đại học Santiago de Compostela]] cho thấy cận huyết có thể đã đóng một vai trò trong sự tuyệt tự của họ. Nhiều thành viên trong gia đình này có những dị tật cụ thể trên khuôn mặt: hàm dưới to với cằm dài được gọi là 'hàm Habsburg', mũi lớn có bướu và đầu mũi cụt ('mũi Habsburg') và môi dưới lộn ra ngoài ('môi Habsburg'). Hai đặc điểm cuối cùng là dấu hiệu của tình trạng thiếu hụt xương hàm trên.<hr> | |||
===Maria Theresia=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đế chế La Mã Thần thánh|ĐẾ CHẾ LA MÃ THẦN THÁNH]]<Hr>[[Đại công quốc Áo]] <br> (1453 - 1806)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Austrian Ensign 1685-1740.png|center|133px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Bindenschild Privilegium maius 1512.svg|center|48px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Maria Theresia của Áo|Nữ đại công tước Maria Theresia]]<br> (1740 - 1780)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị quân chủ cuối cùng của Nhà Habsburg-Áo}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 thaler of Austria Maria Theresia - 1780MS.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 thaler [[Maria Theresia của Áo|Maria Theresia]] - 1780'''}} ||{{center|[[File:Kaiserin Maria Theresia (HRR).jpg|120px]]<br>'''1780<hr>[[MS]]'''}}|| {{center|'''Đường kính'''<br>[[40,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[83,3%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[28,0668 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[23,380 gr]] <hr>'''Số lượng'''<br>[[?]]<hr>1.000.000<br>[[(42,92$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==🟪 BÁ QUỐC TYROL== | |||
====Leopold V==== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đế chế La Mã Thần thánh|ĐẾ CHẾ LA MÃ THẦN THÁNH]]<hr>[[Bá quốc Tyrol]] <br> (1363 - 1804) '''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Tirol and Upper Austria.svg|center|140px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Arms of the County of Tyrol.svg|center|80px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Leopold V, Đại công tước Áo|Bá tước Leopold V]] <br>(1619 - 1632)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị bá tước thứ 9 xứ Tyrol và Đại công tước thứ 8 của Ngoại Áo thuộc Nhà Habsburg}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 thaler Leopold V of Austria - 1621AU.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 thaler [[Tyrol]] - [[Leopold V, Đại công tước Áo|Leopold V]] - 1621<hr>404 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Leopold V d'Autriche-Tyrol.png|120px]]<br>1620 - 1621<hr>'''[[AU|AU<small>-cleaned<small/>]]'''}} || style="background:#ceb"colspan="1"|{{center|'''Đường kính'''<br>[[43,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[87,5%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[28,73 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[25,139 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[?]]<hr>12.000.000<br>[[(518,36$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
* Ông là em trai của [[Ferdinand II của Thánh chế La Mã|Ferdinand II, Hoàng đế Thánh chế La Mã]], chú của [[Ferdinand III của Thánh chế La Mã|Hoàng đế Ferdinand III]] và ông nội họ và cũng là ông ngoại vợ của [[Leopold I của Thánh chế La Mã|Hoàng đế Leopold I]] người đứng đầu liên minh đánh bại Đế chế Ottoman trong [[Đại chiến Thổ Nhĩ Kỳ]] (liên quan đến bánh sừng bò khi Ottoman bao vây thành Viên). | |||
* Ông vốn là một tu sĩ Công giáo, được bổ nhiệm làm Giám mục vương quyền của Passau và Strasbourg, nhưng sau đó rời bỏ để lấy vợ. | |||
==🟪 HÀ LAN THUỘC ÁO== | |||
===Karl xứ Lothringen=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đại công quốc Áo|ĐẠI CÔNG QUỐC ÁO]] <hr>[[Hà Lan thuộc Áo]]<br> (1714 - 1797)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Austrian Low Countries Flag.svg|center|130px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of the Austrian Netherlands.svg|center|75px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Karl xứ Lothringen|Thống đốc Karl Alexander, Thân vương xứ Lorraine]]<br> (1744 - 1780)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị Thống đốc thứ 6 kể từ Chiến tranh Kế vị Tây Ban Nha}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 Kronenthaler of Austrian Netherlands, Maria Theresia - 1767.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 Kronenthaler [[Maria Theresia của Áo|Maria Theresia]] - 1767<hr>258 năm (2025)'''}} ||{{center|[[File:Martin van Meytens 007.jpg|120px]]<br> '''1755 - 1780<hr>[[VF]]'''}}|| {{center|'''Đường kính'''<br>[[41,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[87,3%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[29,44 gr]]<hr>'''Bạc ròng'''<br>[[25,70112 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[13.747.608]]<hr>4.000.000<br>[[(171,67$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
===Karl xứ Teschen=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đại công quốc Áo|ĐẠI CÔNG QUỐC ÁO]] <hr>[[Hà Lan thuộc Áo]]<br> (1714 - 1797)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Austrian Low Countries Flag.svg|center|130px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of the Austrian Netherlands.svg|center|75px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Karl của Áo, Công tước xứ Teschen|Thống đốc Karl, Công tước xứ Teschen]]<br> (1792 - 1806)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị thống đốc cuối cùng}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 Kronenthaler Franz II Type II - 1793.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 Kronenthaler [[Franz II của Thánh chế La Mã|Franz II]]_[[Type II]] - 1793<hr>232 năm (2025)'''}} ||{{center|[[File:Anton Einsle - Erherzog Carl von Österreich.jpg|120px]]<br>'''1792 - 1801 <hr>[[XF]]'''}}|| {{center|'''Đường kính'''<br>[[39,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[87,3%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[29,44 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[25,70112 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[5%]]<hr>2.500.000<br>[[(107,30$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==🟪 ĐẾ CHẾ ÁO & ÁO - HUNG == | |||
===Franz I=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đế quốc Áo|ĐẾ CHẾ ÁO]]<br> (1804 - 1867) <hr> [[Nhà Habsburg-Lothringen]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of the Habsburg Monarchy.svg|center|140px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Imperial Coat of Arms of the Empire of Austria (1815).svg|center|70px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Franz II của Thánh chế La Mã|Hoàng đế Franz I]]<br> (1804 - 1835)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị hoàng đế cuối cùng của Thánh chế La Mã và hoàng đế đầu tiên của Áo}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 thaler Francis I of Austria - 1820.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 thaler [[Franz II của Thánh chế La Mã|Franz I của Áo]] - 1820<hr> 205 năm (2025)'''}} ||{{center|[[File:Francis II (Holy Roman Emperor).jpg|120px]]<br> '''1817 - 1824<hr>[[XF]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[40,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[83,3%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[28,06 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[23,37398 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[?]]<hr>2.280.000<br>[[(98,70$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
* Năm 1817, Hoàng đế Franz I của Áo mới phong tước hiệu cho [[Mayer Amschel Rothschild]] (1744 - 1812), lúc đó ông ấy đã mất được 5 năm.<hr> | |||
* Năm 1822, Hoàng đế Franz I của Áo đã phong cho 5 người con trai của [[Mayer Amschel Rothschild]], người khởi đầu đế chế tài chính ngân hàng của [[Gia tộc Rothschild]] tước vị '''''Freiherr von Rothschild''''' (Nam tước Rothschild), 5 người con gồm có: | |||
**Con trai cả [[Amschel Mayer Rothschild]], đứng đầu ngân hàng M. A. Rothschild & Söhne tại Frankfurt. | |||
**Con trai thứ 2 [[Salomon Mayer von Rothschild]], sáng lập ra chi nhánh Áo của gia tộc. | |||
**Con trai thứ 3 [[Nathan Mayer Rothschild]], người sáng lập chi nhánh Anh của gia tộc, nổi tiếng vì đã thắng lớn trong việc thao túng thị trường trái phiếu Anh sau [[trận Waterloo]]. | |||
**Con trai thứ 4 [[Carl Mayer von Rothschild]], người lập ra chi nhánh ở Hai Sicilia, Ý của gia tộc. | |||
**Con trai thứ 5 [[James Mayer de Rothschild]], người lập ra chi nhánh Pháp của gia tộc.<hr> | |||
*[[Nathan Mayer Rothschild]] người mở đầu chi nhánh ở Anh không yêu cầu Vương quốc Anh công nhận tước hiệu Nam tước của Đế chế Áo trao cho mình. Năm 1838, hai năm sau khi ông qua đời, [[Nữ hoàng Victoria]] đã cho phép sử dụng tước hiệu này ở Vương quốc Anh và người con cả của ông là [[Lionel de Rothschild]] được thừa kế tước hiệu.<hr> | |||
*Con trai thứ 2 của [[Nathan Mayer Rothschild]] là [[Anthony de Rothschild, Tòng Nam tước thứ nhất|Anthony de Rothschild]] đã được Nữ hoàng Victoria phong [[Tòng nam tước]], vì ông này qua đời mà không để lại hậu duệ nam nên tước vị được để lại cho cháu trai của ông là [[Nathan Rothschild, Nam tước Rothschild thứ nhất|Nathan Rothschild]] là con của [[Lionel de Rothschild]] (con trưởng của Nathan Mayer Rothschild). Năm 1885, Nathan Rothschild được Nữ hoàng Victoria trao tước hiệu [[Nam tước Rothschild]] xứ [[Tring]] trong [[Hertfordshire|Hạt Hertfotd]] thuộc [[Đẳng cấp quý tộc Vương quốc Liên hiệp Anh]], đồng thời, ông cũng kế thừa tước Freiherr (Nam tước) của Đế chế Áo từ cha mình. Khi sở hữu tước hiệu Nam tước Anh, Nathan Rothschild trở thành thượng nghị sĩ trong [[Viện quý tộc]] và là thành viên Do Thái đầu tiên trong viện này không cải sang Ki-tô giáo. Ông giữ chức Lord Lieutenant xứ Buckinghamshire từ năm 1889 đến 1915 trải qua 3 đời quân chủ của Vương quốc Anh: Victoria, Edward VII và George V. | |||
===Franz Joseph I=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đế quốc Áo-Hung|ĐẾ CHẾ ÁO HUNG]] <br> (1867 - 1918) <Hr> [[Nhà Habsburg-Lothringen]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of the Habsburg Monarchy.svg|center|135px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Imperial Coat of Arms of the Empire of Austria.svg|center|70px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Franz Joseph I của Áo|Hoàng đế Franz Joseph I]] <br>(1848 - 1916)}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị hoàng đế thứ 3 và áp chót của Áo}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:2 Gulden - Francis Joseph I Silver Wedding Jubilee.jpg|center|700px]]<hr>{{center|'''2 Gulden_Đám cưới bạc của [[Franz Joseph I của Áo|Franz Joseph I]] & [[Elisabeth xứ Bayern|Elisabeth]] (1859-1879)<hr>146 năm (2025)'''}} ||{{center|[[File:TomvonDregerKaiserFranzJosef.JPG|120px]]<br>'''1879<hr>[[AU|AU-58]]'''}} || style="background:#ceb"colspan="1"|{{center|'''Đường kính'''<br>[[36,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[24,7 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[22,23 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[275.000]]<hr> 5.600.000<br> [[(220,12$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:5 corona Kỷ niệm 60 năm trị vì của Hoàng đế Franz Joseph I - 1908.png|center|700px]]<hr>{{center|'''5 corona_[[Franz Joseph I của Áo|Kỷ niệm 60 năm trị vì của Hoàng đế Franz Joseph I]] - 1908<hr>117 năm (2025) '''}} ||{{center|[[File:TomvonDregerKaiserFranzJosef.JPG|120px]]<br>'''1908<hr>[[AU]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[35,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[24,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[21,6 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[3.941.600]]<hr>1.800.000<br>[[(77,92$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#fbd"|FRANZ JOSEPH I | |||
|- | |||
|style="background:LemonChiffon;"| | |||
Ông cai trị tới 68 năm, đứng thứ ba trong [[Danh sách quân chủ tại vị lâu nhất|danh sách các vua chúa trị vì lâu dài nhất châu Âu]] (sau '''[[Louis XIV của Pháp]]''' và '''[[Johann II xứ Liechtenstein]]''') và lâu hơn [[Nữ vương]] '''[[Victoria của Anh]]''' 4 năm. Về thực quyền thì [[triều đại]] của Franz Joseph I chỉ ngắn hơn Johann II đương thời và Elizabeth II sau này, do triều đại Louis XIV có 8 năm đầu do Thái hậu [[Ana của Tây Ban Nha]] phụ chính và 8 năm sau do các quan tể tướng đại thần là [[Hồng y Richelieu]] và [[Hồng y Mazarin]] nắm thực quyền. Nếu chỉ tính các quân chủ ở cấp bậc vua và hoàng đế thì Franz Joseph là quân chủ trị vì lâu thứ 2, chỉ xếp sau Elizabeth II, vì [[Johann II xứ Liechtenstein]] chỉ là người trị vì một thân vương quốc. | |||
* Nếu trên bình diện quốc tế thì thời gian ông trị vì xếp sau Nữ vương [[Elizabeth II của Anh]] với 70 năm 214 ngày, [[Bhumibol Adulyadej|Rama IX của Thái Lan]] với 70 năm 126 ngày và [[Johann II xứ Liechtenstein]] với 70 năm 91 ngày.<hr> | |||
Franz Joseph qua đời tại [[Cung điện Schönbrunn]] vào tối ngày 21 tháng 11 năm 1916, thọ 86 tuổi. Ông qua đời vì bệnh [[viêm phổi]] ở phổi phải vài ngày sau khi bị cảm lạnh khi đi dạo trong Công viên Schönbrunn với Vua [[Ludwig III của Bayern]]. Ông được kế vị bởi cháu trai của mình là [[Karl I của Áo|Đại công tước Karl Franz Josef]], người trị vì cho đến khi đế chế sụp đổ sau thất bại vào cuối [[Thế chiến thứ nhất]] năm 1918.<hr> | |||
Trong [[Cách mạng 1848]], Đế chế Áo rơi vào cảnh cam go, đặc biệt là chủ nghĩa dân tộc tại Hungary và Ý lên cao. Thủ tướng bảo thủ [[Klemens von Metternich]] từ chức và rời khỏi Áo, vị Hoàng đế bị thiểu năng trí tuệ [[Ferdinand I của Áo]] thoái vị và nhường ngôi lại cho cháu mình là Franz Joseph. Dưới sự giúp đỡ của [[Nikolai I của Nga]], 200.000 quân Nga và 80.000 quân phụ trợ đã đánh bại các lực lượng Hungary và quyền lực của quân chủ Habsburg được thiệt lập lại, Hungary bị áp dụng thiết quân luật một cách gắt gao.<hr> | |||
Vào ngày 18 tháng 2 năm 1853, Franz Joseph đã sống sót sau vụ [[ám sát]] của nhà dân tộc chủ nghĩa Hungary [[János Libényi]]. Hoàng đế đang đi dạo với một trong những sĩ quan của mình, Bá tước [[Maximilian Karl Lamoral O'Donnell]], trên một pháo đài thành phố, thì Libényi tiến đến gần ông. Ông ta lập tức đâm hoàng đế từ phía sau bằng một con dao thẳng vào cổ. Franz Joseph hầu như luôn mặc đồng phục, có cổ áo cao gần như che kín hoàn toàn cổ. Cổ áo của đồng phục vào thời điểm đó được làm từ chất liệu rất chắc chắn, chính xác là để chống lại loại tấn công này. Mặc dù Hoàng đế bị thương và chảy máu, nhưng cổ áo đã cứu mạng ông. Bá tước O'Donnell đã hạ gục Libényi bằng thanh kiếm của mình. Một nhân chứng khác tình cờ ở gần đó là Joseph Ettenreich (làm nghề giết mổ), đã nhanh chóng chế ngự Libényi. Vì hành động của mình, sau đó ông được hoàng đế nâng lên hàng quý tộc và trở thành Joseph von Ettenreich. Libényi sau đó đã bị đưa ra xét xử và bị kết án tử hình vì tội cố ý giết vua. Ông đã bị hành quyết tại Simmeringer Heide.<hr> | |||
Chính sách đối ngoại của ông trở nên thảm họa cho nước Áo: năm [[1859]], ông bị liên quân [[Đế chế thứ hai|Pháp]] - [[Sardegna|Sardinia]] đánh bại trong [[trận Solferino]]. Năm [[1866]], [[Thủ tướng]] [[Phổ (quốc gia)|Phổ]] là [[Otto von Bismarck]] đã kéo ông vào cuộc [[Chiến tranh Áo-Phổ]], trong đó Áo là nước bại trận. Franz Joseph I bị [[chủ nghĩa dân tộc]] ám ảnh trong suốt thời trị vì của ông. Ông đã thông qua [[Hiệp nghị Áo-Hung năm 1867]] (''Ausgleich''), ban thêm quyền tự trị cho [[Hungary]], theo đó chuyển Đế quốc Áo thành [[Đế quốc Áo-Hung]] - "Song quốc quân chủ" của ông. Trong suốt 45 năm sau đó, các lãnh thổ dưới quyền ông đều yên bình. Sau khi chiến thắng của Phổ trong [[Chiến tranh Pháp-Phổ]] vào năm [[1871]], Áo mở đầu quan hệ thân cận với [[Đế quốc Đức]]. Song, ông gặp nhiều bi kịch gia đình trong giai đoạn này.<hr> | |||
Sau Chiến tranh Áo-Phổ, Áo-Hung chuyển tầm hướng sang vùng [[Balkan]] - một tâm điểm của căng thẳng quốc tế do mâu thuẫn quyền lợi giữa Áo-Hung với Nga. Vụ [[khủng hoảng Bosnia]] là hệ quả của sự kiện Franz Joseph I sáp nhập [[Bosna và Hercegovina|Bosnia và Herzegovina]] vào năm [[1908]] (hai vùng này đã bị [[Áo-Hung chiếm đóng Bosnia và Herzegovina|quân đội ông]] chiếm đóng sau [[Đại hội Berlin]] năm [[1878]]). Ngày [[28 tháng 6]] năm [[1914]], sau khi [[Franz Ferdinand của Áo]] bị thành viên một khủng bố [[Serbia]] [[vụ ám sát thái tử Áo-Hung|ám sát]], Hoàng đế ban đầu không muốn gây hấn với Serbia, nhưng do áp lực của Tổng tham mưu trưởng và [[Bộ trưởng]] [[Ngoại giao]], cuối cùng ông đã tổng động viên quân đội. Nga - đồng minh của Serbia đã phản ứng, và không lâu sau cả châu Âu đã rơi vào cuộc [[Chiến tranh thế giới thứ nhất]].<hr> | |||
[[Tập tin:JosephineBaden.jpg|thumb|100px|Josephine xứ Baden]] | |||
[[Josephine xứ Baden|Josephine]] qua đời tại Sigmaringen vào ngày 19 tháng 6 năm 1900. Dù gần như không quan tâm đến sự tồn tại của Thân vương phi, Hoàng đế [[Franz Joseph I của Áo]] đã ra lệnh để tang 12 ngày cho việc Josephine qua đời, do đó ngăn cấm các thành viên của Hoàng tộc Habsburg tham dự bất kỳ lễ hội nào. Điều này nhằm đảm bảo hầu hết các thành viên của Hoàng thất không thể tham dự đám cưới của Đại vương công [[Franz Ferdinand của Áo]] và Nữ Bá tước Žofie Chotková vào ngày 1 tháng 7.<hr> | |||
[[Franz Ferdinand của Áo|Đại công tước Franz Ferdinand]] trở thành [[người thừa kế hợp pháp]] (Thronfolger) ngai vàng của [[Áo-Hung]] vào năm 1896, sau cái chết của người anh họ [[Rudolf, Thái tử của Áo]] (năm 1889) và cha ông là Karl Ludwig (năm 1896). Mối quan hệ giữa ông và Franz Joseph luôn khá căng thẳng, và càng trở nên trầm trọng hơn khi Franz Ferdinand tuyên bố mong muốn kết hôn với [[Žofie Chotková, Công tước xứ Hohenberg|Nữ bá tước Sophie Chotek]]. Hoàng đế thậm chí còn không cân nhắc đến việc ban phước lành cho cuộc hôn nhân này, vì Sophie chỉ là người có địa vị quý tộc, không phải là người có địa vị triều đại, cho nên đây sẽ là cuộc hôn nhân [[quý tiện kết hôn]]. Sau vụ ám sát Franz Ferdinand và Sophie năm 1914, con gái của Franz Joseph là Marie Valerie, lưu ý rằng cha cô đã bày tỏ sự tin tưởng lớn hơn vào người thừa kế mới, cháu trai của ông là Đại công tước Karl. Hoàng đế thừa nhận với con gái mình về vụ ám sát: '''''"Đối với ta, đó là sự giải thoát khỏi nỗi lo lắng lớn lao"'''''.<hr> | |||
Mục tiêu chính sách đối ngoại của Franz Joseph là thống nhất nước Đức dưới quyền trị vì của [[Nhà Habsburg]]. Điều này được biện minh trên cơ sở tiền lệ; từ năm 1452 đến khi [[Đế chế La Mã Thần thánh]] sụp đổ vào năm 1806, chỉ có một giai đoạn gián đoạn ngắn ngủi dưới thời [[Nhà Wittelsbach]] của [[Tuyển hầu xứ Bayern]], Nhà Habsburg nói chung đã nắm giữ ngai vàng Đức một cách liên tục và lâu dài. Tuy nhiên, mong muốn của Franz Joseph là giữ lại các vùng lãnh thổ không phải của Đức thuộc Đế chế Áo Habsburg trong trường hợp nước Đức thống nhất, và điều này đã tỏ ra có vấn đề, vì những nhà nước liên minh cá nhân đó không phải dân tộc Đức và rất đa dạng ngôn ngữ. | |||
* Hai phe phái nhanh chóng phát triển: một nhóm trí thức Đức ủng hộ [[Chủ nghĩa Liên Đức|một nước Đức lớn hơn]] (''Großdeutschland'') dưới quyền Nhà Habsburg; phe còn lại ủng hộ [[Chủ nghĩa Tiểu Đức|một nước Đức nhỏ hơn]] (''Kleindeutschland''). Những người Đức theo trường phái Großdeutschland ủng hộ việc đưa Áo vào một quốc gia toàn Đức mới với lý do rằng Áo luôn là một phần của các Đế chế Đức, rằng Áo là cường quốc hàng đầu của [[Bang liên Đức]] và sẽ là vô lý nếu loại trừ 8 triệu người Đức ở Đế chế Áo khỏi một quốc gia toàn Đức. Những người ủng hộ một nước Đức nhỏ hơn đã phản đối việc đưa Áo vào với lý do rằng đây là một quốc gia [[liên minh cá nhân]] với nhiều nhà nước và thể hiện sự đa chủng tộc, không phải là một quốc gia Đức, và việc đưa nước này vào sẽ đưa hàng triệu người không phải người Đức vào một quốc gia của dân tộc Đức. | |||
* Nếu nước Đức lớn hơn thắng thế, vương miện nhất thiết phải thuộc về Hoàng đế Franz Joseph của Habsburg, người không muốn nhượng lại nó cho bất kỳ ai khác ngay từ đầu. Mặt khác, nếu ý tưởng về một nước Đức nhỏ hơn thắng thế, vương miện Đức tất nhiên không thể thuộc về Hoàng đế Áo, mà sẽ được trao cho quân chủ cai trị một nhà nước lớn nhất với uy quyền mạnh mẽ nhất trong số các nhà nước Đức còn lại trong liên bang bên ngoài nước Áo, đó chính là [[Danh sách quân chủ Phổ|Vua của Phổ]] thuộc [[Nhà Hohenzollern]]. Cuộc cạnh tranh giữa hai ý tưởng này nhanh chóng phát triển thành cuộc cạnh tranh giữa Áo và Phổ. Sau khi Phổ giành chiến thắng quyết định trong [[Chiến tranh Áo – Phổ|Chiến tranh Bảy tuần]], câu hỏi này đã được giải quyết; Áo không mất bất kỳ lãnh thổ nào vào tay Phổ miễn là họ vẫn đứng ngoài các vấn đề của Đức. Cuộc chiến tranh này cũng đã khai tử nhiều đồng minh của Áo, họ bị Vương quốc Phổ xoá sổ và sáp nhập lãnh thổ và biến thành những tỉnh của Phổ, điển hình nhất là [[Vương quốc Hannover]] và [[Công quốc Nassau]].<hr> | |||
[[Tập tin:Isabel da Áustria 1867.jpg|thumb|100px|Vương hậu Áo [[Elisabeth xứ Bayern]]]] | |||
Hoàng hậu [[Elisabeth xứ Bayern|Elisabeth]] ("Sisi") là một người thích du lịch, cưỡi ngựa và là chuyên gia thời trang, người hiếm khi xuất hiện ở Viên. Sisi bị ám ảnh về việc giữ gìn vẻ đẹp của mình, thực hiện nhiều thói quen kỳ lạ và tập thể dục vất vả, kết quả là cô bị bệnh. Cô đã bị một người theo chủ nghĩa vô chính phủ người Ý là [[Luigi Lucheni]] đâm chết vào năm 1898 khi đang thăm [[Geneva]]. Vài ngày sau đám tang, [[Robert I xứ Parma|Robert xứ Parma]] đã viết trong một lá thư gửi cho người bạn [[Tirso de Olazábal]] rằng "Thật đáng thương khi nhìn vào Hoàng đế, ông ấy đã thể hiện rất nhiều năng lượng trong nỗi đau đớn tột cùng của mình, nhưng đôi khi người ta có thể thấy được tất cả sự đau buồn to lớn của ông ấy". Franz Joseph không bao giờ hoàn toàn bình phục sau mất mát này. Theo hoàng hậu tương lai [[Zita của Borbone-Parma|Zita xứ Bourbon-Parma]], ông đã nói với người thân của mình: "Các bạn sẽ không bao giờ biết cô ấy quan trọng với tôi như thế nào" hoặc, theo một số nguồn tin, "Các bạn sẽ không bao giờ biết tôi yêu người phụ nữ này nhiều như thế nào đâu".<hr> | |||
[[Tập tin:Rudolf Crown Prince of Austria LOC.jpg|thumb|100px|Thái tử Rudolf]] | |||
Ông và hoàng hậu Sisi chỉ có 1 người con trai duy nhất và cũng là người thừa kế ngai vàng của Đế chế Áo-Hung, đó là [[Rudolf, Thái tử của Áo|Thái tử Rudolf]]. Ông được đặt tên theo [[Danh sách quốc vương Đức|vị vua Đức đầu tiên]] xuất phát từ [[Nhà Habsburg]], [[Rudolf I của Đức|Rudolf I]], người trị vì từ năm 1273 đến năm 1291. Năn năm 1889, ông ấy đã tự sát với người tình của mình là [[Nữ nam tước Mary Vetsera]] tại nhà nghỉ săn bắn Mayerling. Vụ bê bối sau đó đã trở thành một chủ đề quốc tế được bàn luận sôi nổi với tên gọi [[Sự cố Mayerling]]. Chỉ 9 năm sau thì hoàng hậu Sisi bị ám sát chết tại Geneva... đây là 2 biến cố lớn nhất của cuộc đời Hoàng đế Franz Joseph. | |||
* Cái chết của Thái tử Rudolf khiến mẹ của ông là [[Elisabeth xứ Bayern|Hoàng hậu Elisabeth]], rơi vào tuyệt vọng. Bà mặc đồ đen hoặc xám ngọc trai, màu của tang lễ, trong suốt quãng đời còn lại và dành nhiều thời gian xa cách triều đình ở Viên. Con gái bà là Gisela sợ rằng bà cũng có thể tự tử. | |||
* Cuộc hôn nhân ban đầu giữa Thái tử Rudolf với [[Stéphanie của Bỉ]] rất hạnh phúc, những sau khi sinh người con gái duy nhất của họ là [[Elisabeth Marie của Áo|Nữ Đại công tước Elisabeth]] thì cặp đôi bắt đầu xa cách nhau. Sau khi sinh con, Rudolf ngày càng trở nên bất ổn vì ông uống rượu rất nhiều và có nhiều mối quan hệ ngoài luồng. Tuy nhiên, hành vi này không hoàn toàn mới vì Rudolf đã có tiền sử quan hệ bừa bãi trước khi kết hôn. Năm 1886 cả hai vợ chồng đều bị [[viêm phúc mạc]]. Các triệu chứng và kết quả điều trị của Stéphanie cho thấy Rudolf rất có thể đã lây nhiễm [[Lậu mủ|bệnh lậu]] cho bà. Bản thân Rudolf không cải thiện sau khi điều trị và ngày càng ốm yếu. Có khả năng ông đã mắc bệnh [[giang mai]] ngoài bệnh lậu '''''(trường hợp này tương tự như [[Ernst II xứ Sachsen-Coburg và Gotha]] lây nhiễm bệnh cho vợ dẫn đến bà này vô sinh)'''''. Để đối phó với những tác động của căn bệnh, Rudolf bắt đầu dùng liều lượng lớn morphin. Sau khi điều trị tích cực, Stéphanie đã có thể hồi phục sau cơn bệnh nhưng bà không thể sinh con vì căn bệnh đã phá hủy ống dẫn trứng của bà. '''''[[Cái chết của Rudolf đã gián tiếp gây ra Thế chiến thứ nhất...]]''''' | |||
|} | |||
|} | |||
==🟪 ĐẾ CHẾ MEXICO== | |||
===Maximiliano I=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đệ Nhị Đế chế México|ĐỆ NHỊ ĐẾ CHẾ MEXICO]]<br>(1863 - 1867) <hr> [[Vương tộc Habsburg-Lothringen|Triều đại Habsburg-Lorraine]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Imperial Standard of Mexico (1864-1867).svg|center|125px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of Mexico (1864–1867).svg|center|80px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Maximiliano I của México|Hoàng đế Maximilian I]]<br> (1863 - 1867)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Hoàng đế duy nhất của Đệ nhị Đế chế Mexico}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 peso of Mexico, Maximilian I - 1866 Mo.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 peso [[Maximiliano I của México|Maximilian I]] - 1866 Mo<hr>159 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Maximiliano de Habsburgo.jpg|120px]]<br>1866 - 1867<hr>'''[[AU|AU<small>-cleaned<small/>]]'''}} || style="background:#ceb"colspan="1"|{{center|'''Đường kính'''<br>[[37,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90,3%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,07 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,4442 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[2.147.675]]<hr>13.000.000<br>[[(541,67$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#fbd"|MAXIMILIANO I | |||
|- | |||
|style="background:LemonChiffon;"| | |||
'''Hoàng đế [[Pedro II của Brasil]]''' là anh họ cùng chung ông ngoại với Maximilian, trong một lần đến thăm Đế chế Brazil đã rất ngưỡng mộ sự phát triển của đất nước Nam Mỹ này dưới sự trị vì của Pedro II, vì thế ông đã chấp nhận trở thành hoàng đế của Mexico sau lời mời của phe bảo hoàng Mexico, vì ông muốn tạo ra một nhà nước thịnh vượng tương tự như Brazil của Pedro II. Kết quả là, [[Đệ Nhị Đế chế México]] của Maximilian đã không tồn tại lâu, bản thân ông bị phe cộng hòa bắt và tử hình. Lý do Maximilian đến thăm Đế chế Brazil là vì ông muốn thăm những vùng đất gắn liền với [[Maria Amélia của Brasil]], em gái cùng cha khác mẹ của Pedro II, người tình quá cố của Maximilan.<hr> | |||
Vợ của Maximilian là con gái của [[Léopold I của Bỉ]], vị vua đầu tiên của Vương quốc Bỉ, sau khi Bỉ tuyên bố tách ra khỏi Hà Lan vào năm 1831. Vị vua này cũng là cậu, cố vấn thân cận và được Nữ hoàng [[Victoria của Anh]] tin tưởng. <hr> | |||
Maximilian là một Đại công tước Áo, cha của ông là Đại công tước [[Franz Karl của Áo]], con trai thứ 2 còn sống của [[Franz II của Thánh chế La Mã|Hoàng đế Franz I]] (Hoàng đế cuối cùng của Thánh chế La Mã và hoàng đế đầu tiên của Áo), mẹ ông là Vương nữ Sophie của Bayern. Nhiều lời đồn đã nói rằng, ông chính là sản phẩm của cuộc tình vụng trộm giữa mẹ ông và Napoleon II, Công tước xứ Reichstadt, nếu đây là sự thật thì ông sẽ là cháu nội của Hoàng đế Napoleon I. Năm 1848, cách mạng nổ ra, [[Ferdinand I của Áo|Hoàng đế Ferdinand]] đã thoái vị để ủng hộ anh trai của Maximilian là [[Franz Joseph I của Áo|Franz Joseph]] lên ngôi, Maximilian đã đồng hành cũng hoàng đế mới tham gia vào các chiến dịch dẹp loạn trên khắp đế chế.<hr> | |||
Trước khi Đại công tước Maximilian và vợ là [[Charlotte của Bỉ]] lên đường đến Mexico để lên ngôi hoàng đế Đế nhị Đế chế Mexico, đã đến gặp và được [[Giáo hoàng Piô IX]] ban phước. Khi quân Pháp rút khỏi Mexico và tình hình hoàng đế Maximilian nguy khốn, Hoàng hậu Charlotte đã trở về châu Âu để cầu xin Napoleon III không rút quân, nhưng thất bại, bà đã đến Vatican để cầu xin Giáo hoàng. Vì hoàng hậu luôn lo sợ bị ám hại, nên Giáo hoàng đã đồng ý cho bà ở lại Vatican một đêm. Bà và trợ lý của bà là những người phụ nữ đầu tiên ở lại qua đêm bên trong Vatican.<hr> | |||
Cuộc đời ông gắn liền một cách ngẫu nhiên với chiếc tàu '''SMS Navara''', đầu tiên ông đã khởi xướng một cuộc thám hiểm khoa học quy mô lớn (1857-1859) và kinh hạm SMS Novara trở thành tàu chiến Áo đầu tiên đi vòng quanh địa cầu. Sau khi được phe bảo hoàng Mexico đưa lên ngôi hoàng đế, ông cùng với vợ đã đi từ Trieste trên tàu SMSS Novara đến Mexico, được hộ tống bởi SMS Bellona của Áo và Themis của Pháp. Ông bị phe cộng hoà tử hình vào ngày 19/06/1867, đầu năm sau, Đô đốc người Áo Wilhelm von Tegetthoff được cử đến Mexico trên tàu SMS Novara để đưa thi hài hoàng đế về châu Âu. <hr> | |||
Maximilian từng được bổ nhiệm làm Tổng tư lệnh của Hải quân Đế chế Áo (1854-1847), ông đã cho cải tổ và nâng cấp Hải quân của đế chế, sau đó ông được bổ nhiệm làm Phó vương Lombardy-Venetia (1857-1859), sau khi ông bị cho thôi chức phó vương thì sau đó Áo cũng mất vùng Lombardy-Venetia. <hr> | |||
Ba chủ nợ lớn nhất của chính phủ Mexico chính là Anh (1.800.000 peso); Tây Ban Nha (6.600.000 peso) và Pháp (10.000.000 peso). Sau khi Tổng thống Benito Juarez đình chỉ các khoản thanh toán lãi suất cho các chủ nợ vào ngày 17/7/1861, hoàng đế Napoleon III đã tức giận và khởi xướng một sự can thiệp quân sự vào Mexico với sự tham gia cùng với Anh và Tây Ban Nha. Nhưng trên thực tế Napoleon tham vọng hơn thế, ông ấy muốn lập nên một chính phủ thân phương Tây để có thể khai thác tự do con đường thương mại ở châu Mỹ, ông ấy còn thèm khác các mỏ bạc trù phú ở Mexico. Đây là lý do mà Maximilian của Đế chế Áo - Hung được đưa lên làm hoàng đế của Mexico.<hr> | |||
Maximilian bị bắt bởi phe cộng hoà vào ngày 16/5/1867 và bị toà án binh kết án tử hình, một số nhà cai trị ở châu Âu và các nhân vật nổi tiếng khác như Victor Hugo và Giuseppe Garibaldi... đã gửi điện tín và thứ đến Mexico thỉnh cầu tha mạng cho hoàng đế. Nhưng tổng thống Juarez từ chối, vì rất nhiều người Mexico đã chết trong cuộc chiến, và ông ấy cũng muốn gửi thông điệp đến thế giới ngoài kia: Mexico sẽ không dung thứ cho bất kỳ chính phủ nào do các thế lực nước ngoài dựng lên. <hr> | |||
Trước khi bị xử bắn, Maximilian đã cho mỗi người trong đội xử bắn một đồng tiền vàng, để cho họ không bắn vào đầu ông, vì ông muốn mẹ của ông có thể được nhìn thấy mặt của ông còn nguyên vẹn. <hr> | |||
Felix Salm-Salm và vợ đã nghĩ ra một kế hoạch để Maximilian thoát khỏi cuộc hành quyết bằng cách hối lộ những người cai ngục. Tuy nhiên, Maximilian chỉ thực hiện kế hoạch nếu các Tướng Miramón và Mejía có thể đi cùng ông, và cũng còn một lý do nữa khiến Maximilian từ chối thực hiện kế hoặc vì ông phải cạo râu để tránh bị nhận diện, việc cạo râu sẽ làm giảm phẩm giá của ông nếu ông bị bắt lại. | |||
|} | |||
==🟪 ĐẠI CÔNG QUỐC TOSCANA== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|[[Tập tin:Augmented Arms of Medici.svg|70px]] <hr> TRIỀU ĐẠI MEDICI<br> (1569 - 1737) | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
[[File:Mappa del Granducato di Toscana nel 1815.png|thumb|250px|Đại công quốc Toscana năm 1815]] | |||
[[Nhà Medici]] chính thức trở thành một triều đại cai trị thế tục vào năm 1532, khi [[Giáo hoàng Clêmentê VII]] (người Nhà Medici) tạo ra tước hiệu [[Công tước Cộng hòa Florence]] và trao nó cho người họ hàng của mình là [[Alessandro de' Medici]]. Nhà Medici duy trì tước hiệu qua 2 đời, đến [[Cosimo I de' Medici]] thì được [[Giáo hoàng Piô V]] nâng lên làm [[Đại công quốc Toscana|Đại Công tước xứ Toscana]] vào năm 1569. Triều đại này đã cai trị Đại công quốc Toscana cho đến năm 1737 thì tuyệt tự dòng nam sau cái chết của vị đại công tước cuối cùng là [[Gian Gastone de' Medici]]. Lãnh thổ đã được các cường quốc giàn xếp và cuối cùng thuộc về [[Franz I của Thánh chế La Mã|Francis xứ Lorraine]], con rể của Hoàng đế [[Karl VI của Thánh chế La Mã]], chồng của [[Maria Theresia của Áo]], sau trở thành Hoàng đế Franz I của Thánh chế La Mã. | |||
* Gia tộc Medici đến từ vùng nông nghiệp [[Mugello]] phía bắc [[Florence]], và họ lần đầu tiên được nhắc đến trong một tài liệu năm 1230. Nguồn gốc của tên gia tộc là không chắc chắn. Medici là số nhiều của ''medico'', có nghĩa là "bác sĩ y khoa". Họ làm giàu từ việc buôn bán hàng dệt may, sau chuyển sang ngành ngân hàng và trở thành một đế chế tài chính lớn nhất châu Âu, bước cuối cùng là đầu tư vào quyền lực chính trị, hôn phối với các gia đình hoàng gia và ngai vàng. | |||
* Nhà Medici cai trị Đại công quốc Toscana trải qua 7 đời và duy trì ngai vàng được trong 168 năm: [[Cosimo I de' Medici]] (1569-1574); [[Francesco I de' Medici]] (1574-1587); [[Ferdinando I de' Medici]] (1587-1609); [[Cosimo II de' Medici]] (1609-1621); [[Ferdinando II de' Medici]] (1621-1670); [[Cosimo III de' Medici]] (1670-1723); và [[Gian Gastone de' Medici]] (1723-1737). | |||
* Nhà Medici đã sản sinh ra 4 vị [[Giáo hoàng]] cho Giáo hội Công giáo La Mã và [[Lãnh địa Giáo hoàng]], gồm có: [[Giáo hoàng Lêô X|Giáo hoàng Leo X]] (1513–1521), [[Giáo hoàng Clêmentê VII]] (1523–1534), [[Giáo hoàng Piô IV|Giáo hoàng Pius IV]] (1559–1565) và [[Giáo hoàng Lêô XI|Giáo hoàng Leo XI]] (1605), ngoài ra còn có 2 Vương hậu của Pháp, gồm có: [[Caterina de' Medici|Catherine de' Medici]] (1547–1559) và [[Maria de' Medici|Marie de' Medici]] (1600–1610). Qua cuộc hôn nhân của 2 phụ nữ Nhà Medici với [[Vương tộc Valoi]] và [[Vương tộc Bourbon]], tất cả các vị vua Pháp kể từ [[François II của Pháp]], tất cả vua Tây Ban Nha kể từ [[Felipe V của Tây Ban Nha|Felipe V]] đều là hậu duệ của Nhà Medici theo dòng nữ.<hr> | |||
Sự giàu có và ảnh hưởng của người Nhà Medici ban đầu bắt nguồn từ việc buôn bán hàng dệt may ở Florence. Giống như các gia đình khác cai trị ở [[Signoria|Signorie]] của Ý, Medici trở thành lãnh đạo của thành phố mà họ sinh sống, có thể đưa Florence nằm dưới quyền lực chi phối của gia đình họ và tạo ra một môi trường trong đó nghệ thuật và chủ nghĩa nhân văn phát triển. Họ và các gia đình khác của Ý đã truyền cảm hứng cho thời [[Phục hưng Ý]], chẳng hạn như [[Visconti xứ Milan|Visconti]] và [[Nhà Sforza|Sforza]] ở [[Milan]], [[Nhà Este|Este]] ở [[Ferrara]], [[Gia tộc Borgia|Borgia]] ở [[Rome]] và [[Nhà Gonzaga|Gonzaga]] ở [[Mantova|Mantua]].<hr> | |||
Sau khi làm giàu từ ngành dệt may, họ chuyển sang đầu tư vào ngành ngân hàng. [[Ngân hàng Medici]], từ khi được thành lập vào năm 1397 cho đến khi sụp đổ vào năm 1494, là một trong những tổ chức thịnh vượng và được kính trọng nhất ở [[châu Âu]], và gia đình Medici được coi là giàu có nhất ở châu Âu trong một thời gian dài. Từ cơ sở này, ban đầu họ giành được quyền lực chính trị ở Florence và sau đó là ở [[Bán đảo Ý]] và châu Âu rộng lớn hơn. Họ là một trong những doanh nghiệp sớm nhất sử dụng hệ thống sổ cái kế toán thông qua việc phát triển [[Hệ thống ghi sổ kép]] để theo dõi các khoản tín dụng và ghi nợ.<hr> | |||
Gia đình Medici đã tuyên bố tài trợ cho việc phát minh ra [[piano]] và [[opera]], đã tài trợ cho việc xây dựng [[Vương cung thánh đường Thánh Phêrô]] và [[Nhà thờ chính tòa Firenze]], đồng thời là người bảo trợ của [[Filippo Brunelleschi]], [[Sandro Botticelli]], [[Leonardo da Vinci]], [[Michelangelo]], [[Raphael]], [[Niccolò Machiavelli]], [[Galileo Galilei]] và [[Francesco Redi]] cùng nhiều cá nhân khác trong nghệ thuật và khoa học. Họ cũng là những nhân vật chính của [[Phong trào Phản Cải cách]], từ khi bắt đầu cuộc [[Cải cách Kháng nghị]] thông qua [[Công đồng Trentô]] và các cuộc [[Chiến tranh tôn giáo Pháp]]. | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|[[File:Achievement (coat of arms) of the House of Lorraine.svg|70px]] <hr> TRIỀU ĐẠI LORRAINE <br> (1737 - 1765) | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
[[Vương tộc Lothringen|Triều đại Lorraine]] là một nhánh của [[Nhà Metz]], có 2 giả thuyết chính về nguồn gốc của gia tộc Metz: | |||
* (1) Giả thuyết về tổ tiên [[Etichonid]], cho rằng [[Adalbert xứ Lothringen|Adalbert xứ Metz]] và em trai [[Gerard xứ Lothringen|Gerard]] là hậu duệ của nhánh Nordgau thuộc Triều đại Etichonid, cùng nhánh mà [[Nhà Habsburg]] và [[Nhà Zähringen]] có thể là hậu duệ. | |||
* (2) Giả thuyết về tổ tiên [[Gerard I xứ Paris|Gerardide]], cho rằng Adalbert và Gerard là hậu duệ của [[Matfriede]], được cho là một nhánh của Gerardide. | |||
* Nguồn gốc Etichonid được công nhận nhất trí từ thế kỷ XVIII đến thế kỷ XX. Vì lý do này, cuộc hôn nhân giữa [[Maria Theresa của Áo]] và [[Franz I của Thánh chế La Mã|Francis xứ Lorraine]] vào thời điểm đó được coi là sự tái hợp của hai nhánh thuộc triều đại [[Etichonid]]. | |||
* Các công tước thời Phục hưng của Lorraine có xu hướng tự cho mình là hậu duệ của [[Vương triều Caroling]], nhưng điều này không chắc chắn. | |||
* Điều được chứng minh chắc chắn hơn là vào năm 1048, Hoàng đế [[Heinrich III của Thánh chế La Mã]] đã trao [[Công quốc Lothringen|Công quốc Thượng Lorraine]] đầu tiên cho Adalbert xứ Metz và sau đó là cho em trai của ông là Gerard, những người kế vị (gọi chung là Nhà Alsace hoặc Nhà Châtenois) đã giữ lại công quốc cho đến khi [[Karl II xứ Lothringen|Karl Táo bạo]] qua đời vào năm 1431. | |||
<hr> | |||
Người Nhà Lorraine chính thức khởi đầu từ Công tước [[René II xứ Lorraine]], ông là con trai của [[Yolande xứ Lorraine]], con gái của [[René xứ Anjou]] đến từ [[Vương tộc Valois-Anjou]], cha ông là [[Friedrich II xứ Vaudémont]]. Về phía mẹ, ông là cháu trai của [[Isabella xứ Lothringen]]. Cha ông là thành viên của gia tộc Vaudémont, một nhánh nhỏ của gia tộc Công tước xứ Lorraine, hậu duệ của [[Johann I xứ Lothringen]] (Nhà Metz). Do đó, ông vừa là người thừa kế chung vừa là người thừa kế nam của Công quốc khi ông kế vị sau cái chết của người anh họ [[Nikolaus I xứ Lothringen]] vào năm 1473.<hr> | |||
Nhà Lothringen thừa kế [[Công quốc Lothringen]] từ năm 1473 dưới thời của René II, gia tộc này đã cai trị qua 13 đời công tước, trải qua 264 năm. Đến thời [[Franz I của Thánh chế La Mã|Công tước Franz III Stephen]], ông đã buộc phải đổi lãnh thổ [[Công quốc Lothringen]] cho cựu vương [[Stanisław Leszczyński]] của Ba Lan để lấy [[Đại công quốc Toscana]] của [[Nhà Medici]], sẽ tuyệt tự dòng nam sau cái chết của Đại công tước cuối cùng là [[Gian Gastone de' Medici]] vào năm 1737.<hr> | |||
Franz trở thành chồng của [[Maria Theresia của Áo]] vào năm 1736, sau đó dưới sự giàn xếp của [[Vương tộc Habsburg]] của vợ, ông được bầu lên làm hoàng đế của Đế chế La Mã Thần thánh vào năm 1745. Ông giữ tước hiệu Đại công tước xứ Toscana và hoàng đế Thánh chế La Mã cho đến khi qua đời vào năm 1765. Sau đó ngai vàng được nhường lại cho các con trai của ông, và họ là thành viên của Vương tộc Habsburg-Lorraine, sản phẩm của dòng nam của Nhà Lorraine và dòng nữ của Nhà Habsburg. | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|[[File:Genealogical arms House of Habsburg-Lorraine 1806.svg|70px]] <hr> TRIỀU ĐẠI HABSBURG-LORRAINE<br> (1765 - 1801 & 1814 - 1860) | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
[[Vương tộc Habsburg-Lothringen|Triều đại Habsburg-Lothringen]] được tạo ra từ cuộc hôn nhân giữa [[Maria Theresia của Áo|Maria Theresia]] của [[Nhà Habsburg]] và [[Franz I của Thánh chế La Mã|Công tước Franz xứ Lothringen]] của [[Vương tộc Lothringen|Nhà Lothringen]] vào năm 1736. Các hậu duệ của Franz và Maria Theresia được mang họ kép Habsburg-Lothringen.<hr> | |||
Sau khi [[Franz I của Thánh chế La Mã|Đại công tước Francesco III xứ Toscana (Franz I của Thánh chế La Mã)]] qua đời, người con trai thứ 2 là [[Leopold II của Thánh chế La Mã|Leopold]] được thừa kế Đại công quốc Toscana, trong khi đó người con trưởng là [[Joseph II của Thánh chế La Mã|Joseph]] được thừa kế các lãnh thổ của Quân chủ Habsburg và được bầu làm Hoàng đế Thánh chế La Mã với đế hiệu Joseph II.<hr> | |||
Con trai trưởng của cặp đôi là [[Joseph II của Thánh chế La Mã|Joseph]] qua đời mà không để lại con thừa tự vào năm 1790, Đại công tước xứ Toscana là [[Leopold II của Thánh chế La Mã|Leopold I]] được thừa kế tài sản của Habsburg và trở thành Hoàng đế Thánh chế La Mã với đế hiệu Leopold II, ngai vàng Toscana ông để lại cho người con trai thứ 2 là [[Ferdinando III xứ Toscana]], còn người con trưởng [[Franz II của Thánh chế La Mã|Franz]] sau trở thành Hoàng đế cuối cùng của Thánh chế La Mã với hiệu Franz II và hoàng đế đầu tiên của Áo với hiệu Franz I. Vì thế, dòng Habsburg-Lothringen của Toscana được lập ra bởi Hoàng đế [[Leopold II của Thánh chế La Mã]], sau được truyền cho người con trai thứ 2 là [[Ferdinando III xứ Toscana]], [[Leopoldo II xứ Tuscany|Leopoldo II]] (1824-1859) và đến [[Ferdinando IV của Toscana|Ferdinando IV]] (1859-1860) thì bị lật đổ và lãnh thổ Toscana sau đó bị sáp nhập để lập ra [[Vương quốc Ý]], dưới vương quyền của [[Nhà Savoia]].<hr> | |||
Nhà Lothringen và Habsburg-Lothringen nắm ngai vàng Toscana qua 5 đời Đại công tước (1737-1801 & 1814-1860), kéo dài trong 110 năm (bị gián đoạn 13 năm từ 1801-1814 dưới thời kỳ Napoleon I). | |||
|} | |||
===Francesco III=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đại công quốc Toscana|ĐẠI CÔNG QUỐC TUSCANY]]<hr> [[Vương tộc Lothringen|Triều đại Lorraine]]<br>(1737 - 1765)}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of the Grand Duchy of Tuscany with Great Coat of arms.svg|center|139px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Greater coat of Arms of the Grand duchy of Tuscany.svg|center|110px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Francis I của Thánh chế La Mã|Đại công tước Francesco III]]<br> (1737 - 1765)}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị Đại công tước thứ 8 của Toscana và duy nhất đến từ Nhà Lorraine}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:10 paoli 1747 - FRANCIS II.jpg|center|700px]]<hr>{{center|'''10 Paoli [[Francis I của Thánh chế La Mã|Francesco III]] - 1747<hr>279 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Martin van Meytens 006.jpg|120px]]<br>1747 - 1764<hr>'''[[AU]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[41,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[91,7%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,5 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[25,2175 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[?]]<hr>7.000.000<br>[[(309,73$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
===Leopold II=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đại công quốc Toscana|ĐẠI CÔNG QUỐC TUSCANY]]<hr> [[Vương tộc Habsburg-Lothringen|Triều đại Habsburg-Lorraine]]<br>(1765 - 1801 & 1814 - 1860)}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of the Grand Duchy of Tuscany with Great Coat of arms.svg|center|139px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Greater coat of Arms of the Grand duchy of Tuscany.svg|center|110px]]}} | |||
|- | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Leopold II, Đại công tước xứ Tuscany|Đại công tước Leopoldo II]]<br> (1824 - 1859)}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị Đại công tước Toscana thứ 11 và quân chủ thứ 14 của Toscana-Etruria; Đại công tước thứ 3 và áp chót của Nhà Habsburg-Lorraine}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 Francescone - Leopoldo II 1859.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 Francescone/4 Fiorino [[Leopold II, Đại công tước xứ Tuscany|Leopoldo II]] - 1859<hr>166 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Leopold II of Tuscany.jpg|120px]]<br>1747 - 1764<hr>'''[[AU|AU-55]]'''}} || style="background:#ceb"colspan="1"|{{center|'''Đường kính'''<br>[[41,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[91,6%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,48 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[25,17168 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[971.000]]<hr>7.900.000<br>[[(312,25$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#fbd"|LEOPOLD II | |||
|- | |||
|style="background:LemonChiffon;"| | |||
Leopoldo là con trai thứ 2 của Đại công tước [[Ferdinando III xứ Toscana]] và [[Luisa của Napoli và Sicilia]], thông qua bố mình, ông bà nội của Leopold là Hoàng đế [[Leopold II của Thánh chế La Mã]] và [[María Luisa của Tây Ban Nha]], vì thế ông bà cố của ông là '''[[Maria Theresia của Áo]]''' và '''Hoàng đế [[Franz I của Thánh chế La Mã]]'''. | |||
* Hoàng đế '''[[Franz II của Thánh chế La Mã]]''' là anh ruột của cha ông, vì thế mà Hoàng đế [[Ferdinand I của Áo]], hoàng hậu Pháp [[Maria Ludovica của Áo]] (vợ của '''Napoleon I'''), Hoàng hậu Brasil [[Maria Leopoldine của Áo]] (mẹ của hoàng đế [[Pedro II của Brasil]] và [[Maria II của Bồ Đào Nha]]), Đại công tước [[Franz Karl của Áo]] (cha của Hoàng đế '''[[Franz Joseph I của Áo]]''' và '''[[Maximilian I của México]]''') đều là anh chị họ đời đầu của Leopold. | |||
* Thông qua mẹ, ông bà ngoại của Leopold là [[Ferdinando I của Hai Sicilie]] và [[Maria Karolina của Áo]], ông gọi vua [[Francesco I của Hai Sicilie]] là cậu và vua '''[[Ferdinando II của Hai Sicilie]]''' là em họ đời đầu. Vì thế ông bà cố của ông là '''[[Carlos III của Tây Ban Nha]]''' và [[Maria Amalia xứ Sachsen]]. | |||
<hr> | |||
Ông trở thành người thừa kế [[Đại công quốc Toscana]] vào năm 1800, sau cái chết của anh trai của ông là [[Francesco Leopoldo, Đại công tử thừa kế xứ Toscana|Francesco Leopoldo]]. Năm 1802, cha của ông được bồi thường cho [[Tuyển hầu xứ Salzburg]], năm 1805 cha ông mất Salzburg và được bồi thường bằng [[Đại công quốc Würzburg]]. Có nghĩa là từ năm 1800 cho đến khi gia đình ông được phụ vị lại Toscana vào năm 1814, Leopold đã lần lượt trải qua 3 lần được thừa kế các lãnh thổ khác nhau: Đại công quốc Toscana (1800-1801); [[Tuyển hầu xứ Salzburg]] (1802-1805); [[Đại công quốc Würzburg]] (1805 - 1814) sau đó lại quay về người thừa kế Toscana từ năm 1814 - 1826, khi cha ông qua đời thì trở thành Đại công tước Toscana. <hr> | |||
Ông cũng giống như [[Giáo hoàng Piô IX]], trong thời gian đầu trị vì, Leopold là một quân chủ tự do nhất trong số các quân chủ trên bán đảo Ý đương thời, thực hiện tự do báo chí và quyền dân chủ rộng rãi, thậm chí nhiều người đã ủng hộ ông thống nhất Bán đảo Ý, nhưng sau Cách mạng 1848, ông đã thay đổi tư tưởng và trở thành nhà cai trị cực đoan. Càng về sau, ông càng mất lòng dân, đặc biệt là nhờ quân Áo vào trấn áp các phe cách mạng cũng như chiếm đống Toscana đến tận năm 1855. Trong Chiến tranh thống nhất Ý lần hai, Leopold bị lật đổ bởi một cuộc đảo chính không máu, ông tuyên bố thoái vị vào năm 1859 để ủng hộ con trai mình là [[Ferdinand IV xứ Toscana|Đại công tử Ferdinando]], người này kế vị với vương hiệu Ferdinando IV nhưng không trị vì được ngày nào trong Đại công quốc Toscana, đến năm 1860, [[Vương quốc Ý]] đã sáp nhập Toscana qua một cuộc trưng cầu dân ý.<hr> | |||
Leopold II xứ Toscana là một nhà cai trị tốt bụng, không độc ác, và yêu thương thần dân của mình hơn những quân chủ khác trên bán đảo Ý, nhưng ông yếu đuối, và bị ràng buộc quá chặt chẽ bởi các mối quan hệ gia đình và truyền thống của [[Vương tộc Habsburg]] để có thể trở thành một người theo [[Chủ nghĩa tự do]] thực sự. Nếu ông không tham gia vào mật nghị của những nhà độc tài tại [[Gaeta]], và trên hết, nếu ông không triệu tập sự hỗ trợ của Áo trong khi phủ nhận rằng ông đã làm như vậy, vào năm 1849, ông vẫn có thể bảo vệ được ngai vàng của mình, và thậm chí thay đổi tiến trình lịch sử Ý. Đồng thời, sự cai trị của ông, tuy không khắc nghiệt, nhưng lại làm nản lòng nhiều người.<hr> | |||
Ông cùng với vợ, ông là người bảo trợ sáng lập của [[Istituto Statale della Santissima Annunziata]], trường nội trú dành cho nữ đầu tiên ở Florence, nơi đào tạo các cô gái trẻ quý tộc và cao quý. Leopold đã ra lệnh xây dựng La Botte, một đường hầm dẫn nước dưới sông [[Arno]], cho phép thoát nước cuối cùng của [[Lago di Bientina]], trước đây là hồ lớn nhất ở Toscana. Hoàn thành vào năm 1859, La Botte vẫn là một phần không thể thiếu của hệ thống quản lý nước vùng Tuscan.<hr> | |||
Cha của Leopold - [[Ferdinando III xứ Toscana]] là một nhà cai trị trong [[Kỷ nguyên Napoleon]] đầy biến động. Năm 1792, trong [[Cách mạng Pháp]], Ferdinando III trở thành vị quân chủ châu Âu đầu tien công nhận tính hợp pháp của [[Đệ Nhất Cộng hòa Pháp]] mới thành lập và ông dã cố gắng hợp tác hòa bình với Pháp trể tránh chiến tranh xảy ra với đất nước của mình. Nhưng sau đó, Anh-Nga đã thuyết phục ông tham gia phe của họ trong [[Chiến tranh Liên minh thứ nhất]], dù ông hỗ trợ liên minh một cách thụ động và không nhiệt tình. Chứng kiến một loạt thất bại của liên minh trước Pháp, ông lại trở thành thành viên đầu tiên từ bỏ liên minh và tuyên bố Toscana trung lập trong chiến tranh. Chính điều này đã giúp nhà nước của ông ổn định cho đến năm 1799.<hr> | |||
Sau 4 năm yên bình, năm 1799, Ferdinando III và gia đình phải chạy trốn đến Viên vì những người theo chủ nghĩa cộng hoà đã thành lập một chính phỉ mới ở Florence. Ông buộc phải từ bỏ ngai vàng của mình theo [[Hiệp ước Aranjuez (1801)]]. [[Đại công quốc Toscana]] đã bị xoá bỏ, thế vào đó là '''[[Vương quốc Etruria]]''' được thành lập và trao cho '''[[Ludovico I của Etruria|Ludovico xứ Parma]]''', xem như là khoản bồi thường vì Pháp đã xáp nhập [[Công quốc Parma]] theo [[Hòa ước Lunéville]] cùng năm đó.<hr> | |||
Để bồi thường việc mất Toscana, ngày 26 tháng 12 năm 1802, Ferdinando đã được nhận [[Tuyển hầu xứ Salzburg]], lãnh thổ này là '''[[Tổng giáo phận vương quyền Salzburg]]''' trước đây. Chỉ 3 năm sau (12/1805) ông lại phải từ bỏ Salzburg, vì lãnh thổ này đã được sáp nhập vào lãnh thổ của anh trai ông là Hoàng đế [[Franz II của Thánh chế La Mã]] theo [[Hòa ước Pressburg (1805)|Hiệp ước Pressburg]]. Ferdinand được bồi thường bằng [[Đại công quốc Würzburg]], một nhà nước mới được thành lập từ [[Giáo phận vương quyền Würzburg]] cũ, trong khi vẫn giữ lại tước hiệu [[Tuyển đế hầu]]. Sau khi Napoleon I thoái vị, ngày 30 tháng 5 năm 1814, Ferdinando được phục vị lại làm Đại công tước xứ Toscana, và ông cai trị xứ này trong hoà bình trong 10 năm tiếp theo, đến khi qua đời vào năm 1824. | |||
|} | |||
==🟪 VƯƠNG QUỐC LOMBARDY-VENETIA== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|[[Tập tin:Coat of arms of the Kingdom of Lombardy–Venetia.svg|70px]] <hr> VƯƠNG QUỐC LOMBARDO-VENETO<br> (1815 - 1866) | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
Trong [[Hiệp định Paris (1814)|Hiệp ước Paris]] năm 1814, người Áo đã xác nhận yêu sách của họ đối với các vùng lãnh thổ của [[Công quốc Milan]] của người Lombard trước đây, do chế độ [[Quân chủ Habsburg]] cai trị từ năm 1714 và cùng với [[Công quốc Mantua]] lân cận do nhánh Áo-Este thuộc [[Nhà Habsburg]] cai trị từ năm 1708 đến năm 1796, và [[Cộng hòa Venezia]] trước đây, từng nằm dưới sự cai trị của Áo theo [[Hiệp ước Campo Formio]] năm 1797.<hr> | |||
Đại hội Viên đã hợp nhất các vùng đất này thành một vương quốc duy nhất với tên gọi [[Vương quốc Lombardo–Veneto]], do Hoàng đế Áo thuộc Vương tộc Habsburg-Lorraine cai trị dưới hình thức [[Liên minh cá nhân]]; khác với [[Đại công quốc Toscana]] lân cận, [[Công quốc Modena và Reggio]] cũng như [[Công quốc Parma]], vẫn là các thực thể độc lập dưới vương quyền của Habsburg. Hoàng đế Áo sẽ bổ nhiệm một [[phó vương]] đại diện ông cai trị vương quốc, ngoài ra còn bổ nhiệm 2 thống đốc, một cư trú tại [[Milan]] và người còn lại ở [[Venice]].<hr> | |||
Vương quốc này chỉ tồn tại trong 50 năm, khu vực Lombardy (Công quốc Milano cũ) đã được nhượng lại cho [[Đệ Nhị Đế chế Pháp]] của [[Napoleon III]] vào năm 1859, sau [[Chiến tranh giành độc lập Ý lần thứ hai]], sau đó Napoleon III ngay lập tức nhượng lại cho [[Vương quốc Sardegna]]. Lombardy-Venetia cuối cùng đã bị giải thể vào năm 1866 khi lãnh thổ còn lại là Veneto (Cộng hòa Venezia cũ) được sáp nhập vào [[Vương quốc Ý]] mới được tuyên bố sau chiến thắng của vương quốc này trước Đế chế Áo trong [[Chiến tranh giành độc lập Ý lần thứ ba]]. | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|[[Tập tin:Flag of the Duchy of Milan (1450).svg|70px]]<hr> Công quốc Milano<br> (1395-1447 & 1450-1796) | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
Công quốc Milano được thành lập chính thức vào ngày 11 tháng 5 năm 1395, khi [[Gian Galeazzo Visconti]], ''Lãnh chúao xứ Milan'', đã nhận được tước hiệu [[Danh sách công tước xứ Milano|Công tước xứ Milano]] thông qua một văn bằng được ký tại [[Prague]] bởi [[Wenzel IV của Bohemia]]. Trước đó, [[Visconti xứ Milano|gia tộc Visconti]] đã cai trị thành phố Milano này từ năm 1277. Công tước Nhà Visconti cuối cùng là [[Filippo Maria Visconti|Filippo Maria]], qua đời vào năm 1447 mà không có người thừa kế nam, người Milano đã tuyên bố thành lập [[Cộng hòa Golden Ambrosia]]. Nhưng nền cộng hòa này chỉ tồn tại trong 3 năm thì bị xoá bỏ. Năm 1450, đội trưởng lính đánh thuê [[Francesco I Sforza|Francesco Sforza]], người trước đây đã kết hôn với con gái ngoài giá thú của Filippo Visconti là Bianca Maria, đã chinh phục thành phố và tái lập lại Công quốc Milano, thành lập [[Nhà Sforza]].<hr> | |||
Dưới thời trị vì của Nhà Sforza, '''''Milano đã trải qua một thời kỳ thịnh vượng lớn với sự ra đời của ngành công nghiệp tơ lụa, trở thành một trong những quốc gia giàu có nhất trong thời kỳ Phục hưng'''''. Francesco II Sforza qua đời mà không có người thừa kế vào năm 1535, mở ra một câu hỏi mới về việc ai sẽ nắm giữ ngai vàng Milano. Từ cuối thế kỷ XV, Công quốc Milano đã bị tranh chấp giữa các lực lượng của Quân chủ Habsburg và Vương quốc Pháp.<hr> | |||
Nó được cai trị bởi Habsburg Tây Ban Nha từ năm 1556 và được chuyển giao cho Habsburg Áo vào năm 1707 trong [[Chiến tranh Kế vị Tây Ban Nha]] như một [[thái ấp]] bỏ trống của [[Đế chế La Mã Thần thánh]]. Công quốc vẫn là tài sản của Áo cho đến năm 1796 khi một đội quân Pháp dưới quyền [[Napoleon Bonaparte]] chinh phục nó, và nó không còn tồn tại một năm sau đó do [[Hiệp ước Campo Formio]], khi Áo nhượng lại cho chư hầu của Pháp là [[Cộng hòa Cisalpine]] mới được thành lập.<hr> | |||
Sau thất bại của Napoleon, [[Đại hội Viên]] năm 1815 đã cho phục hồi nguyên trạng nhiều nhà nước quân chủ ở khắp châu Âu, nhưng trong số đó không có Công quốc Milano. Thay vào đó, lãnh thổ trước đây của nó đã trở thành một phần của [[Vương quốc Lombardo–Veneto]], với Hoàng đế Áo là quân chủ. Năm 1859, Lombardo được nhượng lại cho [[Vương quốc Sardegna|Vương quốc Piedmont-Sardinia]], sau đó trở thành [[Vương quốc Ý]] vào năm 1861. | |||
|} | |||
===[[Ferdinand I của Áo]]=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đế quốc Áo|ĐẾ CHẾ ÁO]]<hr> [[Vương quốc Lombardo–Veneto]]<br> (1815 - 1866)}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of the Kingdom of Lombardy–Venetia (1815–1866).svg|center|135px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms Kingdom Lombardy-Venetia.svg|center|62px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Joseph Radetzky von Radetz|Phó vương Joseph Radetzky von Radetz]]<br> (1848 - 1857)}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị Phó vương/Toàn quyền thứ 4 của Vương quốc Lombardy-Venetia}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:5 Lire Kingdom of Lombardi 1848.png|center|700px]]<hr>{{center|'''5 Lire [[Chính phủ lâm thời Lombardy]] - 1848<hr>177 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Portrait of Field Marshal Johann Josef Wenzel Graf Radetzky von Radetz (by Georg Decker) - Heeresgeschichtliches Museum.jpg|120px]]<br>1848<hr>'''[[MS|UNC]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[37,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,30]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[120.000]]<hr>6.100.000<hr>[[(240,0$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==📕 CÔNG QUỐC PARMA== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|[[File:Coat of Arms of the Duke Ranuncius Farnese (1600-1622).svg|50px]] <hr> Công quốc Parma | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
[[Công quốc Parma]] được thành lập vào năm 1545, sau khi '''''[[Giáo hoàng Phaolô III]] biến nó thành công quốc cha truyền con nối cho chính con trai của ông, [[Pier Luigi Farnese, Công tước xứ Parma|Pier Luigi Farnese]]''''', nó được cai trị bởi triều đại Farnese cho đến năm 1731, khi công tước cuối cùng của nó là [[Antonio Farnese, Công tước xứ Parma|Antonio Farnese]], qua đời mà không có người thừa kế trực tiếp. '''''[[Nhà Farnese]] làm chủ Parma từ năm 1545 - 1731, trải qua 186 năm, với 8 đời công tước'''''. | |||
Vì thiếu người thừa kế nam nên [[Elisabetta Farnese|Elisabeth Farnese]], cháu gái của [[Antonio Farnese, Công tước xứ Parma|Công tước Antonio Farnese]], được tuyên bố là nữ thừa kế của [[Nhà Farnese]]. Sau cái chết của Công tước Antonio vào năm 1731, quyền thừa kế thuộc về [[Carlos III của Tây Ban Nha|Vương tử Carlos]] (Carlos III tương lai), con trai lớn nhất của Elisabeth Farnese và [[Felipe V của Tây Ban Nha]]. Ông trị vì được 4 năm thì chiếu theo [[Hiệp ước Viên (1738)]], ông đã bàn giao công quốc cho [[Nhà Habsburg]] để đổi lấy [[Vương quốc Napoli]] và [[Vương quốc Sicilia]]. | |||
Nhà Habsburg chỉ cai trị cho đến khi kết thúc [[Chiến tranh Kế vị Áo]] vào năm 1748, [[Hiệp ước Aix-la-Chapelle (1748)|Hiệp ước Aix-la-Chapelle]], đã nhượng lại công quốc cho Nhà Bourbon Tây Ban Nha, [[Filippo I xứ Parma|Vương tử Philip]], em trai của Vương tử Carlos đã tiếp nhận công tước Parma và chính ông đã trở thành người sáng lập ra [[Nhà Bourbon-Parma]], trị vì một '''Công quốc Parma, Piacenza và Guastalla''' mở rộng, những người cai trị [[Nhà Gonzaga]] láng giềng của [[Công quốc Guastalla]] đã tuyệt tự vào năm 1746. | |||
Năm 1796, công quốc bị quân Pháp dưới sự chỉ huy của [[Napoleon I|Napoléon Bonaparte]] chiếm đóng, tình hình chính trị trong nước trở nên vô cùng rối ren. Công tước đời thứ 2 là [[Ferdinand I, Công tước xứ Parma|Ferdinand]] duy trì ngai vàng của mình dưới thời các thống đốc quân sự Pháp cho đến [[Hiệp ước Aranjuez (1801)|Hiệp ước Aranjuez]] năm 1801, khi một thỏa thuận chung giữa Nhà Bourbon và Napoléon chính thức quyết định việc nhượng lại công quốc cho Pháp để đổi lấy [[Đại công quốc Toscana]] và được đổi thành [[Vương quốc Etruria]]. '''''Công quốc đã được cải tổ thành một [[Tỉnh (Pháp)|tỉnh của Pháp]], với tên gọi là [[Taro (tỉnh)|tỉnh Taro]]'''''. | |||
Năm 1814, công quốc được trao cho vợ thứ 2 của Hoàng đế Napoléon là [[Maria Ludovica của Áo]], và theo quyết định của [[Đại hội Viên]], bà sẽ cai trị Parma cho đến khi qua đời. Sau khi bà qua đời vào năm 1847, Công quốc được khôi phục lại cho [[Nhà Bourbon-Parma]], gia tộc trước đó đã cai trị [[Vương quốc Etruria]] và sau đó là [[Công quốc Lucca]]. Guastalla được nhượng lại cho [[Công quốc Modena và Reggio]]. Nhà Bourbon cai trị cho đến năm 1859, khi họ bị lật đổ bởi một cuộc cách mạng sau chiến thắng của Pháp và Sardinia chống lại Áo (được gọi là [[Chiến tranh giành độc lập Ý lần thứ hai]]). | |||
Vào tháng 12 năm 1859, Công quốc Parma và Piacenza được kết hợp với [[Đại công quốc Toscana]] và [[Công quốc Modena và Reggio]] để thành lập [[các Tỉnh thống nhất của miền Trung Ý]]. Vào tháng 3 năm 1860, sau một cuộc trưng cầu dân ý, lãnh thổ này sáp nhập với [[Vương quốc Sardinia (1720–1861)|Vương quốc Sardinia]], đến năm 1861 đổi tên thành [[Vương quốc Ý]]. | |||
===Marie Louise=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Công quốc Parma|CÔNG QUỐC PARMA]]<br>(1545 – 1802 & 1814 – 1859)<hr>[[Vương tộc Habsburg-Lothringen|Nhà Habsburg-Lorraine]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:State Flag of the Duchy of Parma, Piacenza and Guastalla (1815-1847).svg|center|125px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of the Duchy of Parma under Maria Luigia of Austria.svg|center|75px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Maria Ludovica của Áo|Nữ công tước Marie Louise]]<br> (1814 - 1847)}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị công tước thứ 16 xứ Parma và công tước thứ 3 đến từ Nhà Hubsburg và Habsburg-Lorraine}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:5 Lire of Parma, Marie Louise 1815.png|center|700px]]<hr>{{center|'''5 Lire [[Maria Ludovica của Áo|Marie Louise]] - 1815<hr>210 năm (2025)'''}}||{{center|[[Tập tin:Empress Marie Louise of the French.jpg|120px]]<br>1815 - 1832<hr>'''[[MS|AU - UNC]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[37,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[25 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[22,5]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[93.000]]<hr>15.181.500<br> [[(583,9$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#fbd"|LUDOVICO I | |||
|- | |||
|style="background:LemonChiffon;"| | |||
|} | |||
|} | |||
==📕 VƯƠNG QUỐC ETRURIA== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|[[Tập tin:Coat of arms of the House of Bourbon-Parma.svg|70px]] <hr> VƯƠNG TỘC BOURBON-PARMA | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
[[Vương tộc Borbone-Parma]] là một dòng của Vương tộc Bourbon-Tây Ban Nha và chi nhánh của [[Vương tộc Bourbon|Vương tộc Bourbon-Pháp]]. Chi nhánh này cai trị [[Công quốc Parma]] trên [[Bán đảo Ý]], ngoài ra cũng từng một giai đoạn ngắn cai trị [[Vương quốc Etruria]] (1801-1807) và [[Công quốc Lucca]] (1815-1847). Hiện nay vương tộc này vẫn còn đang trị vì Đại công quốc [[Luxembourg]] (kể từ năm 1964). Người lập ra [[Vương tộc Borbone-Parma]] là [[Filippo I xứ Parma|Vương tử Felipe]], con trai thứ 2 của Vua [[Felipe V của Tây Ban Nha|Felipe V]] với người vợ thứ 2 của ông, [[Elisabetta Farnese]]. Vì thế, Felipe là cháu cố của Vua Mặt trời [[Louis XIV của Pháp]].<hr> | |||
Lúc đầu, Công quốc Parma được thừa kế bởi anh trai của Felipe là [[Carlos III của Tây Ban Nha|Vương tử Carlos]] theo quyền thừa kế của mẹ là [[Elisabetta Farnese]], nữ thừa kế của [[Nhà Farnese]] (hậu duệ của [[Pier Luigi Farnese, Công tước xứ Parma|Pier Luigi Farnese]] con trai của [[Giáo hoàng Phaolô III]]) với tước hiệu Carlo I xứ Parma. Nhưng năm 1734, ông đã dẫn quân chinh phục Vương quốc Napoli và Sicilia của Áo và trở thành quốc vương với vương hiệu Carlo VII của Napoli và Carlo III của Sicilia và Jerusalem. Người Áo công nhận quyền quân chủ của Carlos tại Napoli và Sicilia, đổi lại ông phải từ bỏ quyền thừa kế tại [[Đại công quốc Toscana]] và [[Công quốc Parma]] theo quyền của mẹ và hai lãnh thổ này đã thuộc về Áo. | |||
* Nhà Habsburg chỉ nắm giữ Parma đến năm 1748, theo [[Hiệp ước Aix-la-Chapelle (1748)|Hiệp ước Aix-la-Chapelle]], Áo đã nhường lại Công quốc Parma cho Bourbon Tây Ban Nha và quyền công tước cai trị sẽ thuộc về [[Filippo I xứ Parma|Vương tử Felipe]] và ông chính thức tạo ra dòng Bourbon-Parma kể từ đó. | |||
* Năm 1796, công quốc bị quân đội Pháp dưới quyền Napoleon Bonaparte chiếm đóng và sáp nhập vào [[Cộng hòa Cisalpine]] và [[Vương quốc Ý (Napoléon)|Vương quốc Ý]]. Năm 1801, Napoleon đã bồi thường cho người Nhà Bourbon-Parma [[Vương quốc Etruria]] (được lập ra từ lãnh thổ cũ của Đại công quốc Toscana của [[Nhà Habsburg-Lorraine]]). Năm 1807, một lần nữa họ bị Napoleon truất khỏi ngai vàng. | |||
* Sau khi Chiến tranh Napoleon kết thúc, [[Đại hội Viên]] đã trao cho [[Maria Ludovica của Áo]] (vợ của cựu hoàng Napoleon I) cai trị Công quốc Parma, đại hội bồi thường cho Bourbon-Parma [[Công quốc Lucca]] với điều kiện sau khi Maria Ludovica qua đời, Công quốc Parma sẽ được trao trả lại cho người Nhà Bourbon-Parma và người Nhà Bourbon-Parma sẽ trả lại Công quốc Lucca cho Đại công quốc Toscana, điều này chỉ đến vào năm 1847 sau cái chết của Maria Ludovica. | |||
* Vị công tước có chủ quyền cuối cùng của Nhà Borbon-Parma chính là [[Roberto I xứ Parma]], lên kế vị sau khi cha mình là [[Carlo III của Parma]] bị ám sát vào năm 1854, lúc đó ông mới 6 tuổi. Chỉ 5 năm sau, khi Roberto được 11 tuổi thì ông bị phế truất và lãnh thổ của ông bị Vua [[Vittorio Emanuele II của Ý|Vittorio Emanuele II]] của [[Vương tộc Savoia]] sáp nhập và tạo ra [[Vương quốc Ý]]. | |||
* Năm 1919, [[Felice xứ Bourbon-Parma]] (người con thứ 6 và con trai thứ 3 của vị Công tước bị phế truất [[Roberto I xứ Parma]] và [[Maria Antónia của Bồ Đào Nha]], con gái út của [[Miguel I của Bồ Đào Nha]]) đã kết hôn với Nữ đại công tước [[Charlotte của Luxembourg]], em gái của Marie-Adélaïde (qua đời không lập gia đình), bà là con gái thứ 2 của [[Wëllem IV của Luxembourg]] và hậu duệ của họ là [[Jean của Luxembourg]] và con của ông, [[Henri của Luxembourg]] mang họ [[Vương tộc Borbone-Parma|Bourbon-Parma]]. Bourbon-Parma trị vì Luxembourg cho đến tận ngày nay. | |||
<hr> | |||
Nhà Bourbon-Parma sảng sinh ra 10 vị quân chủ cai trị, trong đó có 5 vị Công tước xứ Parma, 2 vị vua Etruria, 1 vị Công tước Lucca và 2 vị Đại công tước Luxembourg: | |||
* '''[[Công quốc Parma|Công tước xứ Parma]]''': [[Filippo I xứ Parma|Filippo I]] (1748-1765); [[Ferdinando I xứ Parma|Ferdinando I]] (1765-1802); [[Carlo II xứ Parma|Carlo II]] (1847-1849) (trước đó là vua Etruria với vương hiệu Ludovico II và Công tước xứ Lucca với vương hiệu Carlo Ludovico); [[Carlo III xứ Parma|Carlo III]] (1849-1854); [[Robeto I xứ Parma]] (1854-1859). | |||
* '''[[Vương quốc Etruria|Vua của Etruria]]''': [[Ludovico I của Etruria|Ludovico I]] (1801-1803); [[Carlo II xứ Parma|Ludovico II]] (1803-1807), sau trở thành Công tước xứ Lucca và Công tước xứ Parma. | |||
* '''[[Công quốc Lucca|Công tước xứ Lucca]]''': [[Carlo II xứ Parma|Carlo Ludovico]] (1824-1847), trước đó là Vua Ludovico II của Etruria sau là Công tước Carlo II xứ Parma. | |||
* '''[[Luxembourg|Đại công tước xứ Luxembourg]]''': [[Jean của Luxembourg]] (1964-2000); [[Henri của Luxembourg]] (2000-Nay). | |||
===Ludovico I=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Chế độ tổng tài Pháp|TỔNG TÀI PHÁP]] & [[Đệ Nhất Đế chế Pháp|ĐỆ NHẤT ĐẾ CHẾ PHÁP]]<hr>[[Vương quốc Etruria]] <br> (1801 - 1807)}}||colspan="1"|{{center|[[File:Etrurian Kingdom and War Flag with Great Royal Coat of Arms.svg|center|130px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Ildoa govt.png|center|58px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Ludovico I của Etruria|Vua Ludovico I]]<br> (1801 - 1803)}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị vua đầu tiên của Etruria, quân chủ thứ 11 của Toscana-Etruria}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 Francescone Ludovico I of Etruria - 1803.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 Francescone [[Ludovico I của Etruria|Ludovico I]] - 1803<hr>222 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Luis de Etruria.jpg|120px]]<br>1801 - 1803<hr>'''[[XF-AU]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[41,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[93,4%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,5 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[25,685]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[48.200]]<hr>6.000.000<br> [[(241,0$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#fbd"|LUDOVICO I | |||
|- | |||
|style="background:LemonChiffon;"| | |||
Ludovico (1773-1803) sinh ra là người thừa kế của [[Công quốc Parma]], nhưng sau đó công quốc đã bị [[Đệ Nhất Cộng hòa Pháp]] sáp nhập vào năm 1796. Để lôi kéo [[Vương quốc Tây Ban Nha|Tây Ban Nha]] về phía mình cùng chống lại Anh, [[Chế độ tổng tài Pháp|Đệ nhất tổng tài Pháp]] là [[Napoleon Bonaparte]] ký kết [[Hiệp ước Aranjuez (1801)]] với Tây Ban Nha, trong đó tạo ra [[Vương quốc Etruria]] từ lãnh thổ cũ của [[Đại công quốc Toscana]] và trao nó cho Ludovico, xem như bồi thường việc gia đình ông mất Công quốc Parma. Nhưng trên thực tế thì Tây Ban Nha phải chuyển cho Pháp [[Louisiana (Tân Tây Ban Nha)|Tỉnh Louisiana]] để đổi lấy 6 tàu chiến và lãnh thổ Toscana. Đại công tước [[Ferdinando III xứ Toscana]] thoái vị và rời lãnh thổ của mình và được đền bù bằng [[Tuyển hầu xứ Salzburg]].<hr> | |||
Do sức khoẻ yếu nên ông chỉ trị vì vương quốc mới được 3 năm thì qua đời, con trai của ông là [[Carlo II xứ Parma|Thái tử Carlo]] lúc đó mới 4 tuổi lên kế vị ngai vàng dưới sự nhiếp chính của vợ ông là [[María Luisa Josefina của Tây Ban Nha|Vương thái hậu María Luisa Josefina]].<hr> | |||
[[Tập tin:Maria Luisa of Spain, queen of Etruria and duchess of Lucca.jpg|thumb|100px|Vương hậu [[María Luisa Josefina của Tây Ban Nha]]]] | |||
Trong thời gian cầm quyền ở Firenze, Thái hậu María Luisa Jossefina đã cố gắng giành được sự ủng hộ của thần dân, nhưng việc cai trị Etruria của thái hậu đã bị chấm dứt bởi [[Napoléon Bonaparte|Hoàng đế Napoleon I]], người đã buộc Thái hậu phải rời đi cùng các con của mình vào tháng 12 năm 1807. Theo một phần của [[Hiệp ước Fontainebleau (10/1807)|Hiệp ước Fontainebleau]], Napoléon đã hợp nhất Etruria dưới quyền cai trị của [[Đệ Nhất Đế chế Pháp]]. Năm 1809, hoàng đế cho tái lập Đại công quốc Toscana và trao tước vị đó cho em gái của mình là [[Élisa Bonaparte]] (chỉ nhận tước vị chứ không cai trị).<hr> | |||
Sau khi Hoàng đế [[Napoleon I]] thua trận và thoái vị, [[Đại hội Viên]] đã phục hồi lại [[Đại công quốc Toscana]] cho Nhà Habsburg-Lorraine. Trong khi đó Công quốc Parma lại không được bồi hoàng cho Nhà Bourbon-Parma, thay vào đó được bồi thường [[Công quốc Lucca]]. Lãnh thổ [[Công quốc Parma]] được trao lại cho vợ của Hoàng đế Napoleon là [[Maria Ludovica của Áo]], bà được phép cai trị trọn đời, sau khi chết sẽ trả về cho hậu duệ của Ludovico vào năm 1847.<hr> | |||
Thời thơ ấu, trong lần vui chơi cùng em gái, đầu của ông bị đập đầu vào bàn đá cẩm thạch khi chơi với Carolina, và sau đó bị [[động kinh]]. Từ đó sức khoẻ của ông luôn yếu và hay bệnh. Năm 1803, ở tuổi 29 ông qua đời cũng từ một cơn động kinh. Chứng bệnh của ông tương tự như của '''''[[Giáo hoàng Piô IX]]''''', ông cũng chết vì động kinh.<hr> | |||
Ludovico kết hôn với Maria Luisa khi bà chỉ mới 13 tuổi, và đứa con đầu lòng của bà phải 4 năm sau mới chào đời. Từ năm 1803-1807, bà trở thành nhiếp chính vương cho con trai của bà là [[Carlo II xứ Parma|Ludovico II]] lúc đó mới 4 tuổi. Sau đó Hoàng đế Napoleon đã thâu tóm Etruria nhập vào Pháp và đến năm 1809, rồi phong cho em gái của mình là [[Elisa Bonaparte]] làm nữ đại công tước (Tuscany được Pháp sáp nhập từ năm 1807 đến năm 1814. Elisa Bonaparte được trao tặng danh hiệu danh dự là Nữ đại công tước xứ Tuscany, nhưng thực tế bà không cai trị khu vực này). Napoleon đã hứa sẽ bồi thường Bắc Lusitania (ở phía Bắc Bồ Đào Nha) nhưng điều này đã không bao giờ thành hiện thật. <hr> | |||
[[Tập tin:Empress Marie Louise of the French.jpg|thumb|100px|[[Maria Ludovica của Áo|Hoàng hậu Maria Ludovica]] vợ của Napoleon I]] | |||
Napoleon đã tìm cách thôn tính Tây Ban Nha và trao vương quyền lại cho anh trai của mình là [[Joseph Bonaparte]], cả vợ và gia đình vợ, gồm có vua Carlos IV và Fernando VII đều đến sống lưu vong ở Pháp dưới sự giám sát của triều đình Napoleon. Vợ của ông đã không ngừng chống đối Napoleon, điều này đã dẫn đến việc bà bị giam cầm ở một tu viện trong thành Rome, Ý suốt 4 năm. Đến khi đế chế của Napoleon xụp đỗ. [[Đại hội Viên]] đã không trả lại [[Công quốc Parma]] cho con trai bà mà trao nó cho vợ của Napoleon là [[Maria Ludovica của Áo]]. Bà đã cầu cứu anh trai, Giáo hoàng và Sa hoàng Nga, cuối cùng đại hội đã bồi thường cho bà bằng [[Công quốc Lucca]] nhỏ hơn. Bà đã không chịu thoả thuận và tiếp tục đấu tranh trong 2 năm nữa. Cuối cùng Hiệp ước Paris năm 1817 đã quyết định sẽ trao Công quốc Parma lại cho con trai của bà nếu Maria Ludovica qua đời, điều này đã xảy ra vào năm 1847.<hr> | |||
[[María Luisa Josefina của Tây Ban Nha]]: Con gái thứ 3 của vua [[Carlos IV của Tây Ban Nha]], em gái của vua [[Fernando VII của Tây Ban Nha]], vì thế bà giữ vị trí '''Vương nữ Tây Ban Nha''' từ năm 1782-1795; Bà là vợ của Ludovico, Công tử kế vị Parma nên trở thành '''Công tử phi xứ Parma''' từ năm 1795-1801; Từ năm 1801-1803 và trở thành '''Vương hậu của Etruria'''; Từ năm 1803-1807 bà là '''Vương thái hậu kiêm nhiếp chính vương''' cho con trai là Ludovico II; Từ năm 1815-1824, bà là '''Nữ công tước cai trị xứ Lucca'''. | |||
|} | |||
|} | |||
==📕 VƯƠNG QUỐC HAI SICILIA== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#ccf"|[[Tập tin:Great Royal Coat of Arms of the Two Sicilies.svg|50px]] | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|VƯƠNG TỘC BOURBON-HAI SICILIE | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
[[File:Two Sicilies at the time of The Leopard.svg|thumb|250px|Vương quốc Hai Sicilia]] | |||
[[Vương tộc Borbone-Hai Sicilie]] là một dòng của Nhà Bourbon-Tây Ban Nha và vì thế nó trở thành một chi nhánh của [[Vương tộc Bourbon|Nhà Bourbon-Pháp]]. Vương tộc này cai trị 2 [[Vương quốc Napoli|Vương quốc Napoli]] và [[Vương quốc Sicilia|Sicilia]] từ năm 1759, sau đó 2 vương quốc này hợp nhất với tên gọi [[Vương quốc Hai Sicilia]] và họ tiếp tục cai trị cho đến năm 1861 thì bị lật đổ, lãnh thổ bị sáp nhập vào [[Vương quốc Ý]] của [[Nhà Savoia]].<hr> | |||
Vương tộc này được lập ra bởi [[Ferdinando I của Hai Sicilie|Vương tử Ferdinando]], con trai thứ 3 của Vua [[Carlos III của Tây Ban Nha|Carlos III]] và [[Maria Amalia của Ba Lan]] (vì thế ông là cháu nội của Vua [[Felipe V của Tây Ban Nha]], em trai của Vua [[Carlos IV của Tây Ban Nha]], gọi [[Filippo I xứ Parma]] - ông tổ của dòng Burbon-Parma là chú). Sau khi cha của ông là Carlo được thừa kế ngai vàng Tây Ban Nha năm 1759, cha ông đã rời Napoli để về Madrid và để lại Ferdinando lúc đó mới 8 tuổi thừa kế cả 2 ngai vàng, cai trị thông qua một hội đồng nhiếp chính, đây là dấu mốc tạo ra Vương tộc Bourbon-Hai Sicilia. | |||
* Năm 1806, quân Pháp chiếm đóng [[Vương quốc Napoli]] và [[Napoleon I|Hoàng đế Napoleon I]] đã đưa anh trai của mình là [[Joseph Bonaparte]] lên làm vua, gia đình hoàng gia Bourbon-Hai Sicilie đã chạy đến [[Vương quốc Sicilia]] và vẫn giữ vững vương quốc này cho đến hết [[Chiến tranh Napoleon]] dưới sự hỗ trợ của Hải quân hoàng gia Anh. Năm 1808, Joseph được đưa lên làm vua Tây Ban Nha, ngai vàng Napoli được kế thừa bởi [[Joachim Murat]], em rể của Napoleon. [[Đại hội Viên]] đã trao trả vương quốc Napoli lại cho Ferdinando và đến năm 1816 thì 2 vương quốc Napoli và Sicilia được hợp nhất trở thành Vương quốc Hai Siclia. | |||
* Năm 1860, Vua [[Vittorio Emanuele II của Ý|Vittorio Emanuele II]] đã quyết định xâm lược [[Lãnh địa Giáo hoàng]] và sau khi chiếm đóng Umbria và Marche, ông đã tiến vào Vương quốc Hai Sicilie. Quân đội của Garibaldi đã đánh bại những người theo chủ nghĩa bảo hoàng Neapolitan trong [[Trận Volturno]], diễn ra vào ngày 1 tháng 10 năm 1860. Francesco II và vợ [[Maria Sophie xứ Bayern]] (con gái thư 3 của [[Maximilian Joseph xứ Bayern]], vì thế là em gái của Hoàng hậu [[Elisabeth xứ Bayern|Elisabeth của Áo]]) đã chiến đấu ngoan cường cho đến 13 tháng 2 năm 1861, sau khi [[Gaeta]] bị thất thủ. Do đó, Vương quốc Hai Sicilia không còn tồn tại nữa, và lãnh thổ của nó được sáp nhập vào Vương quốc Sardinia (sớm đổi tên thành [[Vương quốc Ý]]), và Francesco II bị phế truất. | |||
* Tất cả hậu duệ trực hệ hiện nay của Nhà Borbon-Hai Sicilia đều đến từ Vương tử [[Alfonso xứ Caserta|Alfonso, Bá tước xứ Caserta]], em trai của Francesco II, vì vị vua này chỉ có 2 người con gái nhưng qua đời từ khi còn nhỏ. | |||
* Nhà Bourbon-Hai Sicilia sản sinh ra 4 vị quân chủ, gồm có: [[Ferdinando I của Hai Sicilie|Ferdinando I]] (1759-1816 và 1816-1825); [[Francesco I của Hai Sicilie|Francesco I]] (1825-1830); [[Ferdinando II của Hai Sicilie|Ferdinando II]] (1830-1859) và [[Francesco II của Hai Sicilie|Francesco II]] (1859-1861). | |||
|- | |||
! style="background:#ccf"|[[Tập tin:Great coat of arms of Rothschild family.svg|50px]] | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|Chi nhánh Ý của Gia tộc Rothschild <br> (1821 - 1863) | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
'''Chi nhánh Napoli của Gia tộc Rothschild bắt đầu dưới thời [[Ferdinando I của Hai Sicilie]], phát triển dưới thời vua [[Ferdinando II của Hai Sicilia|Ferdinando II]] và kết thúc sau sự xụp đổ của vua [[Francesco II của Hai Sicilie|Francesco II]]''' | |||
* Vào tháng 3 năm 1821, để ủng hộ Vua [[Ferdinando I của Hai Sicilie]], quân đội Áo đã tiến vào Vương quốc Sicilia và chiếm đóng Napoli. Sự kiện này đã mở ra cánh cửa cho lợi ích của [[Gia tộc Rothschild]] và [[Carl von Rothschild]] được cử đến Napoli, nơi ông thành lập C M de Rothschild & Figli để hoạt động như một văn phòng vệ tinh cho gia đình ngân hàng Rothschild của trụ sở chính tại Đức tại [[Thành bang tự do Frankfurt]]. Sản sinh ra chi nhánh Napoli của gia tộc này. | |||
* Carl von Rothschild đã phát triển mối quan hệ làm việc tốt với [[Luigi de' Medici]] (Bộ trưởng Tài chính), và hoạt động của ông đã trở thành ngân hàng thống trị ở Napoli. Nhờ thành công của Carl, gia tộc Rothschild đã có sự hiện diện đáng kể trong lĩnh vực ngân hàng ở Anh và ba thủ đô lớn khác của châu Âu, mang lại cho gia tộc này ảnh hưởng đáng kể và lợi thế hơn so với các đối thủ cạnh tranh. | |||
* Năm 1829, ông được bổ nhiệm làm tổng lãnh sự của Sicily tại [[Thành bang tự do Frankfurt]] và vào tháng 1 năm 1832, nhà tài chính người Do Thái này đã được trao tặng [[Huân chương quân sự Constintinia của Thánh George]]. | |||
* Các báo cáo cho rằng Carl von Rothschild được phép hôn tay [[Giáo hoàng Grêgôriô XVI]], thay vì hôn chân, như thông lệ vào thời điểm đó, đã dẫn đến tranh cãi trong thế giới Công giáo rằng '''''Giáo hoàng đang bán Rome cho "một người Do Thái"'''''. | |||
* Ngân hàng, C M de Rothschild & Figli, đã sắp xếp các khoản vay đáng kể cho [[Lãnh địa Giáo hoàng]] và Vua của Hai Sicilia cùng với [[Công quốc Parma]] và [[Đại công quốc Toscana]]. Tuy nhiên, vào những năm 1830, Napoli đã đi theo Tây Ban Nha với sự thay đổi dần dần khỏi các vấn đề trái phiếu thông thường bắt đầu ảnh hưởng đến sự tăng trưởng và lợi nhuận của ngân hàng. Trong nửa sau của những năm 1840, hoạt động kinh doanh không có sự tăng trưởng và chỉ có lợi nhuận ở mức thấp. | |||
* Sự kết thúc của chi nhánh Napoli bắt đầu khi cuộc cách mạng nổ ra và [[Giuseppe Garibaldi]] chiếm được Napoli vào ngày 7 tháng 9 năm 1860 và thành lập một chính phủ lâm thời. Do mối quan hệ chính trị chặt chẽ của gia đình với Áo và Pháp, [[Adolphe Carl von Rothschild]] đã bị mắc kẹt trong một tình thế khó khăn. Ông đã chọn nơi ẩn náu tạm thời ở [[Gaeta]] với vua [[Francesco II của Hai Sicilie]] nhưng các chi nhánh Rothschild ở London, Paris và Vienna không chuẩn bị hỗ trợ tài chính cho vị vua bị phế truất. Với sự thống nhất sau đó của Ý và căng thẳng gia tăng giữa Adolf và những người còn lại trong gia đình, sau 42 năm kinh doanh, Chi nhánh Napoli đã đóng cửa vào năm 1863. | |||
<hr> | |||
=== Ferdinando II=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Vương quốc Hai Sicilia|VƯƠNG QUỐC HAI SICILIA]] <br> (1816 - 1861) <hr> [[Nhà Bourbon-Hai Sicilia]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of the Kingdom of the Two Sicilies (1816).svg|center|130px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Great Royal Coat of Arms of the Two Sicilies.svg|center|52px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Ferdinando II của Hai Sicilia|Vua Ferdinando II]]<br> (1830 - 1859)}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị quân chủ thứ 3 và áp chót của Hai Sicilia đến từ Nhà Bourbon-Hai Sicilia}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:120 Grana of Two Sicilia 1834.png|center|700px]]<hr>{{center|''' 120 grana [[Ferdinando II của Hai Sicilia|Ferdinando II]] - 1834<hr>191 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Ferdinando ii (1).jpg|120px]]<br>1831 - 1835<hr>'''[[AU]]'''}}|| {{center|'''Đường kính''' <br>[[37,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[83,3%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,53 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,777 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[71%]]<hr>2.000.000<br>[[(85,84$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:120 grana Ferdinando II of Two Sicilia - 1853.png|center|700px]]<hr>{{center|''' 120 grana [[Ferdinando II của Hai Sicilia|Ferdinando II]] - 1853<hr>172 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Ferdinando ii (1).jpg|120px]]<br> 1851 - 1859<hr>'''[[AU]]'''}}|| {{center|'''Đường kính''' <br>[[37,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[83,3%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,53 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,777 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[8%]]<hr>2.000.000<br>[[(85,84$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#fbd"|FERDINANDO II | |||
|- | |||
|style="background:LemonChiffon;"| | |||
Em trai của Ferdinando II, [[Charles Ferdinand, Thân vương xứ Capua]] đã phớt lờ sự ngăn cấm của ông để lấy một phụ nữ thường dân người Anh-Ireland, chính hành động '''Quý tiện kết hôn''' này của em trai, ông đã cạch mặt và không bao giờ tha thứ, người em trai phải sống lưu vong ở nước ngoài cho đến cuối đời. (Trường hợp này có thể liên hệ với cuộc hôn nhân thứ 2 của [[Karl Friedrich xứ Baden]], [[Jérôme Bonaparte]] hay [[Edward VIII của Anh]])<hr> | |||
[[Charles Ferdinand, Thân vương xứ Capua]] là con trai cả của Francis I và người vợ thứ 2 Maria Isabella của Tây Ban Nha, vì thế mối quan hệ của ông với Vua Ferdinando II chỉ là anh em cùng cha khác mẹ. Vì bố mẹ của nhà vua yêu thương Thân vương xứ Capua hơn, nên ông đã bất bình và mối quan hệ giữa hai người trở nên căng thẳng. <hr> | |||
Từ tháng 03-06/1829, chính phủ Napoli đã đưa Thân vương xứ Capua ra ứng cử lên ngai vàng Hy Lạp, nhưng thất bại vì sự phản đối của [[Klemens von Metternich|Matternich]]. Năm 1831, ông lại được ứng cử để trở thành Vua của Bỉ. | |||
|} | |||
|} | |||
==📕 VƯƠNG QUỐC SARDINIA== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#ccf"|[[File:Lesser coat of arms of the Kingdom of Italy (1890) (alternate).svg|40px]] | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|TRIỀU ĐẠI SAVOY | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
Triều đại Savoia được lập ra bởi [[Humbert xứ Savoia|Humbert Tay trắng]] (Humbert the White-Handed) vào năm 1032 khi ông được Hoàng đế [[Konrad II của Thánh chế La Mã]] phong làm [[Danh sách Bá tước và Công tước xứ Savoia|Bá tước xứ Savoia]]. Hành động phong thưởng của hoàng đế đến từ việc Humbert thề trung thành với hoàng quyền của ông.<hr> | |||
Năm 1416, [[Amadeus VIII xứ Savoia|Amadeus VIII]], vị bá tước thứ 19 của xứ Savoia được Hoàng đế [[Sigismund của Thánh chế La Mã]] nâng lên làm [[Công quốc Savoia|Công tước xứ Savoia]]. Năm 1418, người anh họ xa của ông là [[Ludovico xứ Piedmont]] qua đời mà không có người thừa tự, vì thế mà tài sản và [[Thân vương xứ Piedmont|Lãnh địa Piedmont]] được thừa kế bởi Amadeus VIII. Cũng trong giai đoạn này, Piedmont được nâng lên thành thân vương quốc và nó trở thành tước phong của người con trai trưởng thừa kế Công quốc Savoia.<hr> | |||
Năm 1713, sau [[Chiến tranh Kế vị Tây Ban Nha]], Vị công tước thứ 15 xứ Savoia (quân chủ thứ 33 của Nhà Savoia) là [[Vittorio Amedeo II xứ Savoia|Vittorio Amedeo II]] được ban thưởng [[Vương quốc Sicilia]], nhưng đến năm 1720 ông buộc phải đổi Sicilia để lấy [[Vương quốc Sardegna]]. Vittorio là người đầu tiên của Nhà Savoia có được vương quyền hoàng gia. Trị vì trong hơn 55 năm, ông là vị vua trị vì lâu nhất trong lịch sử Savoyard.<hr> | |||
Năm 1861, vị vua thứ 8 của Sardegna và công tước thứ 23 xứ Savoia (vị quân chủ thứ 41 của Nhà Savoia) là [[Vittorio Emanuele II của Ý|Vittorio Emanuele II]] trở thành vua của [[Vương quốc Ý]]. Đến năm 1871, ông sáp nhập [[Lãnh địa Giáo hoàng]], chính thức thống nhất Ý. Các vị vua của Vương tộc Savoia trị vì Vương quốc Ý thống nhất cho đến hết Thế chiến thứ hai - 1946 thì bị lật đổ và thay thế bằng chế độ cộng hòa. <hr> | |||
===Carlo Felice=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Vương quốc Sardegna|VƯƠNG QUỐC SARDEGNA]]<br> (1323 - 1861)<hr>[[Vương tộc Savoia|Triều đại Savoia]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:State Flag and War Ensign of the Kingdom of Sardinia (1816-1848).svg|125px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Greater coat of arms of the Kingdom of Sardinia (1833-1848).svg|center|77px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Carlo Felice của Sardegna|Vua Carlo Felice]] <br>(1821 - 1831)}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị vua thứ 23 của Vương quốc Sardinia và thứ 6 đến từ Nhà Savoia}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:5 Lire - Carlo Felice 1827L.png|center|700px]]<hr>{{center|'''5 lire [[Carlo Felice của Sardegna|Carlo Felice]] - 1827 L<hr>198 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Ritratto di Carlo Felice - Google Art Project.jpg|100px]]<br>'''1821 - 1831<hr>[[AU]]'''}}|| {{center|'''Đường kính'''<br>[[37,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[25,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[22,5 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[723.999]]<hr>3.400.000<br>[[(133,86$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|} | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#fbd"|CARLO FELICE | |||
|- | |||
|style="background:LemonChiffon;"| | |||
* '''Carlo Felice''' là [[Danh sách quân chủ Sardegna|Vua của Sardegna]] và là người cai trị [[Các nhà nước Savoyard]] từ ngày 12 tháng 3 năm 1821 cho đến khi qua đời vào năm 1831. Vì không có con thừa tự nên Felice trở thành vị quân chủ cuối cùng thuộc dòng dõi nam của [[Vương tộc Savoia]] bắt nguồn từ [[Vittorio Amedeo I xứ Savoia|Vittorio Amedeo I]]. Sau cái chết của Felice, ngai vàng được thừa kế bởi [[Carlo Alberto I của Sardegna|Thân vương Carlo Alberto xứ Carignano]], hậu duệ đời thứ 5 của [[Tommaso Francesco của Savoia|Hoàng thân Tommaso Francesco]], người đã lập ra [[Vương tộc Savoia-Carignano|dòng Savoia-Carignano]] và là em trai của Vittorio Amedeo I. Sau Carlo Felice, chưa đến 3 thập kỷ nữa thì triều đại Savoia sẽ thống nhất Ý để lập ra [[Vương quốc Ý]].<hr> | |||
* Trong giai đoạn 1799-1814, ông được anh trai Vittorio Emanuele I của Sardegna bổ nhiệm làm phó vương và nắm toàn quyền cai trị Vương quốc Sardegna. Vì thế Carlo Felice trên thực tế là một nhà cai trị trong kỷ nguyên Napoleon.<hr> | |||
* Ông là người con thứ 11 và là con trai thứ 5 của [[Vittorio Amedeo III của Sardegna|Vittorio Amedeo III xứ Savoia]] và [[María Antonia Fernanda của Tây Ban Nha]]. Ông bà nội của ông là [[Carlo Emanuele III của Sardegna]] và người vợ Đức [[Polyxena xứ Hessen-Rotenburg]]. Ông bà ngoại của ông là Vua [[Felipe V của Tây Ban Nha]] và người vợ thứ 2 gốc Ý của ông, [[Elisabeth Farnese]], nữ thừa kế của [[Công quốc Parma]]. Vì thế ông gọi vua [[Carlos III của Tây Ban Nha]], công tước [[Filippo I xứ Parma]], [[María Teresa Rafaela của Tây Ban Nha|Thái tử phi Maria Teresa của Pháp]], [[Mariana Victoria của Tây Ban Nha|Vương hậu Mariana Victoria của Bồ Đào Nha]] là bác (cậu và dì bên ngoại), vì mẹ ông là con gái út.<hr> | |||
* '''''Tuy cha của Carlo Felice có đến 12 người con, trong đó có 7 con trai, ngai vàng lần lượt truyền qua 3 người con trai, nhưng không có người con nào có con thừa tự, kết quả cuối cùng là phải để ngai vàng lại cho một người họ hàng xa thuộc [[Vương tộc Savoia-Carignano|dòng Savoia-Carignano]]'''''.<hr> | |||
* Ông cũng là em trai của 2 vị vua nối tiếp nhau của Sardegna là [[Carlo Emanuele IV của Sardegna]] và [[Vittorio Emanuele I của Sardegna]], cả 2 anh trai ông đều ông có người thừa kế nam, nên mới nhường ngôi cho ông, đến lược ông cũng không có con nên đã phải để ngai vàng lại cho người họ hàng xa thuộc dòng Savoia-Carignano.<hr> | |||
* '''[[Tính nhân đạo]]''' Trong cuộc Cách mạng 1821 dẫn đến sự thoái vị của anh trai ông là Vittorio Emmanuel, ngai vàng được nhường lại cho ông, nhưng ông đã quyết liệt chống lại cuộc cách mạng đến cùng để bảo vệ quyền cai trị chuyên chế. Khi kiểm soát được tình hình, ông đã khép tội tử hình 95 người, tuy nhiên chính quyền hoàng gia, đặc biệt là thống đốc Genoa, [[Giorgio Des Geneys]], đã không ngăn cản những người phản loạn chạy trốn. Trong số những người bị kết án, chỉ có 2 người bị hành quyết. Carlo Felice không bao giờ ngăn cản bất kỳ ai bí mật chuyển tiền trợ cấp cho những người bị kết án đã lưu vong và Angelo Brofferio báo cáo rằng khi nhà vua phát hiện ra rằng một trong những khoản trợ cấp này sẽ được chuyển cho gia đình của một trong hai cá nhân đã bị hành quyết vào năm 1821, nhà vua đã tăng gấp đôi số tiền.<hr> | |||
* Carlo Felice là một người phản động thực sự, tin rằng thế giới sẽ sớm được quét sạch khỏi tất cả những điều đó - theo quan điểm của ông - những cải tiến độc ác và phạm thánh do [[Cách mạng Pháp]] đưa ra và được [[Napoleon Bonaparte]] "kẻ vô lại" như cách mà ông gọi.<hr> | |||
* [[Teatro Carlo Felice]] ở [[Genoa]] được đặt theo tên ông. Con đường chính của đảo [[Sardegna]], [[Strada statale 131 Carlo Felice]], nối liền [[Cagliari]] và [[Sassari]]-[[Porto Torres]], được xây dựng vào thế kỷ XIX, được đặt theo tên ông. Ở cuối con đường Cagliari có một bức tượng của ông, chỉ tay về phía thành phố. Đây là biểu tượng tiêu biểu cho lễ kỷ niệm của người hâm mộ CLB bóng đá [[Cagliari Calcio]], được trang hoàng bằng áo choàng và cờ mang màu đỏ và xanh của đội bất cứ khi nào đội được thăng hạng hoặc thoát khỏi xuống hạng. | |||
|} | |||
==📕 VƯƠNG QUỐC Ý== | |||
===Vittorio Emanuele II=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Vương quốc Ý|VƯƠNG QUỐC Ý]]<br> (1861 - 1946) <hr> [[Nhà Savoy]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Italy (1861-1946) crowned.svg|center|125px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of the Kingdom of Italy (1890).svg|center|52px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Vittorio Emanuele II của Ý|Vua Vittorio Emanuele II]] <br>(1861 - 1878)}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị vua đầu tiên của Vương quốc Ý thống nhất}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:5 Lire - Victor Emmanuel II 1871 BN.png|center|700px]]<hr>{{center|'''5 lire [[Vittorio Emanuele II của Ý|Victor Emmanuel II - MBN]] - 1871<hr>154 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Ugolini̠-Ritratto di Re Vittorio Emanuele II.jpg|120px]]<br>'''1861 - 1878<hr>[[XF]]'''}}|| {{center|'''Đường kính'''<br>[[37,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[25,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[22,5 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[6.796.534]]<hr>1.500.000 <br>[[(67,27$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:5 lire Victor Emmanuel II - MBN - 1877.png|center|700px]]<hr>{{center|'''5 lire [[Vittorio Emanuele II của Ý|Victor Emmanuel II]] - 1877 R<hr>148 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Ugolini̠-Ritratto di Re Vittorio Emanuele II.jpg|120px]]<br>'''1861 - 1878<hr>[[AU]]'''}}|| {{center|'''Đường kính'''<br>[[37,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[25,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[22,5 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[4.409.657]]<hr>1.711.000<br>[[(72,81$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:LightCoral;"|VITTORIO EMANUELE II | |||
|- | |||
|style="background:LemonChiffon;"| | |||
Vua Victorio Emanuele II sau khi xoá bỏ [[Lãnh địa Giáo hoàng]], xáp nhập lãnh thổ vào Vương quốc Ý, Giáo hoàng Piô IX đã ra vạ tuyệt thông đối với nhà vua. Victorio Emanuele II mất trước [[Giáo hoàng Piô IX]] chỉ 27 ngày, trước khi nhà vua qua đời, Giáo hoàng đã cử người đại diện của mình đến để gỡ bỏ vạ tuyệt thông và cữ hành thánh lễ cho nhà vua.<hr> | |||
Trong [[Chiến tranh Áo-Phổ]] năm 1866, Vua Vittorio Emmanuel II trở thành đồng minh của Vua Phổ Wilhelm I. Vì Áo nắm giữ [[Veneto]] và các vùng lãnh thổ nhỏ hơn khác mà Ý muốn có để thúc đẩy quá trình thống nhất Ý. Để đổi lấy sự hỗ trợ của Ý chống lại Áo, Thủ tướng Bismarck đồng ý không ký kết một hiệp ước hòa bình riêng cho đến khi Ý giành được Veneto. Chiến tranh kết thúc sau 7 tuần, phàn thắng thuộc về Phổ, [[Hòa ước Prague (1866)]] được ký kết, trong đó, Veneto thuộc về Ý, dù quân Ý không giành được chiến thắng nào trên chiến trường. | |||
|} | |||
|} | |||
==📕 PAPAL STATE & VATICAN== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#ccf"|[[File:Papal Arms shield.svg|70px]] | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|LÃNH ĐỊA GIÁO HOÀNG | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
[[Lãnh địa Giáo hoàng]] chính thức ra đời dưới thời của [[Giáo hoàng Stêphanô II]], khi ông phong cho [[Pépin Lùn]] danh hiệu ''"Patrician of the Romans"''. Pepin đã dẫn đầu một đội quân Frank tiến vào [[Bán đảo Ý]] vào năm 754 và 756. Pepin đã đánh bại người [[Lombard]] - nắm quyền kiểm soát miền bắc Ý - và dâng tặng cho Giáo hoàng những tài sản trước đây thuộc về ''[[Exarchatus Ravennatis]]'' (lãnh thổ mà Đế quốc Đông La Mã'' kiểm soát ở Ý), lịch sử gọi là ''[[Hiến tặng của Pepin]]''. Trước đó, năm 751, [[Giáo hoàng Dacaria]] đã phong cho [[Pépin Lùn]] làm vua thay cho vị vua bù nhìn của [[Vương triều Merovee]] [[Childeric III]]. '''''Lãnh địa Giáo hoàng tồn tại trong 1.114 năm (756 - 1870), trải qua 163 đời giáo hoàng, từ giáo hoàng đời thứ 92 là [[Giáo hoàng Stêphanô II|Stêphanô II]] đến giáo hoàng thứ 255 là [[Giáo hoàng Piô IX|Piô IX]]'''''<hr> | |||
Năm 781, [[Charlemagne]] đã hệ thống hoá các khu vực mà [[Giáo hoàng]] sẽ được trao chủ quyền: [[Công quốc Roma]] là trung tâm và là thủ phủ của các Giáo hoàng, nhưng lãnh thổ sau đó được mở rộng ra bao gồm Ravenna, [[Công quốc Pentapolis]], [[Công quốc Benevento]], [[Toscana]], [[Corse]], [[Lombardy]], và một số thành phố của Ý. Sự hợp tác đôi bên cùng có lợi giữa Giáo hoàng và triều đại Carolingian lên đến đỉnh điểm vào năm 800, khi [[Giáo hoàng Lêô II]] phong cho [[Charlemagne]] làm ''Hoàng đế của người La Mã''.<hr> | |||
'''[[Thời kỳ tiền Lãnh địa Giáo hoàng]]''' | |||
* Từ thế kỷ I đến thế kỷ III, Giáo hội bị [[Đế chế La Mã]] đàn áp và không được công nhận, không thể giữ hoặc chuyển nhượng tài sản. Hệ thống này bắt đầu thay đổi dưới thời trị vì của [[Constantinus Đại đế]] (306-337), người đã công nhận sự hợp pháp của Cơ đốc giáo trong Đế chế La Mã, và trao trả lại bất kỳ tài sản nào đã bị tịch thu trước đó. Cung điện Lateran là khoản quyên góp mới quan trọng đầu tiên cho Nhà thờ, đây có lẽ là một món quà từ chính Constantinus Đại đế. Các khoản quyên góp sau đó chủ yếu nằm trên Bán đảo Italia, nhưng một số khác cũng có ở các tỉnh của Đế chế La Mã. Tuy nhiên, Giáo hội nắm giữ tất cả những vùng đất này như một chủ đất tư nhân, chứ không phải là một thực thể có chủ quyền.<hr> | |||
* Năm 535, dưới thời Hoàng đế [[Justinianus I]] của [[Đế chế Đông La Mã]], ông đã cho đánh chiếm Ý. Đến thế kỷ VII, quyền lực của Byzantine chủ yếu giới hạn trong một dãi chéo chạy từ Ravenna, nơi đặt đại diện của hoàng đế, đến Rome và về phía Nam tới Naples, cộng với các vùng ven biển, được gọi là ''[[Exarchatus Ravennatis]]''. Giáo hoàng với tư cách là chủ đất lớn nhất và là nhân vật có uy tín nhất ở Ý, mặc nhiên bắt đầu đảm nhận phần lớn quyền cai trị mà Byzantine không thể thực hiện ở các khu vực xung quanh thành phố Rome. Trong khi các Giáo hoàng vẫn là "thần dân La Mã". <hr> | |||
* Khi quyền lực của Byzantine suy yếu, Giáo hoàng đảm nhận một vai trò ngày càng lớn trong việc bảo vệ Rome khỏi người Lombard, vì không sở hữu quyền lực quân sự, nên Giáo hoàng chủ yếu đạt được mọi thứ thông qua ngoại giao. Dấu mốc quan trọng nhất trong việc thành lập Nhà nước Giáo hoàng là thoả thuận về ranh giới được thể hiện trong Lễ [[hiến tặng Sutri]] của [[Liutprand, Vua của Lombard|Vua Lombard Liuprand]] (728) cho [[Giáo hoàng Grêgôriô II]]. | |||
<hr> | |||
'''[[Mối quan hệ giữa Lãnh địa Giáo hoàng với Đế chế La Mã Thần thánh]]''' | |||
* Vào thế kỷ IX, [[Đế chế La Mã Thần thánh]] của [[người Frank]] đã sụp đổ khi lãnh thổ của nó đã bị chia nhỏ cho các cháu của [[Charlemagne]]. Quyền lực của hoàng gia ở [[Bán đảo Ý]] suy yếu và uy tín của [[Giáo hoàng]] giảm sút. Điều này dẫn đến sự gia tăng quyền lực của giới [[quý tộc La Mã]] địa phương, và quyền kiểm soát các Lãnh địa Giáo hoàng trong đầu thế kỷ X đã rơi vào tay của một gia đình quý tộc quyền lực và thối nát, [[Bá tước Tusculum|Theophylacti]]. Thời kỳ này sau đó được gọi là [[Saeculum obscurum]] ("thời đại đen tối"), và đôi khi được coi là ''"rule by harlots"''. | |||
* Giữa thế kỷ X, nhà cai trị [[người Đức]] [[Otto I của Thánh chế La Mã|Otto I]] đã chinh phục miền Bắc nước [[Ý]]; [[Giáo hoàng Gioan XII]] đã phong cho ông làm Hoàng đế (người đầu tiên đăng quang sau hơn 40 năm) và hai người đã phê chuẩn [[Văn bằng Ottonianum]], theo đó hoàng đế trở thành người bảo đảm cho nền độc lập của Lãnh địa Giáo hoàng. | |||
* Sau cuộc [[Cái cách Gregorian]] đã giúp giải phóng việc quản lý Giáo hội khỏi sự can thiệp của Đế chế La Mã Thần thánh, từ đó tính độc lập của Lãnh địa Giáo hoàng càng ngày càng tăng lên. Sau khi [[Nhà Staufer|Triều đại Hohenstufen]] bị diệt vong, các hoàng đế Đức hiếm khi can thiệp vào công việc của Ý. Để đối phó với cuộc đấu tranh gữa [[Guelphs và Ghibellines]], [[Hiệp ước Venice]] chính thức công nhận sự độc lập của Lãnh địa Giáo hoàng khỏi [[Đế quốc La Mã Thần thánh]] vào năm 1177. Đến năm 1300, Lãnh địa Giáo hoàng, cùng các công quốc và thân vương quốc trên [[Bán đảo Ý]] đã kiểm soát quyền cai trị độc lập của mình một cách hiệu quả. | |||
<hr> | |||
Từ năm 1305 đến năm 1378, các [[Giáo hoàng]] đều cư trú tại lãnh địa [[Avignon]], được bao quanh bởi [[Provence]] và chịu ảnh hưởng bởi các vị vua Pháp. Thời kỳ này được gọi là "Avignonese" hay "Babylonian Captivity". Thành phố Avignon đã được thêm vào Lãnh địa Giáo hoàng; nó vẫn thuộc sở hữu của các Giáo hoàng trong khoảng 400 năm nữa, ngay cả sau khi các Giáo hoàng quay trở lại [[Rome]]. Avignon bị chiếm giữ và sáp nhập vào nhà nước Pháp trong cuộc [[Cách mạng Pháp]].<hr> | |||
Trong thời [[Phục hưng]], lãnh thổ của Nhà nước Giáo hoàng mở rộng rất nhiều, đặc biệt là dưới thời các [[Giáo hoàng Alexanđê VI]] và [[Giáo hoàng Giuliô II]]. Giáo hoàng trở thành một trong những nhà cai trị thế tục quan trọng nhất của Ý cũng như người đứng đầu [[Giáo hội]], ký kết các hiệp ước với các vị vua khác và chống lại các cuộc chiến tranh. Tuy nhiên, trên thực tế, hầu hết các Lãnh địa Giáo hoàng vẫn chỉ do Giáo hoàng kiểm soát trên danh nghĩa, và phần lớn lãnh thổ được cai trị bởi các thân vương nhỏ. Quyền kiểm soát luôn luôn bị tranh cãi; thực sự thì phải đến thế kỷ XVI, Giáo hoàng mới có quyền kiểm soát thực tế đối với tất cả các lãnh thổ của mình.<hr> | |||
Cuộc [[Cải cách Kháng nghị]] bắt đầu vào năm 1517. Năm 1527, trước khi [[Đế quốc La Mã Thần thánh]] chiến đấu với những người theo đạo [[Tin lành]], quân đội trung thành với [[Karl V của Thánh chế La Mã|Hoàng đế Charles V]] đã cướp phá tàn bạo thành Rome và bỏ tù [[Giáo hoàng Clêmentê VII]], như một kết quả phụ của các cuộc chiến tranh giành Lãnh địa Giáo hoàng. Một thế hệ sau, quân đội của Vua [[Felipe II của Tây Ban Nha]] đã đánh bại quân đội của [[Giáo hoàng Phaolô IV]] vì cùng một vấn đề.<hr> | |||
Vào thế kỷ XVIII, Lãnh địa Giáo hoàng phát triển đến mức cực đại, bao gồm phần lớn miền Trung nước Ý ngày nay - [[Latium]], [[Umbria]], [[Marche]] và các [[Các phân khu hành chính của Lãnh địa Giáo hoàng từ năm 1816 đến 1870|Legation]] của [[Ravenna]], [[Ferrara]] và [[Bologna]] kéo dài về phía Bắc đến [[Romagna]]. Nó cũng bao gồm các vùng đất nhỏ [[Benevento]] và [[Pontecorvo]] ở miền Nam nước Ý, cũng như [[Comtat Venaissin]] lớn hơn xung quanh [[Avignon]] ở miền Nam nước [[Pháp]].<hr> | |||
'''[[Thời đại Napoleon]]''' | |||
* [[Cách mạng Pháp]] đã ảnh hưởng đến các lãnh thổ của [[Giáo hoàng]] cũng như [[Giáo hội La Mã]] nói chung. Năm 1791, sau một cuộc bầu cử ở [[Comtat Venaissin]] và [[Avignon]], lực lượng của Cách mạng Pháp đã chiếm đóng lãnh thổ này. Sau đó, với cuộc xâm lược của [[Đệ Nhất Cộng hòa Pháp]] vào [[Bán đảo Ý]] năm 1796, Legation (lãnh thổ phía Bắc của Lãnh địa Giáo hoàng) đã bị chiếm giữ và trở thành một phần của [[Cộng hòa Cispadane|Cộng hòa Cisalpine]]. | |||
* Hai năm sau, quân Pháp xâm chiếm khu vực còn lại của Lãnh địa Giáo hoàng và tướng [[Louis Alexandre Berthier]] đã tuyên bố thành lập [[Cộng hòa La Mã (thế kỷ 18)|Cộng hòa La Mã]] trên lãnh thổ này vào tháng 2/1798. [[Giáo hoàng Piô VI]] đã trốn đến [[Siena]], và chết trong quá trình lưu vong ở Valence (Pháp) năm 1799. [[Chế độ tổng tài Pháp]] đã cho khôi phục lại Lãnh địa Giáo hoàng vào tháng 6/1800 và [[Giáo hoàng Piô VII]] mới được bầu lên cư trú tại [[Roma]], nhưng [[Đệ Nhất Đế chế Pháp]] dưới thời [[Napoleon Bonaparte]] đã tái xâm lược vào năm 1808, và vào ngày 17/05/1809, phần còn lại của Lãnh địa Giáo hoàng đã bị sáp nhập vào Pháp, để lập ra các [[Tỉnh của Pháp|tỉnh]] [[Rome (tỉnh)|Tibre]] và [[Trasimène]]. | |||
* Sau sự sụp đổ của hệ thống Napoleon vào năm 1814, [[Đại hội Viên]] chính thức cho khôi phục lại Lãnh địa Giáo hoàng (nhưng không bao gồm [[Contat Venaissin]] hay [[Avignon]]). | |||
<hr> | |||
===🛑 Innocent XI (239)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''<big>[[Lãnh địa Giáo hoàng|LÃNH ĐỊA GIÁO HOÀNG]]</big> <br> (756 - 1870) <hr/> [[Quân chủ tuyển cử]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Papal proto-national flag.svg|center|120px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:CoA Pontifical States 02.svg|center|80px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Giáo hoàng Innôcentê XI|Giáo hoàng Innocent XI]]<br> (1676 - 1689)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị Giáo hoàng thứ 239 của Giáo hội Công giáo và Giáo hoàng thứ 147 của Lãnh địa Giáo hoàng}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 Piastra - Innocenzo XI 1862.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 Piastra Innocent XI - 1682 <hr>343 năm (2025)'''}} ||{{center|[[File:Jacob Ferdinand Voet - Portrait of Innocenzo XI Odescalchi (cropped).jpeg|120px]]<br>1682<hr>'''[[AU|AU-50]]'''}} || style="background:#ceb"colspan="1"|{{center|'''Đường kính'''<br>[[44,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[91,7%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[31,842 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[29,199114 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[?]]<hr>38.000.000<br>[[(1.509,43$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|} | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#fbd"|INNOCENT XI | |||
|- | |||
|style="background:LemonChiffon;"| | |||
<span style="background: #FFCCCC;">'''[[Những nhân vật liên quan mật thiết]]''':</span> [[Louis XIV của Pháp]] * [[Jan III Sobieski]] * [[Leopold I của Thánh chế La Mã]] * [[Pyotr I của Nga]] * [[Mehmed IV]]<hr> | |||
<span style="background: #DDFDDD;">''[[Đồng xu này được đúc năm 1682, trong khi đó Trận Viên diễn ra vào năm 1683]]''</span><hr> | |||
Trong suốt triều đại của mình (1676 - 1689), Innocent đã xung đột với Vua Mặt trời [[Louis XIV của Pháp]]. Sau cái chết của Clement IX, ông đã là hồng y có thể được bầu làm Giáo hoàng, nhưng đã bị Louis XIV ngăn cản bằng quyền [[Jus exclusivae]], sau khi Giáo hoàng Clement X quá đời, vua Pháp một lần nữa có dự định ngăn chặn ông lên ngôi Giáo hoàng, nhưng cuối cùng thì dừng lại, vì thấy người dân Rome và các Hồng y muốn Innocent lên ngôi.<hr> | |||
Ngay sau khi lên ngôi, Innocent đã nỗ lực cắt giảm chi phí của Giáo triều, bản thân ông rất tiết kiệm, ăn mặc đơn giản, chỉ sau vài năm ông đã cân bằng được thâm hụt 170.000 scudi so với lúc ông nhận ghế Giáo hoàng. Ông cho đóng cửa tất cả các nhà hát ở Rome, hạ thuế trong [[Lãnh địa Giáo hoàng]] và ngăn chặn chế độ gia đình trị trong Giáo hội.<hr> | |||
Vua [[Jan III Sobieski]] của Ba Lan-Litva đề nghị liên minh với Đế chế La Mã Thần thánh để cùng chống lại Ottoman, điều này đã gây ra xào xáo nội bộ Ba Lan. Chỉ thông qua sự hậu thuẫn của Giáo hoàng Innocent XI, triều đình Ba Lan cuối cùng mới ký Hiệp ước Warsaw với Thánh chế La Mã này vào ngày 31 tháng 3 năm 1683 tạo ra [[Liên minh Thần thánh (1684)]], Giáo hoàng còn tài trợ thêm 200.000 thaler. Chỉ 6 tháng sau kể từ ngày ký hiệp ước liên minh, quân Ottoman đã vây hãm thành Viên và nhớ có cứu viện của quân Ba Lan mà Viên được cứu. Không dừng lại ở đó, ông đã bỏ ra hàng triệu scudi và kêu gọi sự hỗ trợ của các thân vương Công giáo giúp giải phóng Hungary, vì thế tại quốc gia này, ông được gọi là "Đấng cứu thế của Hungary". Trong [[Đại chiến Thổ Nhĩ Kỳ]] (1683-1699), Innocent đã đóng góp rất lớn công lao trong giai đoạn đầu, dù ông không thể sống đến khi chứng kiến người Ottoman bị đánh bại trong cuộc chiến này - ông mất trước khi cuộc chiến kết thúc 10 năm<hr> | |||
Trong '''[[Trận Viên]]''', quân Ottoman đã vây hãm thành Viên trong 60 ngày, thể theo hiệp ước phòng thủ Warsaw mà Giáo hoàng Innocent đã làm trung gian, Vua [[Jan III Sobieski]] của Liên bang Ba Lan-Litva đã dẫn theo 30.000 quân đến đánh Ottoman, trong khi đó quân Habsburg trong thành Viên hiệp đồng đánh ra. Jan III ra lệnh cho 20.000 kỵ binh Ba Lan-Áo chia làm 3 mũi tấn công và đã nghiền nát đội hình 150.000 quân Ottoman... đây được xem là "cuộc xung phong bằng [[kỵ binh]] lớn nhất trong lịch sử". Trận chiến thành Viên là dấu mốc kết thúc kỷ nguyên Đế quốc Ottoman xưng hùng xứng bá ở châu Âu, kể từ đó, họ dần thoái trào khỏi châu Âu.<hr> | |||
Innocent XI đã ban hành tông sắc Sanctissimus Dominus vào năm 1679, trong đó có hai đề xuất liên quan đến phá thai. Ông nêu quản điểm rằng: "Có vẻ như thai nhi (miễn là nó còn trong tử cung) không có linh hồn lý trí và bắt đầu có linh hồn lý trí khi nó được sinh ra; và do đó, phải nói rằng không có phá thai nào là giết người".<hr> | |||
Giáo hoàng Innocent XII đã khởi động quá trình phong thánh cho ông vào năm 1691. Năm 1714, Giáo hoàng Clement XI trao cho ông danh hiệu [[Tôi tớ Chúa]], nhưng vì ảnh hưởng của Pháp và những cáo buộc đã khiến cho Giáo hoàng Benedict XIV đình chỉ việc phong thánh của ông vào năm 1744. Đến thế kỷ XX quá trình phong thánh mới được tái khởi động. Năm 1955, Giáo hoàng Pius XII tuyên bố ông là [[Đấng đáng kính]] và năm 1956 được ban [[Chân phước]].<hr> | |||
Sau năm 2001, Toà Thánh thúc đẩy việc phong thánh cho Innocent XI vì công trạng ngăn chặn người Thổ tràn vào châu Âu và tạo ra sự tương đồng với chủ nghĩa Hồi giáo. Tuy nhiên, chính tác nội dung trong tiểu thuyết [[Imprimatur (tiểu thuyết)|Imprimatur]] đã làm tổn hại đến danh tiếng của ông, do đó kế hoạch phong thánh đã bị đình chỉ vô thời hạn. Người ta tin rằng, nếu không có cuốn tiểu thuyết đó thì Innocent đã được phong thánh vào năm 2003.<hr> | |||
Ông sinh trưởng trong gia đình quý tộc [[Erba-Odescalchi]] ở [[Como]] thuộc [[Công quốc Milan]], anh và 3 người chú của ông đã lập ra một đế chế ngân hàng ở Genoa và bản thân ông cũng đã từng làm công việc kinh doanh tài chính từ ngân hàng này. Khi trên ngôi Giáo hoàng, năm 1682, ông đã ban hành một sắc lệnh cấm người Do Thái ở Rome cho vay tiền, chính sắc lệnh này đã vô tình mang lại lợi ích cho những người anh em làm ngân hàng của ông và làm cho người khác nghĩ xấu về ông.<hr> | |||
<span style="background: #DDFDDD;">Năm 1688, Innocent XI tiếp kiến phái đoàn ngoai giao Vương quốc Ayutthaya được vua Narai cử đến.</span> | |||
|} | |||
===🛑 Pius IX (255)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''<big>[[Lãnh địa Giáo hoàng|LÃNH ĐỊA GIÁO HOÀNG]]</big> <br> (756 - 1870) <hr/> [[Quân chủ tuyển cử]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Papal proto-national flag.svg|center|120px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:CoA Pontifical States 02.svg|center|80px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Giáo hoàng Piô IX|Giáo hoàng Pius IX]]<br> (1846 - 1878)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị Giáo hoàng thứ 255 của Giái hội Công giáo và Giáo hoàng thứ 163 và cuối cùng của Lãnh địa Giáo hoàng}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 Scudo Pio IX 1853.jpg|center|700px]]<hr>{{center|'''1 Scudo Pius IX - 1853 R<hr>172 năm (2025)'''}} ||{{center|[[File:G.P.A.Healy, Portrait of Pope Pius IX (1871).jpg|120px]]<br>1853<hr>'''[[AU]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[38,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[26,87 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,183 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[527.000]]<hr>5.500.000 <br>[[(239,58$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#fbd"|PIUS IX | |||
|- | |||
|style="background:LemonChiffon;"| | |||
[[Những nhân vật liên quan]]: '''[[Maximiliano I của México]]''' * [[Charlotte của Bỉ]] * [[Klemens von Metternich|Hoàng thân Metternich]] * '''[[Napoleon III của Pháp]]''' * [[Giáo hoàng Piô VII]] * '''[[Vittorio Emanuele II của Ý]]''' * [[Giuseppe Garibaldi]]<hr> | |||
Vua Victorio Emanuele II của Ý mất trước Giáo hoàng Pius IX chỉ 27 ngày, trước khi nhà vua qua đời, Giáo hoàng đã cử người đại diện của mình đến để gỡ bỏ vạ tuyệt thông và cữ hành thánh lễ cho nhà vua.<hr> | |||
Ông sinh ra trong một gia đình quý tộc tại Senigallia, [[Ancona]] thuộc vùng [[Manche]], Ý hiện nay (thời đó thuộc Lãnh địa Giáo hoàng). Trước khi trở thành Giáo hoàng, ông mang danh hiệu Bá tước và được gọi là Bá tước Mastai. Từ bé ông đã mắc bệnh động kinh, nhưng nhờ sự khích lệ và bảo trợ của [[Giáo hoàng Piô VII]] (người có xung đột với Hoàng đế [[Napoleon I]]), ông đã trở thành một giám mục. Sau này ông qua đời cũng vì động kinh. Khi lên ngôi Giáo hoàng, ông lấy hiệu Piô IX là để ghi nhớ ơn phước của Giáo hoàng Piô VII; '''''Vua [[Ludovico I của Etruria]]''''' cũng bị động kinh từ nhỏ. Thời thơ ấu, trong lần vui chơi cùng em gái, đầu của ông bị đập đầu vào bàn đá cẩm thạch khi chơi với Carolina, và sau đó bị động kinh. Từ đó sức khoẻ của ông luôn yếu và hay bệnh. Năm 1803, ở tuổi 29 ông qua đời cũng từ một cơn động kinh. <hr> | |||
Năm 1824, ông được Giáo hoàng Piô VII cử đến Chile theo thỉnh cầu của Giám quan tối cao của Chile là [[Bernardo O'Higgins]] để tổ chức lại giáo hội Công giáo của nước cộng hoà mới thành lập, nhưng khi đến nơi thì O'Higgins đã bị lật đổ. Ông đã trở thành Giáo hoàng tương lai đầu tiên từng đến châu Mỹ.<hr> | |||
Trong quá trình bầu cử Giáo hoàng mới vào năm 1846, mà ông là 1 trong 3 ứng viên, Hoàng đế áo [[Ferdinand I của Áo|Ferdinand I]] và Hoàng thân Metternich đã chử một Hồng y ở Milan đến Rome để dùng [[Jus exclusivae]] loại trừ ông khỏi việc ứng cử làm Giáo hoàng, nhưng do đến chậm nên không thể hoãn lại quyết định của [[Hồng y Đoàn]].<hr> | |||
Pius IX là người chịu trách nhiệm trong việc bắt cóc một cậu bé Do Thái 6 tuổi là [[Vụ án Mortara|Edgardo Mortara]], từ cha mẹ cậu. Một cô hầu gái theo đạo Công giáo không có quan hệ họ hàng với gia đình đã tuyên bố rằng cô đã làm lễ rửa tội không chính thức cho cậu bé trong một lần bị bệnh sáu năm trước đó, vì sợ rằng cậu bé sẽ chết. Điều này đã khiến đứa trẻ trở thành người cải đạo theo đạo Công giáo hợp pháp, và luật của Giáo hoàng cấm những người theo đạo Công giáo được [[người Do Thái]] nuôi dưỡng, ngay cả cha mẹ của họ. Sự việc này đã gây ra sự phẫn nộ rộng rãi trong những người theo chủ nghĩa tự do, cả Công giáo và không theo Công giáo, và góp phần vào tình cảm chống Giáo hoàng ngày càng gia tăng ở châu Âu. Cậu bé được nuôi dưỡng trong gia đình giáo hoàng, và cuối cùng được thụ phong [[linh mục]] ở tuổi 21. Các nhà phân tích cho rằng, chính sự kiện này đã dẫn đến việc Lãnh địa Giáo hoàng vị sáp nhập vào Vương quốc Ý mà không tạo ra những làn sóng phản đối.<hr> | |||
Trong suốt triều đại của mình, Pius IX đã phong thánh cho 52 cá nhân và phong Chân phước cho 222 người, phong 3 [[Tiến sĩ Hội Thánh]], tấn phong 123 Hồng y trong 23 công nghệ.<hr> | |||
Thời gian giữ ngôi Giáo hoàng của Pius IX kéo dài 32 năm (1846 - 1878), là triều đại dài thứ hai trong lịch sử, chỉ xếp sau triều đại của [[Thánh Phêrô|Thánh Peter]] (tại vị trong 34-38 năm). Ông nổi tiếng vì đã triệu tập [[Công đồng Vaticanô I]] vào năm 1868 và mất quyền kiểm soát vĩnh viễn nhà nước [[Lãnh địa Giáo hoàng]] vào năm 1870 vào tay [[Vương quốc Ý]]. Sau đó, ông từ chối rời khỏi [[Thành Vatican]], tự nhận mình là "[[Người tù ở Vatican]]".<hr> | |||
Vào thời điểm ông được bầu lên ngôi vị Giáo hoàng, ông là người theo chủ nghĩa tự do, nhưng ông đã chuyển sang bảo thủ sau các cuộc [[Cách mạng 1848]]. Trước đó, nhiều nhà cách mạng Ý đã muốn ông lãnh đạo việc thống nhất Ý. <hr> | |||
Lời kêu gọi hỗ trợ tài chính của ông đã khôi phục lại các khoản quyên góp toàn cầu được gọi là [[Pence của Peter|Peter's Pence]]. Ông củng cố quyền lực trung ương của [[Tòa thánh]] và [[Giáo triều Rôma]] đối với Giáo hội Công giáo trên toàn thế giới, đồng thời chính thức hóa thẩm quyền giáo lý tối cao của giáo hoàng (giáo điều về sự [[Bất khả ngộ Giáo hoàng|bất khả ngộ của giáo hoàng]] được xác định vào năm 1870). [[Giáo hoàng Gioan Phaolô II|Giáo hoàng John Paul II]] đã phong [[Chân phước]] cho ông vào năm 2000.<hr> | |||
Trước khi [[Maximiliano I của México|Đại công tước Maximilian]] và vợ là [[Charlotte của Bỉ]] lên đường đến Mexico để lên ngôi hoàng đế Đế nhị Đế chế Mexico, đã đến gặp và được Giáo hoàng Pius ban phước. Khi quân Pháp rút khỏi Mexico và tình hình hoàng đế Maximilian nguy khốn, Hoàng hậu Charlotte đã trở về châu Âu để cầu xin Napoleon III không rút quân, nhưng thất bại, bà đã đến Vatican để cầu xin Giáo hoàng. Vì hoàng hậu luôn lo sợ bị ám hại, nên Giáo hoàng đã đồng ý cho bà ở lại Vatican một đêm. Bà và trợ lý của bà là những người phụ nữ đầu tiên ở lại qua đêm bên trong Vatican.<hr> | |||
Sau khi đánh bại quân đội Giáo hoàng vào ngày 18 tháng 9 năm 1860 tại [[Trận Castelfidardo]], và vào ngày 30 tháng 9 tại [[Ancona]], Vua [[Vittorio Emanuele II của Ý|Victor Emmanuel II của Sardinia]] đã chiếm tất cả các lãnh thổ của Giáo hoàng ngoại trừ [[Latium]] với [[Rome]] và lấy danh hiệu [[Vua của Ý]]. Bản thân [[Chiếm đóng Rome|Rome đã bị xâm lược]] vào ngày 20 tháng 9 năm 1870, sau một cuộc bao vây kéo dài vài giờ. Ý đã ban hành [[Luật Bảo đảm]] (ngày 13 tháng 5 năm 1871) cho phép Giáo hoàng sử dụng Vatican nhưng từ chối quyền tối cao của ông đối với lãnh thổ này, tuy nhiên vẫn trao cho ông quyền gửi và tiếp nhận đại sứ và ngân sách 3,25 triệu [[lira Ý|lira]] hàng năm. Pius IX đã chính thức từ chối lời đề nghị này (thông điệp Ubi nos, ngày 15 tháng 5 năm 1871), vì đây là một quyết định đơn phương không công nhận Giáo hoàng trên trường quốc tế và có thể bị quốc hội thế tục thay đổi bất kỳ lúc nào.<hr> | |||
[[Luật Bảo đảm]] của Vương quốc Ý đưa ra cho Giáo hoàng Piô IX cũng tương tự như quy chế thoái vị của Hoàng đế '''[[Phổ Nghi]]''' được đưa ra bởi Chính phủ Trung Hoa Dân quốc. Tôn Trung Sơn đảm bảo các quyền cơ bản của Phổ Nghi và hoàng tộc Ái Tân Giác La. | |||
|} | |||
===🛑 John Paul I (263)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Thành Vatican|THÀNH VATICAN]]<br>(1929 - Nay)<hr>[[Quân chủ tuyển cử]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of the Vatican City.svg|center|90px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms Holy See.svg|center|80px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Giáo hoàng Gioan Phaolô I|Giáo hoàng John Paul I]] <br>(26/8 - 28/9/1978)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị Giáo hoàng thứ 263}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1000 lire John Paul I - 1978MS.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1.000 Lire [[Giáo hoàng Gioan Phaolô I|John Paul I]] - 1978<hr>47 năm (2025)'''}}||{{center|[[Tập tin:Paus Johannes Paulus I (Bestanddeelnr 929-9074) (cropped).jpg|120px]]<hr>'''1978<hr>[[MS]]'''}}|| {{center|'''Đường kính'''<br>[[31,5 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[83,5%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[14,6 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[12,191 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[198.500]]<hr>650.000<br>[[(27,66$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
===🛑 John Paul II (264)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Thành Vatican|THÀNH VATICAN]]<br>(1929 - Nay)<hr>[[Quân chủ tuyển cử]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of the Vatican City.svg|center|90px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms Holy See.svg|center|80px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Giáo hoàng Gioan Phaolô II|Giáo hoàng John Paul II]]<br> (1978 - 2005)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị Giáo hoàng thứ 264}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1000 Lire of Vatican - Ioannes Paulus II Familiaris Consortio 1982.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1.000 Lire [[Giáo hoàng Gioan Phaolô II|John Paul II]]_[[Familiaris Consortio|Tông huấn Familiaris Consortio]] - 1982<hr>43 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Ritratto di papa Giovanni Paolo II (1984 – edited).jpg|100px]]<hr>'''1982<hr>[[MS]]'''}}|| {{center|'''Đường kính'''<br>[[31,5 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[83,5%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[14,6 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[12,191 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[113.000]]<hr>650.000<br>[[(25,49$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
|} | |||
==📕 CỘNG HÒA RAGUSA == | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Bảo hộ|LÃNH THỔ BẢO HỘ CHUNG]] [[Quân chủ Habsburg|HABSBURG]] & [[Đế quốc Ottoman|OTTOMAN]]<hr>[[Cộng hòa Ragusa]] <br> (1684 - 1806)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:St. Blaise - State Flag of the Ragusan Republic.svg|center|130px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Ragusan Republic Coat of Arms.png|center|52px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''Rector [[Antonio de Resti]]<br> (1767)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|-------------}} | |||
|- | |||
| [[File:1 tallero of Ragusa Novi Vizlin - 1767 DM GA.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 tallero_[[Novi Vizlin]] - 1767 DM GA<hr>258 năm (2025)'''}}||{{center|1751 - 1779<hr>'''[[AU]]'''}}||{{center|'''Đường kính'''<br>[[42,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[56,6%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[28,78 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[16,2895 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[?]]<hr>4.000.000<br>[[(171,67$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==🟨 CỘNG HÒA HÀ LAN== | |||
===🛑 Lãnh địa Overijssel=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Cộng hòa Hà Lan|CỘNG HÒA HÀ LAN]] <br> (1588 - 1795) <hr> [[Lãnh địa Overijssel]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Statenvlag.svg|center|125px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of the republic of the united Netherlands (after 1665).svg|center|93px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Thời kỳ không có Stadtholder lần thứ hai]]<br> (1702 - 1747)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|-------------}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 ducaton Overijssel, Dutch Republic, 1734.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 ducaton [[Lãnh địa Overijssel|Overijssel]] - 1734<hr> 291 năm (2025)'''}}||{{center|1720 - 1764<hr>'''[[AU|AU-<small>cleaned</small>]]'''}} ||style="background:#ceb"colspan="1"|{{center|'''Đường kính'''<br>[[42,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[94,1%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[32,78 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[30,84598 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[?]]<hr>15.000.000<br>[[(652,17$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
===🛑 Lãnh địa Utrecht=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Cộng hòa Hà Lan|CỘNG HÒA HÀ LAN]] <br> (1588 - 1795) <hr> [[Lãnh địa Utrecht]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Statenvlag.svg|center|125px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of the republic of the united Netherlands (after 1665).svg|center|93px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Stadtholder]] [[Willem V xứ Oranje|Thân vương Willem V]]<br> (1751 - 1795)}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị stadthoder cuối cùng}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 ducaton Utrecht, 1772.jpg|center|700px]]<hr>{{center|'''1 ducaton [[Utrecht]] - 1772<hr>253 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:William V, Prince of Orange - Bone 1801.jpg|120px]]<br>1739 - 1794<hr>'''[[XF]]'''}} ||{{center|'''Đường kính'''<br>[[40,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[94,1%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[32,78 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[30,84598 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[?]]<hr>10.000.000<br>[[(432,90$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
===🛑 Bá quốc Holland=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Cộng hòa Hà Lan|CỘNG HÒA HÀ LAN]] <br> (1588 - 1795) <hr> [[Bá quốc Holland]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Statenvlag.svg|center|125px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of the republic of the united Netherlands (after 1665).svg|center|93px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Stadtholder]] [[Willem V xứ Oranje|Thân vương Willem V]]<br> (1751 - 1795)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị stadthoder cuối cùng}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 ducaton Holland - 1780XF.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 ducaton [[Holland]] - 1780<hr>245 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:William V, Prince of Orange - Bone 1801.jpg|120px]]<br>1672 - 1793<hr>'''[[XF|XF<small>-cleaned<small/>]]'''}} ||style="background:#ceb"colspan="1"|{{center|'''Đường kính'''<br>[[43,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[94,1%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[31,15 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[30,25315 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[?]]<hr>7.000.000<hr>[[(297,87$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
===🛑 Lãnh địa Frisia=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Cộng hòa Hà Lan|CỘNG HÒA HÀ LAN]] <br> (1588 - 1795) <hr> [[Lãnh địa Frisia]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Statenvlag.svg|center|125px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of the republic of the united Netherlands (after 1665).svg|center|93px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Stadtholder]] [[Willem V xứ Oranje|Thân vương Willem V]]<br> (1751 - 1795)}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị stadthoder cuối cùng}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 ducaton Frisland 1784XF.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 ducaton [[Friesland]] - 1784<hr>242 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:William V, Prince of Orange - Bone 1801.jpg|120px]]<br> 1702 - 1795<hr>'''[[XF|XF<small>-cleaned<small/>]]'''}} ||style="background:#ceb"colspan="1"| {{center|'''Đường kính'''<br>[[43,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[94,1%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[32,78 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[30,84598 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[?]]<hr>12.500.000<br>[[(541,13$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
===🛑 Công quốc Guelders=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Cộng hòa Hà Lan|CỘNG HÒA HÀ LAN]] <br> (1588 - 1795) <hr> [[Công quốc Guelders]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Statenvlag.svg|center|125px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of the republic of the united Netherlands (after 1665).svg|center|93px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Stadtholder]] [[Willem V xứ Oranje|Thân vương Willem V]]<br> (1751 - 1795)}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị stadthoder cuối cùng}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 ducaton of Gelderland 1792.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 ducaton [[Gelderland]] - 1792 <hr>233 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:William V, Prince of Orange - Bone 1801.jpg|120px]]<br>1704 - 1792<hr>'''[[AU]]'''}} ||style="background:#ceb"colspan="1"|{{center|'''Đường kính'''<br>[[42,5 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[94,1%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[32,15 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[30,25315 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[?]]<hr>9.850.000<br>[[(389,02$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==🟨 CỘNG HÒA BATAVIA== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đệ Nhất Cộng hòa Pháp|ĐỆ NHẤT CỘNG HÒA PHÁP]] <hr>[[Cộng hòa Batavia]] <br> (1795 - 1801)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Bataafse Republiek nationale vlag.svg|center|130px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Grootzegel van de Bataafse Republiek (1802).svg|center|85px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''Chủ tịch [[Pieter Paulus]] <br>(1795)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|-------------------}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:3 gulder Utrech - 1795VF.png|center|700px]]<hr>{{center|'''3 gulden [[Utrecht]] - 1795<hr>230 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Pieter Paulus (1753-1796).jpg|120px]]<br>1763 - 1795<hr>'''[[VF|VF-56]]'''}}||style="background:#ceb"colspan="1"|{{center|'''Đường kính'''<br>[[41,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[91,5%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[31,42 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[28,7493 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[1.713.000]]<hr>8.500.000<br>[[(367,17$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==🟨 VƯƠNG QUỐC HÀ LAN== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#ccf"|[[Tập tin:Arms of Nassau.svg|50px]] | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|NHÀ NASSAU & TRIỀU ORANJE-NASSAU | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
[[Nhà Nassau]] được đặt theo tên của lãnh địa gắn liền với [[lâu đài Nassau]], nằm ở [[Nassau, Rhein-Lahn|Nassau]], [[Rheinland-Pfalz|Rhineland-Palatinate]], [[Đức|Cộng hoà Liên bang Đức]] ngày nay. Các lãnh chúa của Nassau ban đầu được phong là "Bá tước Nassau", sau đó được nâng lên thành đẳng cấp quý tộc ''gefürsteter Graf''. Buổi đầu gia tộc chia thành hai nhánh chính: nhánh cao cấp (Walramian), với nhân vật nổi tiếng nhất là [[Adolf, Vua của La Mã Đức]], và nhánh trẻ hơn (Ottonian), tạo ra các [[Thân vương xứ Orange|Thân vương xứ Oranje-Nassau]] và các [[Quân chủ Hà Lan|Vua của Hà Lan]].<hr> | |||
Vào những năm cuối của [[Đế chế La Mã Thần thánh]] và trong [[các cuộc chiến tranh của Napoléon]], nhánh Walramian đã thừa kế hoặc mua lại tất cả các vùng đất của tổ tiên Nhà Nassau, với sự cho phép của [[Đại hội Vienna]], "Công tước Nassau", thành lập nhà nước độc lập của Nassau với thủ đô đặt tại [[Wiesbaden]]; lãnh thổ này ngày nay thuộc [[Đức|Cộng hoà Liên bang Đức]], chủ yếu nằm trong Bang [[Hessen]], và một phần thuộc [[Rheinland-Pfalz|Bang Rhineland-Palatinate]] lân cận. Công quốc được sáp nhập vào [[Vương quốc Phổ]] năm 1866, sau Chiến tranh Áo-Phổ với tư cách là đồng minh của [[Đế quốc Áo]]. Phổ cho thành lập [[Tỉnh Hesse-Nassau]] và Công quốc Nassau cũ nằm trong tỉnh này.<hr> | |||
Theo truyền thống ở Đức, gia tộc chỉ được truyền lại trong dòng dõi kế vị của nam giới. Do đó, theo quan điểm của người Đức, Nhà Nassau đã bị tuyệt tự từ năm 1985. Tuy nhiên, cả truyền thống quân chủ của Hà Lan và Luxembourg, các quy tắc hiến pháp và luật pháp trong vấn đề đó đều khác với truyền thống của Đức, và do đó không quốc gia nào coi Nhà Nassau đã tuyệt tự. [[Đại công tước Luxembourg]] sử dụng danh hiệu "Công tước Nassau" làm tước vị phụ, và Trưởng tộc Nassau (là thành viên cao cấp nhất trong chi nhánh của gia tộc) cũng dùng tước vị này, nhưng không tuyên bố chủ quyền lãnh thổ đối với [[Công quốc Nassau]] trước đây, nay là một phần của Cộng hòa Liên bang Đức. | |||
|- | |||
! style="background:#ceb"|CÁC DÒNG CỦA NASSAU | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
Năm 1255, các con trai của [[Heinrich II xứ Nassau|Heinrich II]] là [[Walram II, xứ Nassau|Walram II]] và [[Otto I xứ Nassau|Otto I]], đã chia đôi các vùng đất Nassau. Hậu duệ của Walram được gọi là '''Dòng Walram''', nắm quyền Bá quốc, [[Công quốc Nassau]] và Đại công quốc [[Luxembourg]]. Hậu duệ của Otto được gọi là '''Dòng Ottonian''', sẽ thừa kế một phần Nassau, Pháp và Hà Lan. Cả hai dòng họ này thường sẽ bị chia đôi trong vài thế kỷ tiếp theo. Năm 1783, người đứng đầu các nhánh khác nhau của Nhà Nassau đã ký [[Hiệp ước Gia tộc Nassau]] (Erbverein) để điều chỉnh việc kế vị trong tương lai ở các nhà nước của họ và thiết lập hệ thống phân cấp triều đại theo đó Thân vương xứ Oranje-Nassau-Dietz được công nhận là Chủ tịch Nhà Nassau.<hr> | |||
Vào ngày 17/07/1806, sau khi [[Đế chế La Mã Thần thánh]] giải thể, các Bá quốc [[Nassau-Usingen]] và [[Nassau-Weilburg]] (2 nhánh còn lại duy nhất của dòng Walram) đều gia nhập [[Liên bang sông Rhine]]. Dưới áp lực của [[Napoléon Bonaparte]], cả hai bá quốc hợp nhất để trở thành [[Công quốc Nassau]] vào ngày 30/08/1806, dưới sự cai trị chung của Thân vương [[Friedrich August xứ Nassau-Usingen]] và người em họ trẻ hơn của ông, [[Friedrich Wilhelm xứ Nassau-Weilburg]]. Vì Friedrich August không có người thừa kế nên ông đã đồng ý để Friedrich Wilhelm sẽ trở thành người cai trị duy nhất sau khi ông qua đời. Tuy nhiên, Friedrich Wilhelm đã chết vì ngã trên cầu thang tại [[Schloss Weilburg]] vào ngày 09/01/1816 và con trai của ông là [[Wilhelm xứ Nassau|Wilhelm]] sau này trở thành công tước của một Nassau thống nhất. Công quốc bị sáp nhập vào [[Vương quốc Phổ]] năm 1866, sau [[Chiến tranh Áo-Phổ]] vì [[Adolphe của Luxembourg|Công tước Adolphe của Nassau]] đã ở bên phe Áo thua trận. Phổ cho thành lập Tỉnh Hesse-Nassau và Công quốc Nassau cũ nằm trong tỉnh này.<hr> | |||
Sau cái chết của [[Willem III của Hà Lan|Willem III của Hà Lan và Luxembourg]] vào năm 1890, nhánh [[Vương tộc Oranje-Nassau|Oranje-Nassau]] thuộc dòng Ottonian tuyệt tự dòng nam (là nhánh còn lại duy nhất của dòng Ottonian còn tồn tại, nên nó tuyệt tự dẫn đến cả dòng Ottonian tuyệt tự), người con gái còn sống của Willem III là [[Wilhelmina của Hà Lan]] lúc đó 10 tuổi đã thừa kế ngai vàng [[Hà Lan]] trong khi đó Đại công quốc [[Luxembourg]] được thừa kế bởi [[Adolphe của Luxembourg|Adophe của dòng Walramnian]], trước đó ông là [[Công quốc Nassau|Công tước xứ Nassau]], bị Phổ phế truất. Sau cái chết của [[Wëllem IV của Luxembourg]] vào năm 1912, dòng nam của Walramnian cũng tuyệt tự, ngai vàng được thừa kế bởi con gái của Wëllem IV là [[Marie-Adélaïde của Luxembourg|Marie-Adélaïde]]. Năm 1919, [[Felice xứ Bourbon-Parma]] đã kết hôn với Nữ đại công tước [[Charlotte của Luxembourg]], em gái của Marie-Adélaïde (qua đời không lập gia đình), con gái thứ 2 của [[Wëllem IV của Luxembourg]] và hậu duệ của họ là [[Jean của Luxembourg]] và con của ông, [[Henri của Luxembourg]] mang họ [[Vương tộc Borbone-Parma|Bourbon-Parma]] chứ không phải [[Nassau-Weilburg]] nữa. | |||
* '''[[Dòng Walramian]] (1255-1985):''' | |||
** [[Nassau-Weilburg]] (1344-1816): | |||
** [[Nassau-Wiesbaden-Idstein]] (1344-1728): | |||
** [[Nassau-Saarbrücken]] (1429–1797): | |||
** [[Nassau-Usingen]] (1659-1816): | |||
* '''[[Dòng Ottonian]] (1255-1890):''' | |||
** [[Nassau-Dillenburg]] (1303-1328) | |||
** [[Nassau-Beilstein]] (1343-1561) | |||
** [[Nassau-Siegen]] (1303-1328 & 1606-1743) | |||
** [[Vương tộc Oranje-Nassau|Oranje-Nassau]] (1544-1702) | |||
** [[Oranje-Nassau-Dietz]] (1702-1948) | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|Triều đại Oranje-Nassau | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
[[Vương tộc Oranje-Nassau|Triều đại Oranje-Nassau]] là sự kết hợp giữa dòng nữ của Nhà [[Chalon-Arlay]] sở hữu [[Thân vương quốc Orange]] gốc Pháp với nhánh Nam [[Nassau-Siegen]] thuộc dòng Ottonian của [[Vương tộc Nassau]] gốc Đức-Hà Lan, quá trình kết hợp và tạo ra họ kép này tương tự như Vương tộc Habsburg-Lorraine của Áo.<hr> | |||
Nhà Oranje-Nassau bắt nguồn từ nhánh [[Nassau-Siegen]] dòng Ottonian của [[Nhà Nassau]]. Người đầu tiên của dòng này sở hữu tài sản ở Hà Lan chính là [[Johann I xứ Nassau-Siegen]], thông qua việc kết hôn với [[Margareta xứ Marck]]. Người sáng lập thực sự của gia tộc Nassau Hà Lan chính là con trai thứ 3 của Johann, [[Engelbert I xứ Nassau|Engelbert I]]. Ông trở thành cố vấn cho [[Công tước xứ Brabant]] và [[Công quốc Bourgogne|Công tước xứ Burgundy]], đầu tiên là cho [[Anthony xứ Brabant]], và sau đó là con trai [[Johann IV xứ Brabant]]. Sau đó ông cũng phục vụ cho [[Philip Tốt bụng|Philip Tốt bụng xứ Burgundy]]. Năm 1403, ông kết hôn với nữ quý tộc Hà Lan [[Johanna van Polanen]] và do đó được thừa kế các vùng đất ở Hà Lan, trong đó lãnh thổ của Nam tước [[Breda]] là quan trọng nhất.<hr> | |||
Sự giàu có và quyền lực của gia tộc này ngày càng tăng trong suốt thế kỷ XV và XVI, khi họ trở thành uỷ viên hội đồng, Tướng quốc và [[stadtholder]] của [[Nhà Habsburg]] ở Hà Lan. [[Engelbert II xứ Nassau]] (cháu nội của Engelbert I) đã phục vụ dưới triều đại của [[Karl I xứ Bourgogne|Karl Dũng cảm xứ Bourgogne]] và Hoàng đế [[Maximilian I của Thánh chế La Mã]] người đã kết hôn với [[Marie I xứ Bourgogne]], con gái của Karl. Năm 1496, ông được bổ nhiệm làm stadtholder xứ Flander và đến năm 1498, ông được bổ nhiệm làm Chủ tịch của Grand Conseil. Năm 1501, Maximilian phong ông làm ''Lieutenant-General'' của [[Mười bảy tỉnh Hà Lan]]. Từ thời điểm đó trở đi (cho đến khi ông qua đời vào năm 1504), Engelbert là đại diện chính thức của [[Quân chủ Habsburg|Đế chế Habsburg]] trong khu vực.<hr> | |||
[[Hendrik III xứ Nassau-Breda]] (gọi Engelbert II bằng bác), ông được thừa kế toàn bộ tài sản ở Hà Lan sau khi người bác Engelbert II qua đời mà không có người thừa tự. Hoàng đế [[Karl V của Thánh chế La Mã|Karl xứ Ghent]] bổ nhiệm ông làm stadtholder xứ Holland và Zeeland. Ông kết hôn lần 2 với [[Claudia xứ Châlon]] sinh ra [[René xứ Chalon|René]], chính người này đã thừa kế tước vị [[Thân vương xứ Orange]] từ người cậu của mình là [[Philibert xứ Chalon]] qua đời không để lại người kế vị vào năm 1530. <hr> | |||
René chết trên chiến trường vào năm 1544 mà không có con cái thừa kế. Tài sản của ông, bao gồm lãnh thổ của thân vương quốc Orange và tước vị, được trao lại cho người e họ của ông là [[Willem I xứ Oranje|Willem Trầm lặng]]. Kể từ đó, các thành viên trong gia tộc tự gọi mình là ''"Orange-Nassau"''. Ông là người lãnh đạo cuộc nổi loạn của người Hà Lan chống lại Nhà Habsburg Tây Ban Nha, mở đầu cho [[Chiến tranh Tám mươi năm]] (1568–1648) và dẫn đến nền độc lập chính thức của Các tỉnh thống nhất vào năm 1648 và sự ra đời của [[Cộng hòa Hà Lan]]. '''''Willem Trầm lặng được xem là người sáng lập ra nhánh Oranje-Nassau''''' và là tổ tiên của chế độ quân chủ Hà Lan. Ở Hà Lan, ông còn được gọi là [[Cha già dân tộc|Quốc phụ]].<hr> | |||
Nhà Oranje-Nassau (dòng 1) có tất cả 6 đời thân vương, kể từ Willem Trầm lặng, vị thân vương thứ 6 là đã trở thành vua [[William III của Anh]] đồng cai trị với vợ là [[Mary II của Anh]], nhưng họ không có con thừa tự, vì thế tước vị [[Thân vương xứ Orange]] và tài sản của Vương tộc Oranje-Nassau đã để lại cho [[Johan Willem Friso]], đến từ chi nhánh [[Nassau-Dietz]] vào năm 1702. Johan trở thành ông tổ của Oranje-Nassau-Dietz (dòng 2 của Oranje-Nassau), chỉ sau 4 đời thân vương nữa thì họ trở thành vua của Hà Lan, bắt đầu từ [[Willem I của Hà Lan|Willem I]] (1815), ông đồng thời cũng là Đại công tước Luxembourg. Sau khi cháu nội của Willem I là [[Willem III của Hà Lan]] qua đời năm 1890 mà không có con trai, Đại công quốc Luxembourg theo Luật Salic ngăn chặn con gái của Willem III là [[Wilhelmina của Hà Lan|Wilhelmina]] kế vị nên ngai vàng Luxembourg đã để lại cho người họ hàng xa thuộc dòng Walramian ở Đức, đó là cựu Công tước xứ Nassau [[Adolphe của Luxembourg|Adophe]], người đã bị Vương quốc Phổ phế truất khỏi ngai vàng vào năm 1866 vì ở bên phe của Áo trong [[Chiến tranh Áo-Phổ]] năm 1866. Vì thế, năm 1890 là dấu mốc Nhà Oranje-Nassau tuyệt tự dòng nam.<hr> | |||
Nhà Oranje-Nassau sản sinh ra 10 đời thân vương xứ Orange, 4 vị quân chủ Hà Lan và 1 vị vua Anh, trong đó vị thân vương thứ 6 đồng thời là vua của Anh, vị thân vương thứ 10 cũng là vị vua đầu tiên của Hà Lan, tổng cộng có 13 nhà cai trị. Vị quân chủ trị vì của Hà Lan hiện tại là [[Willem-Alexander của Hà Lan|Willem-Alexander]], ông là con của Nữ vương [[Beatrix của Hà Lan]] và [[Klaus xứ Amsberg]], vì thế thể theo huyết thông dòng nam thì ông thuộc Nhà [[Amsberg]], một gia đình quý tộc nhỏ ở [[Đại công quốc Mecklenburg-Schwerin]], chỉ được công nhận quý tộc vào năm 1891. <hr> | |||
===Willem III (3)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Hà Lan|VƯƠNG QUỐC HÀ LAN]]<br>(1815 - Nay)<hr>[[Vương tộc Oranje-Nassau|Nhà Oranje-Nassau]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of the Netherlands.svg|center|125px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:State coat of arms of the Netherlands.svg|center|105px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Willem III của Hà Lan|Vua Willem III]] <br>(1849 - 1890)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị vua Hà Lan thứ 3, Đại công tước Luxemburg cuối cùng đến từ Nhà Orange-Nassau}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:2-1-2 Willem III - 1871XF.png|center|700px]]<hr>{{center|''' 2½ gulden [[Willem III của Hà Lan|Willem III]] - 1871<hr>154 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Willem III der Nederlanden door Pieneman crop 1849.jpg|120px]]<br>1849 - 1874<hr>'''[[AU]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[38,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[94,5%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[25,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[23,625 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[6.875.035]]<hr>1.500.000 <br> [[(64,38$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
===Wilhelmina (4)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Hà Lan|VƯƠNG QUỐC HÀ LAN]]<br>(1815 - Nay)<hr>[[Vương tộc Oranje-Nassau|Nhà Oranje-Nassau]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of the Netherlands.svg|center|125px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:State coat of arms of the Netherlands.svg|center|105px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Wilhelmina của Hà Lan|Nữ vương Wilhelmina]] <br>(1890 - 1948)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Quân chủ thứ 4 của Vương quốc Hà Lan và vị quân chủ cuối cùng của Nhà Orange-Nassau}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:2½ gulden of Netherlands, Wilhelmina - 1939.png|center|700px]]<hr>{{center|''' 2½ gulden [[Wilhelmina của Hà Lan|Wilhelmina]] - 1939<hr>86 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Wilhelmina1898.jpg|120px]]<br> 1929 - 1940<hr>'''[[AU]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[38,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[72,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[25,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[18,0 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[6.320.000]]<hr>1.100.000 <br> [[(44,72$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#fbd"|WILHELMINA | |||
|- | |||
|style="background:LemonChiffon;"| | |||
Bà kế vị ngai vàng từ cha mình khi mới 10 tuổi và trị vì trong 58 năm, trở thành vi quân chủ trị vì lâu nhất trong lịch sử Hà Lan và nữ quân chủ trị vì lâu nhất bên ngoài Vương quốc Anh.<br> | |||
Nhờ vào các dự án kinh doanh hợp lý, bà đã trở thành '''''nữ tỷ phú đô la đầu tiên trên thế giới'''''.<hr> | |||
Bà đã trị vì Hà Lan qua 2 cuộc Chiến tranh thế giới, trở thành biểu tượng của Hà Lan trong Thế chiến 2 và khôn khéo không để Hà Lan dính vào Thế chiến 1.<br> | |||
Trước khi Chiến tranh thế giới thứ nhất bắt đầu, Wilhelmina đã đến thăm Hoàng đế Đức Wilhelm II. Hoàng đế nghĩ rằng ông có thể gây ấn tượng với người cai trị một đất nước tương đối nhỏ bằng cách nói với nữ vương, "Những người lính canh của tôi cao 7 feet và của bạn chỉ cao ngang vai của họ". Nữ vương mỉm cười lịch sự và trả lời: "Hoàn toàn đúng, thưa Bệ hạ, lính canh của ngài cao 7 feet. Nhưng khi chúng ta mở đê, nước sâu tới 10 feet!"<hr> | |||
Theo luật Salic của Đức, Nhà Orange-Nassau-Dietz đã tuyệt tự sau cái chết của bà, nhưng quy tắc này không được luật kế vị của hoàng gia Hà Lan công nhận.<hr> | |||
Ngoài việc là hậu duệ của quân chủ nam cuối cùng của Nhà Orange-Nassau, bà còn là chắt cuối cùng của Hoàng đế Pavel I của Nga.<hr> | |||
Chồng của bà là Heinrich xứ Mecklenburg-Schwerin, một người đàn ông trăng hoa, ông ấy có nhiều người tình và có từ 3-10 đứa con ngoài giá thú. Sau khi chồng qua đời, Nữ vương đã đứng ra trả trợ cấp cho 3 người tình của chồng với tổng cộng 1.200 guilder mỗi tháng.<hr> | |||
Bà phát biểu trước Quốc hội Hoa Kỳ vào ngày 5 tháng 8 năm 1942 và là nữ vương đầu tiên làm như vậy.<hr> | |||
Công viên Tiểu bang Nữ vương Wilhelmina ở Arkansas và Vịnh Wilhelmina ở Nam Cực được đặt theo tên của Nữ vương Wilhelmina.<hr> | |||
Wilhelmina lên kế vị ngai vàng đã khiến cho liên minh cá nhân giữa Hà Lan và Luxembourg tan rã, vì đại công quốc này công nhận luật Salic - Đức, chỉ cho dòng nam kế vị ngai vàng, trường hợp này cũng giống như liên minh cá nhân Anh - Hannover không còn hiệu lực sau khi Nữ hoàng Victoria lên kế vị. Ngai vàng của Luxembourg đã để lại cho Công tước Adolphe, người đến từ nhà Nassau-Weilburg. | |||
|} | |||
===Juliana (5)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Hà Lan|VƯƠNG QUỐC HÀ LAN]]<br>(1815 - Nay)<hr>[[Vương tộc Oranje-Nassau|Nhà Oranje-Nassau]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of the Netherlands.svg|center|125px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:State coat of arms of the Netherlands.svg|center|105px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Juliana của Hà Lan|Nữ vương Juliana]] <br>(1948 - 1980)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị quân chủ thứ 5 của Vương quốc Hà Lan và quân chủ duy nhất của Nhà Oraje-Nassau-Dietz và Macklenburg}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:10 Gulden - Juliana Anniversary of Reign 1973.png|center|700px]]<hr>{{center|''' 10 Gulden - [[Juliana của Hà Lan|Kỷ niệm 25 năm trị vì của Nữ vương Juliana]] - 1973<hr>52 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Queen Juliana of the Netherlands, 1967 portrait (by Max Koot) – Nationaal Archief.jpg|120px]]<br> 1973<hr>'''[[AU]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[38,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[72%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[25,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[18 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[4.500.000]]<hr>750.000 <br> [[(31,92$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:2½ Gulden - Juliana 1962.png|center|700px]]<hr>{{center|''' 2½ gulden [[Juliana của Hà Lan|Juliana]] - 1962<hr>63 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Queen Juliana of the Netherlands, 1967 portrait (by Max Koot) – Nationaal Archief.jpg|120px]]<br> 1959 - 1966<hr>'''[[AU]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[33,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[72%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[15,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[10,8 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[5.000.000]]<hr>400.000 <br> [[(17,02$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#fbd"|JULIANA | |||
|- | |||
|style="background:LemonChiffon;"| | |||
Juliana là người con duy nhất của Nữ vương Wilhelmina, việc bà ra đời đã giải quyết vấn đề khủng hoảng kế vị của hoàng gia Hà Lan, trước và sau khi Juliana ra đời, Nữ vương hư thai 4-5 lần. <hr> | |||
Qua đời vào năm 2004 ở tuổi 94, lúc đó Julina là cựu quân chủ sống thọ nhất thế giới.<hr> | |||
Trong quá trình sống lưu vong ở Canada, bà sinh ra vương tôn nữ Margriet, lúc đó Toàn quyền Canada đã đưa ra một sắc lệnh đặc biệt tuyên bố phòng sinh của bà ở Bệnh viện công Ottawa là lãnh thổ ngoại trị của Canada để cho đứa trẻ chỉ có quốc tịch Hà Lan mà không dính đến quốc tịch Canada, vì nếu một đứa trẻ hoàng gia có đa quốc tịch sẽ bị tước bỏ quyền thừa kế ngai vàng. '''''Trường hợp của [[Jérôme Bonaparte]] và người vợ đầu của ông là [[Elizabeth Patterson Bonaparte|Elizabeth Patterson]], cuộc hôn nhân của họ không được anh trai của Jérôme là Hoàng đế Napoleon I đồng ý nên khi Elizabeth đang mang thai, cả hai đã rời Mỹ về châu Âu và Elizabeth cố gắng vào Pháp để đứa trẻ sinh ra trong lãnh thổ Pháp và được hợp pháp quốc tịch, nhưng Napoleon I đã ngăn chặn điều này xảy ra.'''''<hr> | |||
Trong ngày bà sinh ra Margriet, cờ Hà Lan đã được treo trên Tháp Hoà bình của Toà nhà quốc Hội, dàn nhạc Carillon đã chơi nhạc Hà Lan để chào mừng. <hr> | |||
Vì cảm kích tấm lòng của người Canada trong thời gian bà và các con sống lưu vong ở đó, khi Hà Lan được giải phóng, bà đã tặng cho Ottawa 100.000 củ hoa tulip và sau đó tặng thêm 20.500 củ và cam kết sẽ được tặng hàng năm cho đến khi bà qua đời; Hàng năm ở Ottawa tổ chức Lễ hội hoa Tullip để kỷ niệm món quà này. <hr> | |||
Trong thời gian mang thai người con cuối cùng là vương nữ Christina, bà mắc bệnh rubella (Sởi Đức), sau khi đứa trẻ được sinh ra đời đã bị "cườm khô" ở cả 2 mắt và được chẩn đoán là sẽ bị giảm thị lực gần như là mù. Điều này khiến cho Juliana vô cùng đau buồn, bà đã tìm đến Greet Hofmans, một người chửa bệnh bằng đức tin, người mà bị cho là một kẻ lừa đảo. Hofmans đã tạo ra một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng cho nền quân chủ Hà Lan, làm người ta liên tưởng đến Rasputin đối với gia đình Nga hoàng Nikolas II. Nhờ vào y học phát triển, thị lực Christina đã được cải thiện và có thể đi học nhờ đôi mắt kính.<hr> | |||
Sau khi lên ngôi chưa được 3 tháng, bà đã tự tay phê duyệt vào các văn kiện công nhận nền độc lập của Indonesia.<hr> | |||
Vào ngày 15 tháng 12 năm 1954, Nữ vương tuyên bố rằng các thuộc địa thuộc vùng Caribe, gồm có Antille thuộc Hà Lan và Suriname thuộc Hà Lan sẽ được tái cơ cấu thành các quốc gia cấu thành của Vương quốc Hà Lan, khiến các lãnh thổ này trở thành đối tác bình đẳng với mẫu quốc.<hr> | |||
Không lâu sau khi Juliana chào đời, cư dân của một ngôi làng nhỏ gần Den Helder đã xin phép Nữ vương Wilhelmina đặt tên ngôi làng của họ theo tên công chúa trẻ. Họ đã nhận được sự cho phép và đặt tên cho ngôi làng của mình là Julianadorp.<hr> | |||
Công viên Vương nữ Juliana ở Ottawa, Ontario, Canada được đặt theo tên của bà.<hr> | |||
Sân bay quốc tế Princess Juliana ở Sint Maarten được đặt theo tên của bà. <hr> | |||
Cầu Nữ vương Juliana ở Willemstad, Curaçao được đặt theo tên của bà.<hr> | |||
Tên của bà được cho tiểu hành tinh 816 Juliana. | |||
|} | |||
===Beatrix (6)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Hà Lan|VƯƠNG QUỐC HÀ LAN]]<br>(1815 - Nay)<hr>[[Vương tộc Oranje-Nassau|Nhà Oranje-Nassau]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of the Netherlands.svg|center|125px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:State coat of arms of the Netherlands.svg|center|105px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Beatrix của Hà Lan|Nữ vương Beatrix]] <br>(1980 - 2013)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Quân chủ thứ 6 của Vương quốc Hà Lan}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:50 Gulden - Beatrix William of Orange 1984.png|center|700px]]<hr>{{center|''' 50 Gulden [[Beatrix của Hà Lan|Beatrix]]_[[Willem I xứ Oranje|Kỷ kiệm 400 năm qua đời của Willem Trầm lặng]] (1584 - 1984)<hr>41 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Prinses Beatrix.jpg|120px]]<br>1984<hr>'''[[MS|UNC]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[38,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[92,5%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[25,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[23,125 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[1.000.000]]<hr>1.000.000 <br> [[(39,37$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==🟨 CURACAO== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Hà Lan|VƯƠNG QUỐC HÀ LAN]]<hr> [[Curaçao và Vùng phụ thuộc|Thuộc địa Curaçao và Lãnh thổ phụ thuộc]] <br> (1810-1950)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of the Netherlands.svg|center|125px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:State coat of arms of the Netherlands.svg|center|105px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Wilhelmina của Hà Lan|Nữ vương Wilhelmina]] <br>(1890 - 1948)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Quân chủ thứ 4 của Vương quốc Hà Lan}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:2½ Gulden - Wilhelmina of Curacao 1944.jpg|center|700px]]<hr>{{center|''' 2½ gulden [[Wilhelmina của Hà Lan|Wilhelmina]], [[Curaçao]] - 1944<hr>81 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Wilhelmina1898.jpg|120px]]<br>1849 - 1874<hr>'''[[MS|MS-66]]'''}} || style="background:#ceb"colspan="1"|{{center|'''Đường kính'''<br>[[38,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[72,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[25,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[18,0 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[200.000]]<hr>950.000 <br> [[(44,22$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==🟨 ANTILLES THUỘC HÀ LAN== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Hà Lan|VƯƠNG QUỐC HÀ LAN]]<hr>[[Antille thuộc Hà Lan]]<br>(1954 - 2010)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of the Netherlands Antilles (1959–1986).svg|center|125px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of the Netherlands Antilles (1986-2010).svg|center|56px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="9"|{{center|'''[[Juliana của Hà Lan|Nữ vương Juliana]] <br>(1948 - 1980)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị quân chủ thứ 5 của Vương quốc Hà Lan}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:2½ gulden Antilles thuộc Hà Lan, Juliana - 1964.png|center|700px]]<hr>{{center|''' 2½ gulden [[Juliana của Hà Lan|Juliana]], [[Antilles thuộc Hà Lan]] - 1964<hr>61 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Queen Juliana of the Netherlands, 1967 portrait (by Max Koot) – Nationaal Archief.jpg|120px]]<br>1964<hr>'''[[MS|UNC]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[38,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[72,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[25,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[18,0 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[420.000]]<hr>950.000 <br> [[(38,62$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
|} | |||
==[[File:Flag map of Russia (+claims).svg|150px]] 📕 ĐẾ CHẾ NGA== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#ccf"|[[File:House of Romanoff.svg|70px]] | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|HOÀNG TỘC ROMANOV | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
[[Vương tộc Romanov|Nhà Romanov]] là vương triều thứ 2 cai trị nước Nga và cũng là triều đại cuối cùng, xếp sau [[Vương triều Ryurik]] (826-1613). Nhà Romanov trở thành một triều đại cai trị sau khi [[Mikhail I của Nga|Mikhail Fyodorovich Romanov]] được Hội nghị quý tộc bầu lên ngai vàng [[Sa quốc Nga]] vào năm 1613 và ông lấy hiệu là Mikhail I. | |||
* Cha của Mikhail là [[Fyodor Nikitich Romanov]], ông gọi Sa hậu Nga [[Anastasia Romanovna]], vợ của [[Ivan IV của Nga]] (1547-1584) là cô ruột, vì thế cha của Mikhail đã được cân nhắc trở thành một chỉ huy quân đội và nhà ngoại giao xuất sắc và trở thành [[boyar]] (lãnh chúa) vào năm 1583. | |||
* Sự lên ngôi của Mikhail I đánh dấu kết thúc [[Thời kì Đại Loạn]] ở Nga trong những năm 1598 - 1613. Các cuộc [[chiến tranh Ingria]] và [[Chiến tranh Ba Lan-Muscovite (1605-1618)|Ba Lan-Muscovite]] lần lượt kết thúc vào năm 1617 và 1618, với việc Nga tiếp tục giành được độc lập nhưng phải trả giá bằng việc mất lãnh thổ ở phía Tây. Vua Ba Lan [[Władysław IV Vasa]] cuối cùng đã đồng ý chính thức từ bỏ yêu sách ngai vàng của mình với [[Hiệp ước Polyanovka]] năm 1634. Trong khi đó, ở phía Đông, người [[Cossack]] đã đạt được những tiến bộ chưa từng có trong [[Nga chinh phục Siberia|cuộc chinh phục Siberia]] và các nhà thám hiểm Nga đã đến [[Thái Bình Dương]] ([[Biển Okhotsk]]) vào cuối triều đại của Mikhail. | |||
<hr> | |||
Trên thực tế, Nhà Romanov chỉ nắm được ngai vàng Nga trải qua 9 đời, tại vị trong 149 năm thì tuyệt tự dòng nam, thay vào đó là Nhà Holstein-Gottorp. Nữ hoàng [[Yelizaveta của Nga]] (1741-1762) là người mang họ Romanov cuối cùng trên ngai vàng của Nga, trong khi đó [[Pyotr II của Nga]] (1727 - 1730) là người đàn ông cuối cùng giữ ngôi hoàng đế thuộc nhà Romanov. Sau cái chết của Yelizaveta, cháu trai gọi bà bằng dì là [[Pyotr III của Nga|Pyotr Fyodorovich]] (Karl Peter Ulrich), lên kế vị với đế hiệu Pyotr III. | |||
* Cha của ông là [[Karl Friedrich xứ Holstein-Gottorp|Công tước Karl Friedrich]] của [[Công tước xứ Holstein-Gottorp|Nhà Holstein-Gottorp]] và mẹ ông là [[Anna Petrovna của Nga]], con gái cả của [[Pyotr I của Nga|Pyotr Đại đế]], chị ruột của Nữ hoàng Yelizaveta. Vì thế Pyotr III đến từ Nhà Holstein-Gottorp gốc Đức-Đan Mạch, một chi nhánh của [[Vương tộc Oldenburg]]. | |||
* Con trai trưởng của Pyotr III là [[Pavel I của Nga]] lên ngôi vào năm 1796 sau cái chết của mẹ mình Nữ hoàng [[Yekaterina II của Nga]], đã đánh dấu việc Nhà Holstein-Gottorp cai trị Đế chế Nga, vì các sa hoàng sau đó đều là hậu duệ của Pavel I. Tuy nhiên, đương thời và cũng như lịch sử không viết là Holstein-Gottorp, thay vào đó là Romanov-Holstein-Gottorp, một hình thức họ kép như trường hợp của Vương tộc Habsburg-Lorraine của Áo hay [[Vương tộc Oranje-Nassau|Oranje-Nassau]] của Hà Lan. | |||
<hr> | |||
Từ năm 1613 - 1721, các quân chủ Nhà Romanov chỉ xưng là Sa vương Nga, vì họ cai trị [[Sa quốc Nga]]. Năm 1721, [[Pyotr I của Nga|Pyotr Đại đế]] đã tuyên bố lập ra [[Đế quốc Nga]] sau khi thành công trong [[Đại chiến Bắc Âu]] (1700-1721). Những lợi ích về lãnh thổ và vị thế ngày càng tăng của Nga như một nhân tố chủ chốt trên trường châu Âu đã cho phép nước này nâng cấp địa vị chính thức của mình từ chế độ Sa hoàng lên đế quốc. Danh hiệu đế quốc đầy đủ được đề xuất vào năm 1721 cho Pyotr là "Quốc phụ, Pyotr Đại đế, Hoàng đế toàn Nga". '''''Tuy năm 1710, ông đã tự xưng là "Sa hoàng và Hoàng đế toàn Nga", nhưng mãi đến năm 1721, danh hiệu hoàng đế mới trở thành chính thức'''''. | |||
* Nhà Romanov có 4 sa vương, gồm có: [[Mikhail I của Nga|Mikhail I]] (1613-1645); [[Aleksey của Nga|Aleksey]] (1645-1676); [[Fyodor III của Nga|Fyodor III]] (1676-1682) và đồng cai trị của [[Pyotr I của Nga|Pyotr I]] (1682-1721) và [[Ivan V của Nga|Ivan V]] (1682-1696). | |||
* Sau khi xưng đế cho đến khi chế độ quân chủ ở Nga xụp đổ thì Nhà Romanov có 14 quân chủ, trong đó có 4 quân chủ thật sự đến từ Nhà Romanov, 1 quân chủ đến từ Nhà Skavronskaya, 1 quân chủ đến thừ Nhà Mecklenburg-Brunswick (một nhánh của [[Vương tộc Welf|Nhà Welf]]), 1 quân chủ đến từ [[Vương tộc Ascania|Nhà Ascania]] và 7 quân chủ đến từ Nhà Holstein-Gottorp. Trong đó có 4 nữ hoàng: [[Yekaterina I của Nga|Yekaterina I]] (1725-1725); [[Anna của Nga|Anna]] (1730-1740); [[Yelizaveta của Nga|Yelizaveta]] (1741-1762) và [[Yekaterina II của Nga|Yekaterina II]] (1762-1796). | |||
|- | |||
! style="background:#ccf"|[[File:Blason Principauté d'Anhalt-Zerbst (XVIIIe siècle).svg|70px]] | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|TRIỀU ĐẠI ANHALT-ZERBST <br> (1544 - 1796) | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
[[Thân vương quốc Anhalt-Zerbst|Triều đại Anhalt-Zerbst]] là một chi nhánh của [[Thân vương quốc Anhalt|Dòng Anhalt]] thuộc [[Vương tộc Ascania]] gốc Đức. Tổ tiên của chi nhánh Anhalt-Zerbst chính là [[Johann V xứ Anhalt-Zerbst|Thân vương Johann V]], con trai trưởng của [[Ernst I xứ Anhalt-Dessau]] và [[Margaret xứ Münsterberg]]. Sau cái chết của người cha vào năm 1516, Johann cùng 2 em trai là [[Georg III xứ Anhalt-Dessau|Georg]] và [[Joachim I xứ Anhalt-Dessau|Joachim]] đồng cai trị Anhalt-Dessau dưới quyền nhiếp chính của mẹ. Năm 1544, ba anh em đã chia lãnh thổ, Johann được nhận Zerbst và tái lập [[Thân vương quốc Anhalt-Zerbst]] (thân vương quốc trước đó đã tuyệt tự vào năm 1396).<hr> | |||
Thân vương quốc tồn tại đến năm 1793 thì tuyệt tự dòng nam sau cái chết của Thân vương [[Friedrich August xứ Anhalt-Zerbst]] không có con, dẫn đến Thân vương quốc Anhalt-Zerbst được chia cho những người họ hàng thuộc các chi nhánh [[Anhalt-Dessau]], [[Anhalt-Köthen]] và [[Anhalt-Bernburg]]. Chị gái của vị thân vương cuối cùng là [[Yekaterina II của Nga|Catherine Đại đế của Nga]] đã thừa kế [[Jever]] và lãnh thổ này vẫn thuộc về [[Đế quốc Nga]] cho đến năm 1818.<hr> | |||
Nữ hoàng Catherine II có tên ban đầu là '''Sophia Augusta Frederica''', bà là con cả của [[Christian August xứ Anhalt-Zerbst|Christian August, Thân vương xứ Anhalt-Zerbst]], thuộc [[Nhà Ascania]] và [[Joanna Elisabeth xứ Holstein-Gottorp]] thuộc [[Công tước xứ Holstein-Gottorp|Nhà Holstein-Gottorp]]. Năm 1745, bà kết hôn với người anh họ đời thứ 2 của mình là [[Pyotr III của Nga|Karl Peter Ulrich]] sau sẽ được thừa kế ngai vàng Đế chế Nga với đế hiệu [[Pyotr III của Nga]] sau cái chết của người dì là Nữ hoàng [[Yelizaveta của Nga]] vào năm 1762. Nhưng chồng bà quá thân Đức, chính sách không hợp lòng dân nên chỉ ở ngai vàng được 6 tháng thì bị chính vợ ông là Catherine lật đổ và bà được tôn lên ngai vàng với đế hiệu Catherine II. Tuy bà là một người Đức, nhưng bà đã hết lòng vì nước Nga, trong hơn 34 năm cai trị của bà, được xem là thời kỳ hoàng kim của Đế chế Nga.<hr> | |||
Con trưởng của bà với Pyotr III là [[Pavel I của Nga]] đã thừa kế ngai vàng sau cái chết của bà vào năm 1796, triều đại được chuyển từ Anhalt-Zerbst sang Holstein-Gottorp mà lịch sử thường gọi là Romanov-Holstein-Gottorp, và triều đại này cai trị Đế chế Nga cho đến khi chế độ quân chủ bị bãi bỏ vào năm 1917. | |||
|- | |||
! style="background:#ccf"|[[File:COA Holstein-Gottorp-Romanov chivalric.svg|70px]] | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|TRIỀU ĐẠI ROMANOV-HOLSTEIN-GOTTORP | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
[[Vương tộc Romanov|Triều đại Romanov-Holstein-Gottorp]] là sự kết hợp giữa dòng nữ của [[Vương tộc Romanov]] và dòng nam của [[Công tước xứ Holstein-Gottorp|Vương tộc Holstein-Gottorp]]. Sự kết hợp này bắt đầu từ cuộc hôn nhân giữa Hoàng nữ [[Anna Petrovna của Nga]], con gái trưởng của [[Pyotr I của Nga|Pyotr Đại đế]] với người chồng gốc Đức, [[Karl Friedrich xứ Holstein-Gottorp|Công tước Karl Friedrich xứ Holstein-Gottorp]], con trai duy nhất của [[Christian Albrecht xứ Holstein-Gottorp]] và [[Hedvig Sofia của Thụy Điển]]. Con trai duy nhất của cặp đôi này chính là Karl Peter Ulrich, sau sẽ trở thành Hoàng đế [[Pyotr III của Nga]], ông tổ của Hoàng tộc Romanov-Holstein-Gottorp.<hr> | |||
Năm 1741, em gái của [[Anna Petrovna của Nga|Anna Petrovna]] là [[Yelizaveta của Nga|Yelizaveta (Elizabeth)]] được đưa lên ngai vàng sau khi tiểu hoàng đế [[Ivan VI của Nga]] bị phế bỏ. Nữ hoàng Yelizaveta đã đưa con của chị gái là Karl Peter Ulrich về Nga để nuôi dưỡng thành người thừa kế tương lai. Năm 1762, Nữ hoàng băng hà, Karl lên kế vị với đế hiệu [[Pyotr III của Nga]], điều này đã khởi đầu cho triều đại Romanov-Holstein-Gottorp thay thế triều đại Romanov cai trị Đế chế Nga.<hr> | |||
Vì quá thân Đức và chính sách không hợp lòng dân, Pyotr III đã bị chính người vợ của mình là [[Yekaterina II của Nga|Catherine]] phế bỏ, bà đã được tôn lên làm Nữ hoàng Nga với đế hiệu Yekaterina II Đại đế. Trong suốt hơn 34 năm cai trị của bà, Nga đã phát triển mạnh mẽ, được gọi là thời đại hoàng kim của Đế chế Nga. Catherine qua đời vào năm 1796, con trai bà là [[Pavel I của Nga]] đã kế vị ngai vàng và đưa triều đại Romanov-Holstein-Gottorp trở lại và triều đại này cai trị Đế chế Nga cho đến khi nó bị lật đổ vào năm 1917.<hr> | |||
Triều đại Romanov-Holstein-Gottorp trải qua 121 năm cai trị với 7 đời hoàng đế, gồm có: [[Pyotr III của Nga|Pyotr III]] (1-7/1762); [[Pavel I của Nga|Pavel I]] (1796-1801); '''[[Aleksandr I của Nga|Aleksandr I]]''' (1801-1825); '''[[Nikolai I của Nga|Nikolai I]]''' (1825-1885); [[Aleksandr II của Nga|Aleksandr II]] (1855-1881); [[Aleksandr III của Nga|Aleksandr III]] (1881-1894); và '''[[Nikolai II của Nga|Nikolai II]]''' (1894-1917).<hr> | |||
Sau Cách mạng năm 1917, chế độ quân chủ ở Nga bị xoá bỏ, gia đình hoàng gia bị giết hại. [[Kirill Vladimirovich của Nga|Đại công tước Kirill Vladimirovich]], cháu trai dòng dõi nam của Sa hoàng Alexander II, đã tuyên bố mình là người đứng đầu Hoàng gia Nga bị phế truất, vì tính đến năm 1924, những nhân vật cao cấp hơn Kirill Vladimirovich đã bị giết hại hoặc đã chết. | |||
* Kirill được kế vị bởi người con trai duy nhất của mình là [[Vladimir Kirillovich của Nga|Vladimir Kirillovich]], kết hôn với Nữ thân vương [[Leonida Bagration xứ Mukhrani]]. Người con duy nhất của cặp đôi này là [[Maria Vladimirovna của NGa|Maria Vladimirovna]] (sinh năm 1953), người có một người con trong cuộc hôn nhân của bà với Thân vương Franz Wilhelm của Phổ là [[George Mikhailovich của Nga|George Mikhailovich]]. Từ năm 1991, quyền kế vị ngai vàng của Nga bị tranh chấp, phần lớn là do bât đồng về tính hợp lệ của cuộc hôn nhân giữa các triều đại. | |||
<hr> | |||
{{center|'''[[Cách mạng 1917 và thảm sát hoàng gia Nga]]'''}} | |||
Ngày 15/3/1917, [[Nikolai II của Nga|Sa hoàng Nikolai II]] thoái vị và một chính phủ lâm thời được các chính khách Nga trong [[Duma Quốc gia (Đế quốc Nga)|Duma quốc gia]] (quốc hội Nga) được thành lập. [[Công nhân]] và [[Người lính|binh lính]] ở các địa phương cũng tự thành lập các ủy ban, gọi là "[[Xô viết]]", tạo ra hai chính quyền song song tồn tại. Ngày 22 tháng 3 năm 1917, [[Nikolai II của Nga|Nikolai]], lúc đó không còn là hoàng đế nữa, được đoàn tụ với gia đình tại [[Cung điện Aleksander]] ở [[Tsarskoe Selo]]. Ông cùng với gia đình bị chính phủ lâm thời quản thúc. <hr> | |||
Sau khi những người [[Bolshevik]] lên nắm chính quyền, việc giám sát gia đình Sa hoàng trở nên nghiêm khắc hơn, càng ngày càng có nhiều cuộc thảo luận đòi đưa [[Nikolai II của Nga|Nikolai]] ra tòa án để xét xử. Vào ngày 1 tháng 3 năm 1918, Nhà Romanov phải sống với khẩu phần của binh lính, họ phải từ bỏ 10 người hầu thân tín và cũng như từ bỏ bơ và cà phê - những thứ được cho là xa xỉ phẩm.<hr> | |||
Vào đêm 16, rạng sáng ngày 17 tháng 7 năm 1918, tại [[Yekaterinburg]], '''Gia đình hoàng tộc Nga''' bao gồm cựu sa hoàng [[Nikolai II của Nga|Nikolai II]], hoàng hậu [[Alix của Hessen và Rhein|Aleksandra Feodorovna]] và 5 người con của họ là [[Olga Nikolayevna của Nga|Olga]], [[Tatyana Nikolayevna của Nga|Tatyana]], [[Mariya Nikolayevna của Nga|Mariya]], [[Anastasiya Nikolayevna của Nga|Anastasiya]], và [[Aleksey Nikolayevich của Nga|Aleksey]]) và 4 người hầu theo phục vụ họ, [[Yevgeniy Botkin|Eugene Botkin]], [[Anna Stepanovna Demidova|Anna Demidova]], [[Aleksey Trupp]] và [[Ivan Kharitonov]], đã bị xử bắn bởi lệnh của [[Xô viết]] khu vực [[Dãy núi Ural|Ural]], do nguy cơ thành phố sẽ bị chiếm bởi lính [[Bạch vệ]]. Lenin chỉ được thông báo sau khi vụ xử bắn đã xảy ra, ông tỏ ra rất buồn vì đã không ngăn chặn được việc này do nước Nga khi đó đang lâm vào thời kỳ nội chiến hỗn loạn.<hr> | |||
Ngày 18 tháng 7 năm 1918, một ngày sau vụ sát hại gia đình cựu hoàng Nikolai II tại Yekaterinburg, các thành viên của gia đình hoàng gia Nga mở rộng đã phải chịu cái chết dã man khi bị những người Bolshevik giết hại gần [[Alapayevsk]]. Những người này bao gồm: Đại công tước [[Sergey Mikhaylovich của Nga]], Thân vương [[John Konstantinovich của Nga]], Thân vương [[Constantine Constantinovich của Nga]], Thân vương [[Igor Constantinovich của Nga]], Thân vương [[Vladimir Paley]], thư ký của Đại công tước Sergei là Varvara Yakovleva, và Đại công tước phu nhân [[Elisabeth của Hessen và Rhein|Elisabeth Feodorovna]], cháu gái của [[Nữ hoàng Victoria]] và là chị gái của Hoàng hậu Alexandra. | |||
* Sau vụ ám sát chồng mình là [[Sergey Aleksandrovich của Nga|Đại công tước Sergei Alexandrovich]] năm 1905, Elisabeth Feodorovna đã không còn là thành viên của gia đình Hoàng gia nữa và trở thành một nữ tu phục vụ, nhưng dù vậy vẫn bị bắt và bị lên án tử hình cùng với những người Romanov khác.[24] Họ bị ném xuống một hầm mỏ, sau đó người ta thả thuốc nổ xuống, tất cả đều bị bỏ mặc cho chết dần chết mòn ở đó. | |||
* Năm 1981, Đại công tước phu nhân Elisabeth được Giáo hội Chính thống giáo Nga bên ngoài nước Nga phong thánh, và năm 1992 được Tòa thượng phụ Moscow phong thánh. | |||
<hr> | |||
Vào ngày 13 tháng 6 năm 1918, chính quyền cách mạng Bolshevik đã giết [[Mikhail Aleksandrovich của Nga|Đại công tước Michael Alexandrovich]] và Nicholas Johnson (thư ký của Michael) tại Perm. Thi thể của họ không bao giờ được tìm thấy.<hr> | |||
Đại công tước lưu vong [[Nicholas Konstantinovich của Nga]] đã qua đời vào ngày 26 tháng 1 năm 1918, với một số tin đồn cho rằng ông đã bị những người Bolshevik giết. Người con trai của ông là Thân vương Artemy Nikolayevich Romanovsky-Iskander đã bị giết vào năm sau trong [[Nội chiến Nga]].<hr> | |||
Vào tháng 1 năm 1919, chính quyền cách mạng đã giết [[Dmitry Konstantinovich của Nga|Đại công tước Dmitry Konstantinovich]], [[Nicholas Mikhailovich của Nga|Nikolai Mikhailovich]], [[Paul Alexandrovich của Nga|Paul Alexandrovich]] và [[George Mikhailovich của Nga (1863–1919)|George Mikhailovich]], những người đã bị giam giữ trong nhà tù của Pháo đài Saint Peter và Paul ở Petrograd. Bốn Đại công tước được chôn cất trong một ngôi mộ tập thể trong pháo đài.<hr> | |||
Năm 1919, [[Dagmar của Đan Mạch|Thái hậu Maria Feodorovna]], vợ của Sa hoàng Alexander III và mẹ của Nicholas II, đã trốn thoát khỏi Nga trên tàu [[HMS Marlborough (1912)|HMS Marlborough]], do cháu trai bà, Vua [[George V của Anh]], cử đến để giải cứu bà, theo sự thúc giục của chính mẹ mình là [[Alexandra của Đan Mạch|Thái hậu Alexandra]], chị gái của Maria. Sau một thời gian ở Anh, bà trở về quê hương Đan Mạch, đầu tiên sống tại Cung điện Amalienborg, với cháu trai của bà, [[Christian X của Đan Mạch|Vua Christian X]], và sau đó, tại Villa Hvidøre, bà qua đời vào năm 1928.<hr> | |||
===🛑 Pyotr II=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đế quốc Nga|ĐẾ CHẾ NGA]] <hr> [[Vương tộc Romanov|Triều đại Romanov]]<br>(1682 - 1762)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Russia.svg|center|127px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Lesser Coat of Arms of Russian Empire.svg|center|70px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Pyotr II của Nga|Hoàng đế Pyotr II]] <br>(1727 - 1730)}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị quân chủ thứ 3 của Đế quốc Nga và là người đàn ông giữ ngôi hoàng đế cuối cùng thuộc Nhà Romanov}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 ruble of Russia, Peter II 1828.jpg|center|700px]]<hr>{{center|'''1 ruble [[Pyotr II của Nga|Pyotr II]] - 1728<hr>297 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Portrait of Emperor Peter II Alexeyevich - Google Cultural Institute.jpg|120px]]<br>1728<hr>'''[[XF]]'''}} || style="background:#ceb"colspan="1"| {{center|'''Đường kính'''<br>[[40,5 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[78,2%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[28,44 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[22,24008 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[?]]<hr>23.283.000<hr>[[(900,0$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
===🛑 Anna=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đế quốc Nga|ĐẾ CHẾ NGA]] <hr> [[Vương tộc Romanov|Triều đại Romanov]]<br>(1682 - 1762)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Russia.svg|center|127px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Lesser Coat of Arms of Russian Empire.svg|center|70px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Anna của Nga|Nữ hoàng Anna]] <br>(1730 - 1740)}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị quân chủ thứ 4 và áp chót của Đế quốc Nga thuộc Nhà Romanov, Nữ hoàng thứ 2}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 Ruble Anna of Russia 1733.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 ruble [[Anna của Nga|Annna]] - 1733<hr>292 năm (2025)'''}}||{{center|[[Tập tin:Louis Caravaque, Portrait of Empress Anna Ioannovna (1730).jpg|120px]]<br>1733-1734<hr>'''[[XF]]'''}} || style="background:#ceb"colspan="1"| {{center|'''Đường kính'''<br>[[40,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[80,2%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[25,85 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[20,7317 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[?]]<hr>15.000.000<hr>[[(600,0$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#fbd"|NỮ HOÀNG ANNA | |||
|- | |||
|style="background:LemonChiffon;"| | |||
Anna (1693-1740) là con gái thứ 2 trong 3 người con của Sa hoàng [[Ivan V của Nga]] và [[Praskovia Saltykova]]. Mặc dù cha của bà là [[Sa hoàng nước Nga]] và đồng cai trị với người em trai cùng cha khác mẹ của ông là [[Pyotr I của Nga|Pyotr I]], nhưng vì ông bị thiểu năng tâm thần và không có khả năng điều hành đất nước. Vì thế nên, Pyotr trở thành người cai trị chuyên chế của toàn cõi nước Nga. Ivan V băng hà tháng 2 năm 1696, khi mà Anna chỉ mới 3 tuổi, và chú của bà trở thành người cai trị duy nhất của nước Nga. Đến năm 1721 thì Pyotr xưng đế và lập ra Đế chế Nga.<hr> | |||
Mẹ của Anna là người phụ nữ đức hạnh và nuôi dạy con cái rất nghiêm khắc, nhưng ở tuổi thiếu niên, Anna trở thành một cô gái bướng bỉnh, có tính khí khá tệ, khiến bà có biệt danh là "Iv-anna Khủng Khiếp". Anna nổi tiếng với đôi má to, "như trong các bức chân dung của bà", [[Thomas Carlyle]] nói, "giống như một chiếc giăm bông Westphalia".<hr> | |||
Năm 1710, chú của bà là Pyotr Đại đế đã sắp xếp một cuộc hôn nhân giữa Anna (17 tuổi) và [[Friedrich Wilhelm xứ Courland|Friedrich Wilhelm]], [[Công quốc Courland và Semigallia|Công tước xứ Courland và Semigallia]] cũng ngang tuổi với Anna. Nga hoàng đã trao cho Anna của hồi môn lên đến 200.000 rúp. Tại bữa tiệc sau đám cưới, hai chú lùn đã biểu diễn một trò hề bằng cách nhảy ra khỏi những chiếc bánh khổng lồ và nhảy múa trên bàn.<hr> | |||
'''''[[Anna của Nga|Anna trở thành goá phụ chỉ sau 40 ngày kết hôn, chồng bà qua đời bất ngờ khi hai vợ chồng di chuyển từ St.Petersburg về nhà chồng ở Courland. Từ đó bà không lấy chồng nữa cho đến khi qua đời vào năm 47 tuổi]]'''''. Nhưng kẻ thù của bà tuyên bố rằng bà đã có mối tình với Công tước [[Ernst Johann von Biron]], một cận thần nổi tiếng, trong nhiều năm. Bà trở thành nhiếp chính vương của [[Công quốc Courland và Semigallia]] từ năm 1711 đến khi tiếp nhận ngai vàng Đế chế Nga vào năm 1730.<hr> | |||
Năm 1730, Sa hoàng [[Pyotr II của Nga|Pyotr II]] (cháu trai của Sa hoàng [[Pyotr I]]) băng hà vì [[đậu mùa]] khi còn trẻ mà không có con để nối ngôi. Cái chết của ông đã làm dòng nam của [[Nhà Romanov]] tuyệt tự. Ứng cử viên ngai vàng lúc này là ba người con gái còn sống của Sa hoàng [[Ivan V]] là Anna (sinh 1693), [[Catherine Ivanovna của Nga|Catherine]] (sinh 1691), [[Praskovya Ivanovna của Nga|Praskovya]] (sinh 1694) và người con gái còn sống duy nhất của Sa hoàng Pyotr I là [[Yelizaveta của Nga|Elizaveta]] (sinh 1709).<hr> | |||
[[Hội đồng Cơ mật Tối cao|Hội đồng Cơ mật tối cao Nga]] dẫn đầu bởi Hoàng thân [[Dmitry Mikhailovich Golitsyn Trưởng lão|Dmitri Golitzyn]] đã chọn Anna để bước lên ngai vàng, bà được chọn trong khi chị gái của bà là [[Catherine Ivanovna của Nga|Catherine]] thì bị loại trừ, mặc dù Catherine khi đó đang cư trú tại Nga trong khi Anna thì không. Có một số lý do cho điều này: Anna là một góa phụ không có con (như thế nếu Anna lên ngôi thì sẽ không có nguy cơ một thế lực ngoại quốc nào có thể cầm quyền ở Nga thông qua quyền họ nội); bà cũng có một số kinh nghiệm về chính phủ, vì bà đã quản lý Công quốc Courland của người chồng quá cố của mình trong gần hai thập kỷ. Chị gái của bà đã kết hôn với Công tước [[Karl Leopold xứ Mecklenburg-Schwerin]] và có một con gái, hội đồng không muốn một người nước ngoài tham chính.<hr> | |||
Hội đồng Cơ mật Tối cao muốn một người góa phụ không con giống như Anna lên ngôi thay vì các chị em của bà. Vì họ mong muốn rằng một khi đăng quang bà sẽ cảm thấy mang ơn các quý tộc và dễ nghe lời hơn từ lời khuyên của hội đồng. Để đảm bảo điều đó, Hội đồng đã thuyết phục Anna ký kết một tuyên bố về "[[Điều kiện (Nga)|những điều kiện]]", trong đó nói rằng Anna sẽ cai trị theo sự thương nghị của họ và không được phép bắt đầu một cuộc chiến tranh hoặc kêu gọi hòa bình và đặt các loại thuế, chi tiêu ngân sách nhà nước mà không có sự đồng ý của họ. Bà cũng không được xử phạt bất cứ ai trong giới quý tộc mà không qua thưa kiện, không thể ban cho bất cứ ai các khoản tài trợ, không thể bổ nhiệm bất cứ ai vào các vị trí quan lại dù người đó có là người ngoại quốc hay là người Nga mà không có sự đồng ý của Hội đồng.<hr> | |||
Văn bản "[[Điều kiện (Nga)|Điều kiện]]" được trình lên Anna và bà đã ký vào ngày 18 tháng 1 năm 1730, ngay vào thời điểm Pyotr II qua đời (nhưng văn bản này được soạn thảo khi Nga hoàng đang bị bệnh). [[Hội đồng Cơ mật Tối cao]] đã quy định những "Điều kiện" có lợi, phần lớn thuộc về các Thân vương của [[Nhà Dolgorouki]] và [[Nhà Galitzin]]. Chỉ trong vài ngày, một phe phái khác nổi lên tại triều đình phản đối sự thống trị của hai gia tộc này. Vào ngày 7 tháng 3 năm 1730, một nhóm người phản đối đã đến cung điện và kiến nghị với nữ hoàng từ chối "Điều kiện" của Hội đồng. Trong số những người thúc giục Anna làm như vậy có chị gái của bà là Catherine. Anna đã làm theo, bà đã xử chém một số người soạn thảo văn bản và nhiều người khác bị lưu đầy đến [[Siberia]]. Sau đó, bà nắm quyền cai trị như một vị hoàng đế chuyên chế, theo cùng cách thức như những người tiền nhiệm của bà. Vào đêm Anna xé bỏ Điều kiện, một cực quang xuất hiện trên bầu trời, khiến đường chân trời "xuất hiện toàn máu" theo lời của một người đương thời, được nhiều người coi là điềm báo đen tối về triều đại của Anna sẽ như thế nào.<hr> | |||
Ý chí mạnh mẽ và lập dị, Anna được biết đến với sự tàn nhẫn và khiếu hài hước thô tục. Bà đã ép Thân vương Mikhail Alekseevich Golitsyn trở thành gã hề trong cung điện của mình và gả ông cho người hầu gái [[người Kalmyk]] xấu xí của bà là Avdotya Buzheninova. Để ăn mừng lễ cưới, Nữ hoàng đã cho xây dựng một [[cung điện băng]]. Thân vương Golitsyn và cô dâu của mình bị nhốt trong một chiếc lồng trên lưng một con voi và diễu hành qua các con phố đến công trình này để trải qua đêm tân hôn trong cung điện băng, dù đang giữa mùa đông giá lạnh. Anna đã bảo cặp đôi này phải ân ái và giữ chặt cơ thể nếu không muốn chết cóng. Cuối cùng, cặp đôi đã sống sót khi người hầu gái đổi một chiếc vòng cổ ngọc trai lấy một chiếc áo khoác da cừu từ một trong những người lính canh.<hr> | |||
Vì yêu thích săn bắt, Anna luôn để một khẩu súng ngắn bên cửa sổ để bà có thể bắn chim bất cứ lúc nào trong ngày khi bà cảm thấy muốn đi săn.<hr> | |||
Trường Sân khấu Hoàng gia, được gọi là [[Học viện Ba lê Nga Vaganova]] sau năm 1957, được thành lập dưới thời trị vì của Anna vào ngày 4 tháng 5 năm 1738. Đây là trường ba lê đầu tiên ở Nga, cũng như là trường thứ hai trên thế giới. Trường được thành lập thông qua sáng kiến của bậc thầy và giáo viên ba lê người Pháp [[Jean-Baptiste Landé]].<hr> | |||
Dưới thời trị vì của Anna, Nga đã tham gia vào 2 cuộc xung đột lớn, gồm có [[Chiến tranh Kế vị Ba Lan]] (1733-1735) và [[Chiến tranh Nga-Thổ (1735-1739)]]. Cuộc chiến chống lại người Ottoman kéo dài bốn năm rưỡi, một trăm nghìn người và hàng triệu rúp; gánh nặng của nó đã gây ra căng thẳng lớn cho người dân Nga, và cuộc chiến chỉ giúp Nga giành được thành phố Azov và các vùng phụ cận cho Nga. Tuy nhiên, tác động của nó lớn hơn những gì chúng ta thấy ban đầu.<hr> | |||
Hai sứ thần [[Nhà Thanh|Đại Thanh]] đến triều đình của Anna, đầu tiên là tại Moscow vào năm 1731, sau đó là tại St Petersburg vào năm sau, là những sứ thần duy nhất mà Đại Thanh cử đến châu Âu trong suốt thế kỷ XVIII. Những sứ thần này cũng độc đáo ở chỗ họ đã quỳ lạy trước một nhà cai trị nước ngoài. <hr> | |||
Khi sức khỏe của bà suy yếu, Anna tuyên bố cháu trai của bà là [[Ivan VI của Nga|Đại vương công Ivan Antonovich]] sẽ là người kế vị và chỉ định Biron làm nhiếp chính. Đây là một nỗ lực để đảm bảo dòng dõi của cha bà là [[Ivan V của Nga]] sẽ tiếp tục nắm giữ ngai vàng đế chế, và loại trừ con cháu của Pyotr Đại đế khỏi việc thừa kế ngai vàng.<hr> | |||
Anna qua đời vào ngày 17 tháng 10 năm 1740 ở tuổi 47 vì sỏi thận khiến bà qua đời một cách chậm rãi và đau đớn. Những lời cuối cùng của bà tập trung vào Biron. Ivan VI khi đó mới chỉ là một đứa trẻ 2 tháng tuổi, và mẹ của ông, [[Anna Leopoldovna (Elisabeth xứ Mecklenburg-Schwerin)|Anna Leopoldovna]], bị ghét bỏ vì các cố vấn và họ hàng người Đức của bà. Hậu quả là, ngay sau cái chết của Anna, [[Yelizaveta của Nga|Elizabeth Petrovna]], con gái hợp pháp của Pyotr Đại đế, đã giành được sự ủng hộ của dân chúng, giam Ivan VI vào ngục tối và trục xuất mẹ ông.<hr> | |||
Mẹ của tiểu Hoàng đế [[Ivan VI của Nga]], [[Anna Leopoldovna (Elisabeth xứ Mecklenburg-Schwerin)|Anna Leopoldovna]] là cháu gái gọi Nữ hoàng Anne của Nga là dì, vì mẹ của Leopoldovna là chị gái của Nữ hoàng Anne. Anna Leopoldovna kết hôn với [[Anthony Ulrich, Công tước xứ Brunswick]], ông này là em trai ruột của '''[[Karl I xứ Braunschweig-Wolfenbüttel]]''', vị Thân vương đời thứ 2 của [[Thân vương quốc Braunschweig-Wolfenbüttel]] đến từ nhánh [[Braunschweig-Bevern]], cha của họ là vị thân vương đầu tiên [[Ferdinand Albrecht II xứ Braunschweig-Wolfenbüttel]]. Thông qua em gái [[Elisabeth Christine xứ Brunswick-Wolfenbüttel-Bevern|Elisabeth Christine]], ông trở thành anh vợ của vua Phổ [[Friedrich II của Phổ|Friedrich Đại đế]]. Thông qua em gái [[Luise xứ Brunswick-Wolfenbüttel]], ông trở thành bác của Vua [[Friedrich II của Phổ]]. Thông qua em gái [[Sophie Antoinette xứ Brunswick-Wolfenbüttel]], ông trở thành bác của [[Franz I xứ Sachsen-Coburg-Saalfeld]] (ông tổ của các vương tộc Sachsen-Coburg và Gotha; Sachsen-Coburg-Gotha-Kohary và Sachsen-Coburg-Gotha-Braganza - các vương tộc trị vì Vương quốc Bỉ, Anh, Bulgaria và Bồ Đào Nha). Thông qua em gái [[Juliana Maria xứ Brunswick-Wolfenbüttel]], ông trở thành anh vợ của [[Frederik V của Đan Mạch]]. | |||
|} | |||
===🛑 Catherine II=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đế quốc Nga|ĐẾ CHẾ NGA]] <hr> [[Vương tộc Romanov|Triều đại Romanov]]<br>(1682 - 1762)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Russia.svg|center|127px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Lesser Coat of Arms of Russian Empire.svg|center|70px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Yekaterina II của Nga|Nữ hoàng Catherine II]] <br>(1761 - 1796)}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị quân chủ thứ 8 và Nữ hoàng thứ 4 của Đế chế Nga, bà đến từ [[Nhà Ascania]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 Rouble - Catherine II of Russia 1764.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 ruble [[Yekaterina II của Nga|Catherine Đại đế]] - 1764<hr>261 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Catherine II by A.Albertrandi after Rokotov.jpg|120px]]<br>1764-1765<hr>'''[[AU]]'''}} || style="background:#ceb"colspan="1"|{{center|'''Đường kính'''<br>[[39,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[75,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[24,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[18,0 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[3.016.452]]<hr>16.250.000<br>[[(639,8$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#fbd"|CATHERINE II | |||
|- | |||
|style="background:LemonChiffon;"| | |||
[[Tập tin:Russian Empire 1792 Map.jpg|thumb|250px|Đế chế Nga dưới thời Catherine, năm 1792]] | |||
Catherine Đại đế là Nữ hoàng thứ 4 và là nữ hoàng trị vì lâu nhất trong lịch sử của chế độ [[Chế độ chuyên chế Sa hoàng|quân chủ chuyên chế]] Đế quốc Nga (34 năm, từ 28 tháng 6 năm 1762 cho đến khi băng hà). Mặc dù xuất thân là [[người Đức]] thuộc [[Nhà Ascania]], nhưng bà có đóng góp to lớn trong việc đưa [[Đế quốc Nga]] vươn mình trở thành một [[cường quốc]] tại [[châu Âu]] vào [[thế kỷ 18]]. Thời đại trị vì của bà được gọi là '''Thời đại Yekaterina''', được ví như thời kỳ hoàng kim của [[đế quốc Nga]], đặc biệt là đối với giai cấp quý tộc Nga. Bà tích cực hỗ trợ cho ý tưởng [[thời kỳ Khai sáng]], tạo tiền đề cho chủ nghĩa Khai sáng ở Nga. '''''Bà là 1 trong 2 nữ hoàng Nga không thuộc Hoàng tộc Romanov, người đầu tiên là Catherine I, vợ của Pyotr Đại đế'''''.<hr> | |||
Mẹ bà là [[Joanna Elisabeth xứ Holstein-Gottorp]]. Cha bà là [[Christian August xứ Anhalt-Zerbst|Christian August, Thân vương xứ Anhalt-Zerbst]], thuộc [[Nhà Ascania]] cai trị [[Thân vương quốc Anhalt]]. Vào thời điểm bà chào đời, cha bà giữ cấp bậc tướng Phổ với tư cách là thống đốc thành phố Stettin. Tuy nhiên, vì người anh họ thứ hai của bà là Pyotr III (chồng bà sau này) đã cải sang Chính thống giáo, nên anh trai của mẹ bà đã trở thành người thừa kế ngai vàng Thụy Điển và hai người anh em họ đời đầu của bà là '''[[Gustav III của Thụy Điển|Gustav III]]''' và [[Karl XIII của Thụy Điển|Karl XIII]], đã trở thành [[Quốc vương Thụy Điển|Vua của Thụy Điển]].<hr> | |||
Tháng 1 năm 1793, vua [[Louis XVI của Pháp]] bị tử hình, Ekaterina II bị cơn sốc thật sự và phát bệnh. Cả triều đình nước Nga để tang vua Pháp. Để giữ cho chế độ quân chủ nước Nga không trượt theo vết xe của nước Pháp, Ekaterina lập tức cắt quan hệ [[ngoại giao]] và [[thương mại|buôn bán]] với nước Pháp. Những gì của nước Pháp [[cách mạng]] tồn tại trên nước Nga lúc này đều bị loại trừ. Những tác phẩm của các nhà tư tưởng và khai sáng nước Pháp đều có lệnh đưa ra khỏi [[thư viện]] và đem đốt đi. Nước Nga đón nhận hàng nghìn quý tộc Pháp sang cư trú. [[Charles X của Pháp|Bá tước xứ Artois]] em trai vua Louis XVI đến Sankt-Peterburg được đón tiếp nồng hậu. Nữ hoàng Ekaterina II trao cho bá tước 1 triệu [[ruble]] và một [[kiếm|thanh kiếm]] có ghi dòng chữ ở lưỡi kiếm: ''Chúa phù hộ cho đức vua'' (ám chỉ Louis XVI). | |||
|} | |||
===🛑 Aleksandr I=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đế quốc Nga|ĐẾ CHẾ NGA]] <hr> [[Vương tộc Romanov|Triều đại Romanov]]<br>(1682 - 1762)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Russia.svg|center|127px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Lesser Coat of Arms of Russian Empire.svg|center|70px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Aleksandr I của Nga|Sa hoàng Aleksandr I]] <br>(1801 - 1825)}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị hoàng đế thứ 10 của Đế quốc Nga thuộc Nhà Romanov và thứ 3 của Nhà Romanov-Holstein-Gottorp}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 Ruble - Aleksandr I 1818.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 ruble [[Aleksandr I của Nga|Aleksandr I]] - 1818<hr>207 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Alexander I of Russia by G.Dawe (1826, Peterhof)-crop.jpg|120px]]<br>1810-1826<hr>'''[[MS|UNC]]'''}} || style="background:#ceb"colspan="1"|{{center|'''Đường kính'''<br>[[35,5 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[86,8%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[20,73 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[17,99364 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[16.275.000]]<hr>12.200.000<br>[[(489,31$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#fbd"|ALEKSANDR | |||
|- | |||
|style="background:LemonChiffon;"| | |||
Đồng xu bạc 1 ruble này được đúc và lưu hành qua 2 đời vua, là [[Aleksandr I của Nga|Aleksandr I]] và [[Nikolai I của Nga|Sa hoàng Nikolai I]]. Tuy nhiên chỉ đúc duy nhất trong 1 năm đầu trị vì của Nikolai I<hr> | |||
Aleksandr I là Sa Hoàng của đế quốc Nga từ 23 tháng 3 năm 1801 đến 1 tháng 12 năm 1825. Ông là người Nga đầu tiên trở thành [[Danh sách quân chủ Ba Lan|Vua của Ba Lan]], trị vì từ 1815 đến 1825, và cũng là vị [[Đại vương công Phần Lan]] (1809-1925) người Nga đầu tiên. Ông là con trai trưởng của Nga hoàng [[Pavel I của Nga|Pavel I]] với người vợ thứ 2 là [[Sophie Dorothee xứ Württemberg]]. Ông tiếp nhận ngai vàng sau khi vua cha bị ám sát. Thông qua mẹ mình, ông gọi [[Friedrich Eugen xứ Württemberg|Công tước Friedrich Eugen xứ Württemberg]] là ông ngoại, gọi [[Friedrich I của Württemberg]] là chú ruột và [[Wilhelm I của Württemberg]] là em họ đời đầu của ông. | |||
* Vợ ông là [[Luise xứ Baden]], cháu nội của [[Karl Friedrich xứ Baden]], cũng vì lý do này mà trong quá trình [[Hòa giải Đức]] Aleksandr I đã cố gắng bảo vệ Baden và giúp cho nó có thể nhiều lãnh thổ. Tương tự đó, Nga hoàng cũng bảo vệ và tạo nhiều lợi thế cho [[Công quốc Württemberg]], quê hương của mẹ ông cũng như một số thân vương họ hàng khác ở Đức.<hr> | |||
Hoàng đế [[Joseph II của Thánh chế La Mã]] và [[Friedrich II của Phổ|Friedrich Đại đế của Phố]] chính là cha đỡ đầu của ông. Tên của ông được đặt theo [[Aleksandr Yaroslavich Nevsky]] (thánh bảo trợ của Saint Petersburg), là Đại vương công Novgorod và Vladimir. Ông là một vị tướng nổi tiếng trong lịch sử Nga, với những chiến công hiển hách chống lại sự xâm lược của người Thụy Điển và [[Hiệp sĩ Teuton]]. Ông là một anh hùng dân tộc của nước Nga, và đứng đầu trong danh sách 12 danh nhân vĩ đại của nước này.<hr> | |||
Từ bé, ông và em trai là [[Konstantin Pavlovich (Romanov)|Đại công tước Constantine]] đã được bà ngoại là [[Yekaterina II của Nga|Nữ hoàng Catherine]] nuôi dưỡng ở triều đình. Vì tính khí thất thường của cha ông nên bà ngoại của ông đã có ý định tước bỏ quyền kế vị của cha ông mà cho ông lên kế vị ngai vàng Đế quốc Nga. Người ta tin rằng, Alexander là người đứng sau vụ ám sát cha mình, hoặc ít nhất là có tham gia<hr> | |||
Dưới thời trị vị của mình, ông phải đương đầu với sự hỗn loạn bởi [[Chiến tranh Napoleon]]. Ông bốn lần thay đổi chính sách của Nga quốc từ thái độ trung gian hòa giải cho phe chống đối Napoleon rồi làm đồng minh với Napoleon, quanh đi quẩn lại tới 1812 rồi lại trở thành kẻ thù của Napoleon. Năm 1805 ông tham gia cùng với người Anh vào Chiến tranh Liên minh thứ ba chống lại Napoleon, nhưng sau thất bại nặng nề ở [[trận Austerlitz]] ông đổi phe và lập một liên minh với Napoleon bằng [[Hiệp ước Tilsit]] (1807) và gia nhập Hệ thống phong tỏa đại lục của Napoleon. Ông tham chiến trong một cuộc chiến tranh hải quân quy mô nhỏ chống lại Anh trong những năm 1807 - 1812. Ông và Napoleon không bao giờ bằng lòng với nhau, đặc biệt là về chuyện Ba Lan, và liên minh tan vỡ năm 1810. Chiến thắng vĩ đại nhất của Sa hoàng đến vào năm 1812 trong [[Chiến tranh Nga – Pháp (1812)|Cuộc xâm lược Nga quốc của Napoleon]] đây là một thảm bại toàn diện của người Pháp.<hr> | |||
Thời đại của ông cũng chứng kiến sự chinh phục và sáp nhập những lãnh thổ bây giờ là [[Gruzia|Georgia]], [[Dagestan]], và phần lớn [[Azerbaijan]] từ [[Nhà Qajar|Ba Tư]] vào Nga, bằng [[Chiến tranh Nga-Ba Tư (1804–1813)]] và kết quả là [[Hiệp ước Gulistan]]. Điều này cũng đến từ Hiệp ước Tilsit giữa ông với Napoleon, khiến cho người Pháp quay lưng lại với Ba Tư và Ottoman khiến cho Nga có thể đánh chiếm các vùng đất này<hr> | |||
Thoả thuận giữa Alexandre với Napoleon trong [[Hiệp ước Tilsit]] (1807) đã đưa Nga trở thành Đồng minh của Pháp, Pháp cam kết hỗ trợ Nga chống lại Đế quốc Ottoman trong khi đó Nga đồng ý tham gia [[Hệ thống phong tỏa Lục địa]] chống lại Đế quốc Anh. Napoléon đảm bảo chủ quyền và giữ nguyên hiện trạng của [[Công quốc Oldenburg]] và một số nhà nước nhỏ khác do họ hàng người Đức của Sa hoàng cai trị.<hr> | |||
Thoả thuận giữa [[Friedrich Wilhelm III của Phổ]] với Napoleon trong Hiệp ước Tilsit đã làm lãnh thổ của Vương quốc Phổ bị thu hẹp hơn một nửa theo các điều khoản của hiệp ước Tilsit, từ 5.700 xuống còn 2.800 dặm vuông của Phổ (323.408,4 đến 158.867,28 km2 (124.868,68 đến 61.339,00 dặm vuông)). So với 9,75 triệu dân mà đất nước này có trước hiệp ước, lãnh thổ còn lại của Phổ không còn quá 4,5 triệu dân.[5] Nguồn thu của nhà nước, trước đây lên tới 40 triệu thaler mỗi năm, nay đã giảm với tỷ lệ còn lớn hơn; các tỉnh được nhượng lại khá giàu có và màu mỡ, và hàng triệu thaler đã được chi vào việc cải thiện chúng. Hầu như tất cả những gì Phổ có được nhờ sự chia cắt Ba Lan (1772–1795) đều bị lấy đi. Sachsen, cựu liên minh của Phổ, là nơi tiếp nhận các tỉnh; và '''Nga, đồng minh hùng mạnh hơn trước đây, đã giành được lãnh thổ với dân số 200.000 người'''. <hr> | |||
Hoàng đế Pháp Napoleon I bị Liên minh thứ Sáu đánh tan ở [[Trận Leipzig]] vào mùa thu năm 1813. Sau trận đánh, Hoàng đế Pháp buộc phải giải tán [[Liên bang Rhein]][43], [[Công quốc Warszawa]] và Vương quốc Ý. Quân đội của Liên minh thứ sáu theo lệnh của Sa hoàng Aleksandr I nhanh chóng vượt sông [[Rhein]], tiến vào nước Pháp. Cánh quân Phổ do [[Gebhard Leberecht von Blücher]] chiếm cứ phía Bắc Paris. Quân của hoàng thân Frederick, công tước Württemberg chỉ huy đã kéo đến chiếm giữ các vị trí ở Saint-Maur về phía tây nam, với sự hỗ trợ của quân đội Áo. Các đạo quân Nga sau đó đã đánh chiếm đồi Montmartre và các điểm cao khác, buộc đối quân Pháp phải đầu hàng.<hr> | |||
Sau khi bao vay Paris, leksandr I đã cử một phái đoàn sang gặp người Pháp để đẩy nhanh việc đầu hàng. Ông đã tuyên bố mình sẽ mang hòa bình tới Pháp hơn là hủy diệt nó. Biết tin này, Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng Pháp là [[Charles-Maurice de Talleyrand-Périgord|Hoàng thân Talleyrand]] vội vàng mời Sa hoàng Nga, quốc vương Phổ và đại biểu của Áo đến tại tư đình của ông ta ở Paris mở một phiên họp, thảo luận về vấn đề tương lai của nước Pháp. Tại phiên họp này, Talleyrand đã ra sức chủ trương khôi phục lại [[Bourbon phục hoàng|vương triều Bourbon]]. Ông ta cố gắng làm cho Sa hoàng tin rằng, chỉ có việc vương triều Bourbon phục hoàng, thì mới có thể bảo đảm cho quyền lợi của các nước Đồng minh tại Âu châu. Ngày 31/3/1814, Talleyrand trao chìa khóa thành Paris cho Liên minh thứ sáu và ngay lúc đó, quân đội Liên minh gồm Nga, Phổ và Áo cùng tiến vào Paris. Ngày 2 tháng 4, Thượng viện thông qua Acte de déchéance de l'Empereur, tuyên bố Napoleon bị truất phế. Napoleon ở Fontainebleau nghe tin này liền phản đối, nhưng người cộng sự kêu gọi ông đầu hàng, Napoleon chấp nhận và bị đi đày.<hr> | |||
Với tâm trí suy yếu, Alexander ngày càng trở nên nghi ngờ, khép kín, sùng đạo và ít hoạt động hơn. Một số nhà sử học kết luận rằng hồ sơ của ông "trùng khớp chính xác với [[tâm thần phân liệt]]: một người khép kín, ẩn dật, khá nhút nhát, hướng nội, không hung hăng và có phần thờ ơ". Aleksandr chết mà không có con hợp pháp sống sót và sau một thời gian hỗn loạn bao gồm thất bại của [[Khởi nghĩa tháng Chạp]] của các sĩ quan tự do trong quân đội, em trai ông là, [[Nikolai I của Nga|Nikolai I]] lên kế tự.<hr> | |||
Một truyền thuyết phổ biến kể rằng Sa hoàng Alexander đã giả chết và sống ẩn dật dưới cái tên Feodor Kuzmich, một giả thuyết thường được các nhà văn nổi tiếng khơi lại. | |||
|} | |||
===🛑 Nikolai I=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đế quốc Nga|ĐẾ CHẾ NGA]] <hr> [[Vương tộc Romanov|Triều đại Romanov]]<br>(1682 - 1762)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Russia.svg|center|127px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Lesser Coat of Arms of Russian Empire.svg|center|70px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Nikolai I của Nga|Sa hoàng Nikolai I]] <br>(1825 - 1855)}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị quân chủ thứ 11 của Đế quốc Nga thuộc Nhà Romanov và thứ 4 của Nhà Romanov-Holstein-Gottorp}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:Ruble - Nikolai I - Aleksandr II 1849.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 ruble [[Nikolai I của Nga|Nikolai I]] - 1849<hr>176 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Botman - Emperor Nicholas I (cropped).jpg|120px]]<br>'''1832-1858<hr>[[AU]]'''}} || style="background:#ceb"colspan="1"|{{center|'''Đường kính'''<br>[[35,5 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[86,6%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[20,73 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[17,99364 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[1.708.101]]<hr>8.200.000<br>[[(322,84$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#fbd"|NIKOLAI I | |||
|- | |||
|style="background:LemonChiffon;"| | |||
Nikolai là con trai thứ 3 và con út của [[Pavel I của Nga]] và [[Sophie Dorothee xứ Württemberg]]. Ông là em trai của [[Aleksandr I của Nga]]. Sau cái chết của Aleksandr, theo đúng quy trình thì ngai vàng sẽ phải để lại cho anh tai kế của ông là [[Konstantin Pavlovich (Romanov)|Đại vương công Konstantin Pavlovich]], cuộc tranh cãi quyền kế vị đã trở thành cái cơ của [[Khởi nghĩa tháng Chạp]] chống lại Nikolai, nhưng đã bị ông dập tắt.<hr> | |||
Vào đêm trước khi ông qua đời, Đế quốc Nga đã đạt đến đỉnh cao về mặt lãnh thổ, trải dài trên 20 triệu km2 (7,7 triệu dặm vuông). Ông đã hoàn thành chinh phục Kavkaz khi đánh bại [[Qajar Iran]] trong [[Chiến tranh Nga-Ba Tư (1826–1828)]]. Ông cũng đã kết thúc Chiến tranh Nga-Thổ Nhĩ Kỳ (1828–1829) một cách thành công. Nikolas I đóng vai trò quan trọng trong việc giúp tạo ra một nhà nước Hy Lạp độc lập.<hr> | |||
Nikolas đã dẫn dắt nước Nga vào [[Chiến tranh Krym]] (1853–1856), với những kết quả thảm khốc. Các nhà sử học nhấn mạnh rằng việc ông quản lý chặt chẽ quân đội đã cản trở các vị tướng của mình, cũng như chiến lược sai lầm của ông. Sức kháng cự của quân Nga phần lớn do khả năng sử dụng mìn ngầm trên biển tại Kronstadt và Sevastopol. Thủy lôi trong chiến thuật hải quân ngày nay có lẽ bắt đầu từ chiến tranh vùng Krym<hr> | |||
Thông qua vợ của mình là [[Charlotte Wilhelmine của Phổ]], ông là con rể của Vua [[Friedrich Wilhelm III của Phổ]] và [[Luise xứ Mecklenburg-Strelitz]], vì thế ông là em vợ vua [[Friedrich Wilhelm IV của Phổ]] và [[Wilhelm I, Hoàng đế Đức]]. Nikolas có với nhau 7 người con, bao gồm vị Nga hoàng tương lai [[Alexander II của Nga|Alexander II]] và [[Olga Nikolayevna của Nga, Vương hậu Württemberg]].<hr> | |||
[[Karl I của Württemberg]] là con rể của ông, nhưng Karl là người đồng tính luyến ái nên họ không có bất cứ hậu duệ nào nên để lại ngai vàng cho người cháu là [[Wilhelm II của Württemberg]].<hr> | |||
Ngày ông chính thức lên ngôi là ngày 14/12/1825, nhằm vào ngày Thứ hai - một ngày mà người dân Nga cho rằng không may mắn. Với lại, ngày thứ Hai diễn ra trong thời tiết rất lạnh với nhiệt độ -8 độ C. Đây được người dân Nga coi là một điềm xấu cho thời kỳ trị vì sắp tới của ông vua này. Quả đúng như vậy: vừa lên ngôi được vài ngày, Sa hoàng bị 3.000 quân lính tiến hành [[Khởi nghĩa tháng Chạp]] làm ngai vàng ông ta nghiên ngả. Sau cùng, ông ta đem đại bác vào và cuộc khởi nghĩa bị đàn áp dã man.<hr> | |||
Ông có sở thích chỉ định các tướng lĩnh vào bộ máy chính quyền, với lý do cần một chính quyền mạnh mẽ và quyết đoán. Trong số những người phục vụ như các bộ trưởng của Nikolai I, 61% trước đó đã phục vụ như một vị tướng hay một đô đốc. Trong thời gian trị vì, ông đã từng chỉ định ít nhất 30 tướng lĩnh, những người từng chiến đấu chống Pháp, Thổ Nhĩ Kỳ và Thụy Điển.<hr> | |||
Sa hoàng bãi bỏ tính tự trị của một số lãnh thổ phụ thuộc Nga. Theo chính sách này, quyền tự trị của vùng Bessarabia đã được bãi bỏ vào năm 1828, Ba Lan vào năm 1830 và người Do Thái Qahal. Riêng '''[[Đại công quốc Phần Lan]]''' vẫn còn giữ lại quyền tự trị, điều này đến từ việc người Phần Lan không thực hiện cách mạng chống lại Nga hoàng và một phần do sự tham gia trung thành của quân đội Phần Lan trong việc đàn áp cuộc Cách mạng tháng 11 Ba Lan.<hr> | |||
Tuyến đường sắt đầu tiên của Nga được khai trương vào năm 1838, một tuyến đường dài 16 dặm giữa Saint Petersburg và khu ngoại ô Tsarskoye Selo. Thứ hai là tuyến đường sắt Saint Petersburg - Moscow, được xây dựng vào năm 1842-51.<hr> | |||
Bộ trưởng Tài chính Nga Georg von Cancrin (1823–1844) đã thuyết phục hoàng đế về những lợi ích khi mời nhà khoa học Phổ [[Alexander von Humboldt]] đến Nga điều tra những vùng có thể tìm thấy và sản xuất tài nguyên khoáng sản. Chính phủ Nga đã trả chi phí của Humboldt cho cuộc thám hiểm kéo dài tám tháng qua Nga vào năm 1829, kết quả là [[kim cương]] tìm thấy ở vùng núi Ural. Humboldt xuất bản nhiều tập về cuộc thám hiểm của Nga, ông đã cống hiến cho Sa hoàng mặc dù ông ngày càng không tán thành chính sách của nhà vua.<hr> | |||
Nikolai đã chú ý đến việc xây dựng quân đội. Với dân số 60-70 triệu người, quân đội được xây dựng với 1 triệu quân. Trong suốt thời gian trị vì của Nikolai, Nga được coi là một cường quốc quân sự lớn với sức mạnh đáng kể. Cuối cùng, cuộc chiến tranh Krym vào cuối triều đại đã chứng minh cho thế giới những gì mà trước đây người ta không nhận ra: Nga yếu kém về mặt quân sự, lạc hậu về công nghệ, và thiếu năng lực hành chính.<hr> | |||
Trong chính sách đối ngoại, Nikolai I đã hành động với mục đích gìn giữ "[[Đại hội Viên|Trật tự Viên]]" (1814) mà Hoàng thân [[Klemens von Metternich]] của Áo cùng các cường quốc khác dày công xây dựng. Quân đội Nga của Nikolai thẳng tay đàn áp hầu hết mọi cuộc cách mạng diễn ra ở các nước Âu châu theo gương của anh trai là Aleksandr I, đã mang lại cho ông ta biệt hiệu "sen đầm của châu Âu".<hr> | |||
Năm 1815, khi Nikolai dừng chân tại Pháp, ông đã gặp và kết bạn với [[Louis-Philippe I của Pháp |Louis Philippe, Công tước xứ Orleans]], mà 15 năm sau đó vị công tước này sẽ trở thành vua của Pháp sau [[Cách mạng tháng Bảy]]. Nikolai thực sự kính phục bạn mình vì sự ấm cúng, sự thông minh, cách cư xử và ân sủng của công tước Pháp với mình. Nhưng Nikolas là người chống chủ nghĩa tự do, trong khi đó Louis-Philippe I là người theo chủ nghĩa tự do, vì thế Nikolai đã ghét Louis-Philippe, đến mức anh từ chối sử dụng tên của vua Pháp, gọi nhà vua Pháp là "kẻ cải trang".<hr> | |||
Chính sách của Nikolai đối với [[Đế quốc Ottoman]] là sử dụng [[Hiệp ước Küçük Kaynarca]] của [[Ekaterina II của Nga]] ký với Sultan Thổ [[Mahmud I]] năm 1774, cho phép Nga trở thành người bảo vệ các dân tộc theo tôn giáo Công giáo Chính thống ở Balkans, như là một cách đặt Đế chế Ottoman vào lĩnh vực ảnh hưởng của Nga.<hr> | |||
Nicholas qua đời ngày 2 tháng 3 năm 1855. Nhiều sử gia cho là ông đã tự đầu độc mình sau khi quân Nga bị đánh đại bại tại Eupatoria trong cuộc chiến tranh Krym. Tuy nhiên, các tài liệu lịch sử của Nga khẳng định ông qua đời vì cảm lạnh dẫn tới viêm phổi.<hr> | |||
|} | |||
===🛑 Nikolai II=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đế quốc Nga|ĐẾ CHẾ NGA]] <hr> [[Vương tộc Romanov|Triều đại Romanov]]<br>(1682 - 1762)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Russia.svg|center|127px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Lesser Coat of Arms of Russian Empire.svg|center|70px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Nikolai II của Nga|Sa hoàng Nikolai II]] <br>(1894 - 1917)}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị quân chủ thứ 14 và cuối cùng của Đế quốc Nga thuộc Nhà Romanov và thứ 8 của Nhà Romanov-Holstein-Gottorp}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 ruble Nikolai II Romanov Dynasty - 1913.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 Ruble [[Nikolai II của Nga|Nikolai II]] và [[Mikhail I của Nga|Mikhail I]]_[[Vương tộc Romanov|Kỷ niệm 300 năm Triều đại Romanov (1613-1913)]]<hr>112 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Nicholas II by E.Lipgart (1914, Russian museum) - detail.jpg|120px]]<br>1913<hr>'''[[AU]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[33,65 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[20,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[18,0 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[1.450.000]]<hr>3.500.000<br>[[(151,52$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
|} | |||
==📕 ĐẠI CÔNG QUỐC PHẦN LAN== | |||
===Nikolai II=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đế quốc Nga|ĐẾ CHẾ NGA]] <hr> [[Đại công quốc Phần Lan]]<br>(1809 - 1917)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:GD Finland 1809-1821.PNG|center|130px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Grand Duchy of Finland Arms.svg|center|53px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Woldemar von Boeckmann|Toàn quyền Woldemar von Boeckmann]] <br>(1908 - 1909)}} | |||
|- | |||
|style="background:#fcc;"colspan="6"|{{center|Toàn quyền thứ 14 của Đế chế Nga}} | |||
|- | |||
| [[File:2 Markkaa Finland 1908.png|center|700px]]<hr>{{center|'''2 Markkaa [[Đại công quốc Phần Lan]] - 1908<hr>117 năm (2025)'''}}||{{center|1865-1908<hr>'''[[AU|AU-58]]'''}} || style="background:#ceb"colspan="1"|{{center|'''Đường kính'''<br>[[27,5 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[86,8%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[10,3657 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[8,9974 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[124.000]]<hr>3.461.000<br>[[(136,26$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:LightCoral;"|NHỮNG THÔNG TIN ĐẶC BIỆT LIÊN QUAN | |||
|- | |||
|style="background:LemonChiffon;"| | |||
* Đại công quốc Phần Lan, cũng được gọi là '''Đại Thân vương quốc Phần Lan''', là [[Nước thừa kế|tiền thân]] của [[Phần Lan]] hiện đại. Nó tồn tại từ năm 1809 đến năm 1917 như một [[Lãnh thổ tự trị|nhà nước tự trị]] trong [[Đế quốc Nga]]. Hoàng đế Nga là Đại công tước và cai trị thông qua một viên Toàn quyền.<hr> | |||
* Có nguồn gốc từ thế kỷ XVI như một [[đại công quốc]] danh nghĩa do [[Quốc vương Thụy Điển|Vua Thụy Điển]] nắm giữ, đất nước này đã trở thành quốc gia tự trị sau khi bị Nga sáp nhập trong [[Chiến tranh Nga – Thụy Điển (1808–1809)|Chiến tranh Phần Lan 1808–1809]]. Do cấu trúc chính phủ của Đế quốc Nga và sáng kiến của Phần Lan, quyền tự chủ của Đại công quốc đã mở rộng cho đến cuối thế kỷ XIX. [[Thượng viện Phần Lan]], được thành lập vào năm 1809, đã trở thành cơ quan chính phủ quan trọng nhất và là tiền thân của [[Chính phủ Phần Lan]] hiện đại, [[Tòa án Tối cao Phần Lan]] và [[Tòa án Hành chính Tối cao Phần Lan]]. <hr> | |||
* Sự hình thành của đại công quốc bắt nguồn từ [[Hiệp ước Tilsit]] giữa '''[[Aleksandr I của Nga|Sa hoàng Alexander I của Nga]]''' và '''[[Napoleon I|Hoàng đế Napoleon I của Pháp]]'''. Hiệp ước này giúp Nga và Pháp liên minh để chống lại Anh và Thuỵ Điển. Nga xâm lượt Phần Lan của Thuỵ Điển như là một hình thức trừng phạt và ngăn chặn nước này. Người Phần Lan chống Nga dưới nhiều hình thức, nhà cầm quyền Nga đã ra tuyên bố sẽ tôn trọng đức tin Tinh Lành và các quyền của người Phần Lan nếu họ thề trung thành với Sa hoàng Nga. Cuối cùng thoả thuận được thực hiện. Tuy Phần Lan được cai trị thông qua một toàn quyền được Nga hoàng bổ nhiệm, nhưng Đại công quốc mới sẽ được quản lý bởi Hội đồng Chính phủ, sau này là Thượng viện Phần Lan, một cơ quan gồm toàn công dân Phần Lan. Do đó, toàn quyền sẽ có vai trò tương đối giảm sút. Hơn nữa, hoàng đế sẽ giải quyết các vấn đề liên quan đến Phần Lan trực tiếp thông qua một [[Bộ trưởng Ngoại giao Phần Lan|Bộ trưởng Ngoại giao chuyên trách Phần Lan]], mà không có sự tham gia của nội các hoặc chính quyền Nga. Điều này đặt nền tảng cho quyền tự chủ đáng kể mà Phần Lan được hưởng trong hầu hết thời kỳ cai trị của Nga.<hr> | |||
* Năm 1812, khu vực [[Phần Lan Cũ]] (được gọi là [[Tỉnh Viipuri]] từ năm 1812 đến năm 1945) đã được Nga hoàng tặng cho Phần Lan. Nga đã sáp nhập lãnh thổ này từ Thụy Điển trong [[Đại chiến Bắc Âu]] và [[Chiến tranh Nga – Thụy Điển (1741–1743)|Chiến tranh Nga-Thụy Điển]] (1741–1743). '''''[[Vì thế diện tích của Đại công quốc Phần Lan rộng hơn diện tích của Cộng hòa Phần Lan hiện tại là khoảng 22.000 km2]]'''''.Tuy hành động này bị một bộ phận giới quý tộc Nga phản đối, nhưng [[Aleksandr I của Nga|Sa hoàng Alexander I của Nga]] vẫn quyết tâm thực hiện, hành động này được xem là nhầm xoa dịu và mua chuộc cảm tình của người Phần Lan. Ông cũng cho dời thủ đô của Đại công quốc từ [[Turku]] về [[Helsinki]].<hr> | |||
* Năm 1830, Châu Âu trở thành cái nôi của cách mạng và cải cách sau cuộc [[Trois Glorieuses|Cách mạng tháng Bảy ở Pháp]]. Ba Lan, một quốc gia chư hầu khác của Nga, đã chứng kiến một cuộc nổi dậy lớn chống lại Saint Petersburg trong [[Cuộc nổi dậy tháng 11]] năm 1830–1831. Phần Lan không có động thái nào như vậy, vì Nga đã giành được lòng trung thành của Phần Lan. Do đó, Nga hoàng '''[[Nikolai I của Nga|Nikolai I]]''' tiếp tục các chính sách tôn trọng quyền tự chủ của Phần Lan và đồng hóa âm thầm người Phần Lan vào đế chế. <hr> | |||
* Năm 1863, '''[[Aleksandr II của Nga|Sa hoàng Alexander II]]''' triệu tập Quốc hội Phần Lan và ra chiếu chỉ rằng tiếng Phần Lan sẽ ngang hàng với [[tiếng Thụy Điển]] và [[tiếng Nga]] tại Đại công quốc, đồng thời thông qua các luật liên quan đến cơ sở hạ tầng và tiền tệ. Alexander đã thiên vị giai cấp công nhân Phần Lan hơn là giới tinh hoa Thụy Điển, do tuyên truyền của Thụy Điển trong Chiến tranh Krym thúc đẩy cuộc nổi loạn chống lại người Nga. Alexander cũng đã thông qua một luật về sắc lệnh ngôn ngữ vào tháng 8 năm 1863, yêu cầu tiếng Phần Lan phải được đưa vào tất cả các doanh nghiệp công trong vòng 20 năm. Luật này đã được mở rộng vào năm 1865 để yêu cầu các văn phòng nhà nước phải phục vụ công chúng bằng tiếng Phần Lan nếu được yêu cầu. Hơn nữa, Phần Lan cũng có hệ thống tiền tệ riêng, đồng [[markka]] của Phần Lan và [[Quân đội Đại công quốc Phần Lan|quân đội riêng]]. Tuyến đường sắt đầu tiên của Phần Lan được khánh thành giữa [[Helsinki]] và [[Hämeenlinna]] vào ngày 17 tháng 3 năm 1862.<hr> | |||
* Dưới thời của [[Nikolai II của Nga|Hoàng đế Nikolai II]], tuyên bố rằng luật pháp Nga là luật của đất nước và Phần Lan phải tuyên thệ trung thành với luật pháp Nga. Quốc hội về cơ bản đã bị hạ cấp thành một hội đồng nhà nước và Phần Lan là một tỉnh của Nga, phớt lờ quyền tự chủ của nước này. Quân đội Phần Lan nói chung đã bị giải thể vào năm 1901. Toàn quyền mới đã đưa ra nghĩa vụ quân sự bắt buộc kéo dài 5 năm, trong đó người Phần Lan có thể được tuyển vào các đơn vị của Nga. Hơn nữa, ông đã thiết lập rằng người Nga phải có cơ hội phục vụ trong các chức vụ công và tiếng Nga phải trở thành ngôn ngữ hành chính của Phần Lan. Đã đình chỉ [[Hiến pháp Phần Lan]] vào năm 1903. Hành động của ông đã vấp phải sự tức giận cực độ từ người Phần Lan. [[Eugen Schauman]] [[Vụ ám sát Nikolay Bobrikov|ám sát Toàn quyền Bobrikov]] tại Helsinki vào ngày 16 tháng 6 năm 1904.<hr> | |||
* Năm 1905, Nga phải đối mặt với thất bại nhục nhã trong [[Chiến tranh Nga-Nhật]] và giữa lúc hỗn loạn ở St. Petersburg, '''''người Phần Lan đã sửa đổi hiến pháp của họ và thành lập một quốc hội mới có đại diện dựa trên [[Phổ thông đầu phiếu|quyền bầu cử phổ thông]], trao cho phụ nữ quyền bầu cử đầy đủ trước bất kỳ quốc gia châu Âu nào khác sau [[Cộng hòa Corse|Cộng hòa Corsica]] tồn tại trong thời gian ngắn'''''. Tuy nhiên, quốc hội đã nhanh chóng bị [[Pyotr Stolypin]], thủ tướng của Nicholas II, huỷ bỏ.<hr> | |||
* Từ khi Stolypin qua đời, vương miện Nga đã cai trị Phần Lan như một chế độ độc tài quân chủ cho đến khi Nga sụp đổ trong [[Cách mạng Nga (1917)|Cách mạng Nga]], từ đó [[Tuyên ngôn độc lập Phần Lan|Phần Lan tuyên bố độc lập]], một cuộc chiến tranh giành độc lập đã sớm chuyển thành [[Nội chiến Phần Lan|một cuộc nội chiến]]. | |||
|} | |||
==📕 PHẦN LAN== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Phần Lan|CỘNG HÒA PHẦN LAN]] <br>(1917 - Nay)<hr>[[Cộng hòa nghị viện]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Finland.svg|center|150px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of Finland 2.svg|center|72px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Urho Kekkonen|Tổng thống Urho Kekkonen]] <br>(1956 - 1982)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#fcc;"colspan="6"|{{center|Tổng thống thứ 8 của Phần Lan}} | |||
|- | |||
| [[File:10 Markkaa President Kekkonen 1975.png|center|700px]]<hr>{{center|'''10 Markkaa_[[Urho Kekkonen|Kỷ niệm 75 năm ngày sinh của Tổng thống Kekkonen]] - 1975<hr>50 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Urho-Kekkonen-1977-c.jpg|120px]]<br> '''1975<hr>[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[35,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[50,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[23,5 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[11,75 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[1.000.000]]<hr>400.000<br>[[(17,02$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==✳️ THỤY ĐIỂN - HOLSTEIN== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#ccf"|[[Tập tin:COA country se house of Holstein-Gottorp.svg|60px]] | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|TRIỀU ĐẠI HOLSTEIN-GOTTORP THỤY ĐIỂN<hr> (1751 - 1818) | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
[[Vương tộc Holstein-Gottorp (Thụy Điển)]] là một nhánh của [[Công tước xứ Holstein-Gottorp|Nhà Holstein-Gottorp Đan Mạch]] và bản thân nó lại là một nhánh của [[Vương tộc Oldenburg|Nhà Oldenburg]] đến từ Thánh chế La Mã vào thế kỷ XI và Oldenburg trở thành vương tộc vào thế kỷ XV khi Vua [[Christian I của Đan Mạch|Christian I]] trở thành vua của cả 3 ngai vàng Đan Mạch, Thụy Điển và Na Uy. Triều đại này cai trị [[Thụy Điển]] từ năm 1751 đến 1818 và [[Na Uy]] từ 1814 đến 1818, trải qua 4 đời quân vương, gồm có [[Adolf Fredrik của Thụy Điển|Adolf Fredrik]], [[Gustav III]], [[Gustav IV Adolf]] và [[Karl XIII của Thụy Điển|Karl XIII]].<hr> | |||
Ông tổ của Nhà Holstein-Gottorp Đan Mạch chính là [[Adolf xứ Holstein-Gottorp|Vương tử Adolf]], con trai thứ 3 của Vua [[Christian III của Đan Mạch và Na Uy|Frederik I của Đan Mạch]] với người vợ thứ 2 là [[Sophie xứ Pomerania]]. Năm 1544, Adolf cùng anh trai Johann và anh trai cùng cha khác mẹ của họ là Vua [[Christian III của Đan Mạch]], đã chia các [[Công quốc Schleswig]] và [[Công quốc Holesten|Holstein]]. Adolf, là người trẻ nhất, được quyền lựa chọn đầu tiên. Vì ông đã chọn phần có [[lâu đài Gottorp]], nên dòng dõi của ông được gọi là Holstein-Gottorp.<hr> | |||
Năm 1743, [[Adolf Fredrik của Thụy Điển|Adolf Frederick]], [[Công tước xứ Holstein-Gottorp]] được bầu làm thái tử Thụy Điển như một sự nhượng bộ của Thụy Điển đối với [[Đế quốc Nga]], một chiến lược nhằm đạt được một nền hòa bình có thể chấp nhận được sau [[Chiến tranh Nga – Thụy Điển (1741–1743)]]. Ông trở thành Vua Thụy Điển vào năm 1751, sau cái chết của [[Fredrik I của Thụy Điển|Vua Fredrik I]] của [[Vương tộc Hessen]].<hr> | |||
Vua [[Gustav III]], con trai cả của Adolf Frederick, cho rằng thông qua [[Catherine của Thụy Điển, Nữ bá tước xứ Kleeburg|bà cố của ông]], triều đại của họ có nguồn gốc từ [[Vương tộc Vasa]]. Ông bày tỏ mong muốn triều đại của họ được gọi là Vasa, là vương thất mới của Vasa và là sự tiếp nối của vương thất Vasa ban đầu. Tuy nhiên không có sự chứng mình nào có thể thuyết phục để được chấp nhận một cách hợp pháp. Các nhà sử học không đồng ý với mong muốn của Gustav và triều đại luôn được gọi là Holstein-Gottorp.<hr> | |||
Năm 1809, con trai của Gustav III là Vua [[Gustav IV Adolf]] bị phế truất sau khi [[Phần Lan]] thất thủ, và triều đại này biến mất khỏi lịch sử Thụy Điển sau cái chết không để lại người thừa tự của chú ông là [[Karl XIII của Thụy Điển|Vua Karl XIII]] vào năm 1818. Năm 1810, Jean Baptiste Bernadotte (sau này là [[Karl XIV Johan của Thụy Điển|Karl XIV Johan]]), Thống chế của Pháp, dưới sự dàn xếp của Hoàng đế [[Napoleon I]] đã được bầu làm thái tử và trở thành người sáng lập ra [[Vương tộc Bernadotte|triều đại Bernadotte]], hậu duệ của ông trị vì Thụy Điển cho đến tận ngày nay.<hr> | |||
Năm 1836, [[Gustav, Thân vương xứ Vasa|Vương tử Gustav]], con trai của Gustav IV Adolf bị phế truất, được phong làm Thân vương xứ Vasa ở Áo (viết Wasa). Tuy nhiên, việc sử dụng cái tên đó đã chấm dứt khi đứa con duy nhất còn sống của ông là [[Calora xứ Vasa]], chết mà không có con, Vương tộc Holstein-Gottorp Thụy Điển tuyệt tự dòng nam.<hr> | |||
Cuộc hôn nhân của Vua tương lai [[Gustaf V của Thụy Điển|Gustaf V]] với Đại công nữ [[Victoria xứ Baden]] vào năm 1881 đã hợp nhất Vương tộc Bernadotte cầm quyền với hậu duệ của Vương tộc Holstein-Gottorp vì Victoria là chắt gái của [[Gustav IV Adolf]] bị phế truất.<hr> | |||
===Gustav III=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Thụy Điển|VƯƠNG QUỐC THỤY ĐIỂN]]<Hr> [[Vương tộc Holstein-Gottorp (Thụy Điển)|Triều đại Holstein-Gottorp]] <BR>(1751 - 1818)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Naval Ensign of Sweden.svg|center|150px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Great shield of arms of Sweden.svg|center|67px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Gustav III|Vua Gustav III]] <br>(1771 - 1792)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị vua thứ 2 của Thụy Điển đến từ Nhà Holstein-Gottorp}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 Riksdaler Gustav III - 1790.jpg|center|700px]]<hr>{{center|'''1 Riksdaler [[Gustav III]] - 1790 OL<hr>235 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:GustavIII.jpg|120px]]<br>1831 - 1849 <hr> '''[[AU|AU-56]]'''}} || style="background:#ceb"colspan="1"|{{center|'''Đường kính'''<br>[[41,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[87,8%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[29,25 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[25,68 gr]] <hr>'''Số lượng'''<br>[[635.898]]<hr>9.000.000<br>[[(382,57$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#fbd"|GUSTAV III | |||
|- | |||
|style="background:LemonChiffon;"| | |||
Năm 1777, Gustav III là nguyên thủ quốc gia trung lập chính thức đầu tiên trên thế giới công nhận Hoa Kỳ. <hr> | |||
Thông qua việc mua lại Saint Barthélemy vào năm 1784, Gustav đã cho phép khôi phục các thuộc địa hải ngoại của Thụy Điển ở châu Mỹ, cũng như lợi nhuận từ việc buôn bán nô lệ xuyên Đại Tây Dương.<hr> | |||
Thủ phủ Gustavia của Saint Barthélemy được đặt theo tên của vua Gustav III của Thụy Điển.<hr> | |||
Năm 1792, Gustav III bị bắng vào lưng trong một vũ hội hóa trang, đây là một phần của âm mưu đảo chính quốc hội-quý tộc, nhưng ông đã xoay sở để nắm quyền chỉ huy và dập tắt cuộc nổi dậy trước khi bị nhiễm trùng huyết và qua đời 13 ngày sau đó, ông đã nhận được lời xin lỗi từ nhiều kẻ thù chính trị của mình.<hr> | |||
Gustav đã thành lập Viện Hàn lâm Thụy Điển, tạo ra quốc phục (Nationella dräkten) và xây dựng Nhà hát Opera Hoàng gia Thụy Điển. Năm 1772, ông thành lập Huân chương Hoàng gia Vasa.<hr> | |||
Thông qua cháu nội là [[Sofia Wilhelmina của Thụy Điển]], con gái của [[Gustav IV Adolf của Thụy Điển]], Gustav III là ông nội vợ của [[Leopold I xứ Baden]] và tổ tiên của tất cả các Đại công tước xứ Baden còn lại.<hr> | |||
Thông qua mẹ mình, [[Luise Ulrike của Phổ]], ông gọi [[Friedrich II của Phổ|Friedrich Đại đế của Phổ]] là bác, thông qua cha mình, ông là anh em họ đời đầu với [[Yekaterina II của Nga|Nữ hoàng Catherine của Nga]]. Ông là anh trai ruột của '''[[Karl XIII của Thụy Điển]]''', người đã lên thay khi con trai của ông là [[Gustaf IV Adolf của Thụy Điển]] bị lất đổ. Hoàng đế Napoleon đã thu xếp để Karl XIII nhận người của mình là '''[[Karl XIV Johan của Thụy Điển|Tướng Jean-Baptiste Bernadotte]]''' làm con nuôi và người thừa kế, sau trở thành Karl XIV và khai sinh ra [[Vương tộc Bernadotte]], vẫn còn trị vì Thuỵ Điển đến tận này nay. | |||
|} | |||
|} | |||
==✳️ THỤY ĐIỂN - BERNADOTTE== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#ccf"|[[File:Bernadotte coa.svg|60px]] | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|TRIỀU ĐẠI BERNADOTTE | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
[[Vương tộc Bernadotte|Triều đại Bernadotte]] (Bét-na-đột-th) là một triều đại quân chủ tương đối trẻ trên thế giới, vì chỉ mới có lịch sử hơn 200 năm. Người tạo ra vương tộc này chính là Nguyên soái người Pháp '''''[[Karl XIV Johan của Thụy Điển|Jean-Baptiste Bernadotte, Thân vương xứ Pontecorvo]]''''', được [[Napoleon I|Hoàng đế Napoleon ]] đưa lên làm người thừa kế ngai vàng Thuỵ Điển vào năm 1810. Năm 1818, sau cái chết của [[Karl XIII của Thụy Điển]] thuộc [[Vương tộc Holstein-Gottorp (Thụy Điển)|Vương tộc Holstein-Gottorp]], Jean-Baptiste trở thành vua Thuỵ Điển và Na Uy với vương hiệu Karl XIV Johan của Thuỵ Điển và Karl III Johan của Na Uy. Trước đó, từ năm 1811, vì tuổi già sức yếu của Vua Karl XIII, Jean-Baptiste đã trở thành nhiếp chính vương cai trị chính thức Thuỵ Điển.<hr> | |||
Triều đại Bernadotte đã trị vì Thuỵ Điển từ năm 1818 cho đến tận ngày nay, đã trải qua 7 đời quân chủ, bao gồm: [[Karl XIV Johan của Thụy Điển|Karl XIV Johan]] (1818-1844); [[Oscar I của Thụy Điển|Oscar I]] (1844-1859); [[Karl XV của Thụy Điển|Karl XV]] (1859-1872); '''[[Oscar II của Thụy Điển|Oscar II]]''' (1872-1907); '''[[Gustaf V của Thụy Điển|Gustaf V]]''' (1907-1950); '''[[Gustaf VI Adolf của Thụy Điển|Gustaf VI Adolf]]''' (1950-1973) và '''[[Carl XVI Gustaf]]''' (1973-Nay). Ngày 14/1/1814, Nghiếp chính Karl Johan ký [[Hòa ước Kiel]] với Đan Mạch, buộc nước này trao Na Uy cho Thụy Điển, vì thế 4 vị quân chủ đầu tiên của Bernadotte là vua của cả 2 ngai vàng Thuỵ Điển và Na Uy, đến năm 1905 thì điều này được bãi bỏ, ngai vàng Na Uy được trao cho Vương tử [[Haakon VII của Na Uy|Christian Frederik]], con trai thứ 2 của Vua [[Frederik VIII của Đan Mạch]] đến từ [[Vương tộc Glücksburg]] và vương tộc này trị vì Na Uy đến tận ngày nay.<hr> | |||
Vị quân chủ tương lai của Thuỵ Điển sẽ là một nữ vương, vì người thừa kế ngai vàng hiện tại là [[Thái nữ Victoria của Thụy Điển|Victoria, Nữ Công tước xứ Västergötland]], con trưởng của vị vua hiện tại. Quyền kế vị của con trưởng dù gái hay trai chính thức có hiệu lực vào ngày 1/1/1980, khi Nghị viện Thụy Điển sửa đổi Luật Kế vị. Nếu luật này không sửa đổi thì em trai của Victoria, [[Vương tử Carl Philip, Công tước xứ Värmland]] mới là người kế vị. Nếu Victoria trở thành nữ vương thì bà sẽ là nữ quân chủ thứ 4 trong lịch sử Thuỵ Điển và nữ vương đầu tiên của Vương tộc Bernadotte, sau: [[Margrete I của Đan Mạch|Margrete I]] (1389-1412); [[Kristina của Thụy Điển|Kristina]] (1632-1654) và [[Ulrika Eleonora của Thụy Điển|Ulrika Eleonora]] (1718-1720).<hr> | |||
Ông tổ của Nhà Bernadotte, Jean-Baptiste sinh ra tại tỉnh [[Pau]] thuộc Tây Nam [[Vương quốc Pháp]], ông gia nhập quân ngủ từ năm 1780 dưới thời vua Louis XVI, trở thành sĩ quan vào năm 1792 sau khi giải cứu tướng Pháp [[Marquis d'Ambert]] trong một cuộc bạo loạn. Năm 1804, Napoleon Bonaparte lên làm hoàng đế và phong 18 người làm thống chế, trong đó có Jean-Baptiste. Sau khi hỗ trợ Napoleon giành chiến thắng tại [[trận Austerlitz]] năm 1805, ông được phong làm [[Thân vương quốc Pontecorvo|Thân vương xứ Pontecorvo]] (một thân vương quốc có chủ quyền), lãnh địa này nằm gần Napoli để giám sát [[Giáo hoàng Piô VII]].<hr> | |||
Jean-Baptiste kết hôn với [[Désirée Clary]] vào năm 1789, và bà này từng là vợ chưa cưới của Tổng tài Napoleon, đồng thời, chị gái của bà là [[Julie Clary]], vợ của [[Joseph Bonaparte]] (Anh trai của Napoleon), vua tương lai của Napoli, Sicilia và Tây Ban Nha. Chính điều này đã khiến ông trở thành thành viên mở rộng của [[Vương tộc Bonaparte]], giúp thắc chặc thêm mối quan hệ giữa ông với Napoleon, vì Napoleon có thói quen nâng đỡ người nhà, bao gồm cả các con, cháu riêng của vợ. Chính Joseph Bonaparte cũng đã giúp ông thoát tội phản loạn nhiều lần trước Napoleon. Tất cả các vị vua của của Thuỵ Điển thuộc Nhà Bernadotte đều là hậu duệ của ông với Désirée Clary. <hr> | |||
===Oscar II=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Thụy Điển|VƯƠNG QUỐC THỤY ĐIỂN]]<Hr> [[Vương tộc Bernadotte|Triều đại Bernadotte]] <BR>(1818 - Nay)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Sweden.svg|center|140px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Greater coat of arms of Sweden.svg|center|73px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Oscar II của Thụy Điển|Vua Oscar II]] <br>(1872 - 1907)}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị vua thứ 4 của Thuỵ Điển đến từ Nhà Bernadotte; Vị quân chủ thứ 4 và cuối cùng của Liên minh Thuỵ Điển và Na Uy}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:2 Kronor - Oscar II Golden Wedding 1907.png|center|700px]]<hr>{{center|'''2 Kronor [[Ngày kỷ niệm cưới|Đám cưới vàng]] [[Oscar II của Thụy Điển|Oscar II]] & [[Sophia xứ Nassau]] - (1857-1907)<hr>118 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Oscar II av Sverige by Gosta Florman, 1891.jpg|120px]]<br>1907 <hr> '''[[MS|MS-62]]'''}} || style="background:#ceb"colspan="1"|{{center|'''Đường kính'''<br>[[31,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[80,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[15,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[12,0 gr]] <hr>'''Số lượng'''<br>[[251.000]]<hr>1.575.000<hr>[[(64,29$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
===Gustaf V=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Thụy Điển|VƯƠNG QUỐC THỤY ĐIỂN]]<Hr> [[Vương tộc Bernadotte|Triều đại Bernadotte]] <BR>(1818 - Nay)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Sweden.svg|center|140px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Greater coat of arms of Sweden.svg|center|73px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Gustaf V của Thụy Điển|Vua Gustaf V]] <br>(1872 - 1907)}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị vua thứ 5 của Thuỵ Điển đến từ Nhà Bernadotte}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:2 Kronor - Gustaf V Death of Gustaf II Adolf 1932.png|center|700px]]<hr>{{center|'''2 Kronor [[Gustaf V của Thụy Điển|Gustaf V]]_[[Gustav II Adolf của Thụy Điển|Kỷ niệm 300 qua đời của Gustaf Đại đế]] (1632-1932)<hr>93 năm (2025)'''}}||{{center|[[Tập tin:Gustaf V färgfoto.jpg|120px]]<br>1932 <hr> '''[[MS|MS-63]]'''}} || style="background:#ceb"colspan="1"|{{center|'''Đường kính'''<br>[[31,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[80,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[15,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[12,0 gr]] <hr>'''Số lượng'''<br>[[253.770]]<hr>1.746.000<hr>[[(71,27$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
===Gustaf VI Adolf=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Thụy Điển|VƯƠNG QUỐC THỤY ĐIỂN]]<Hr> [[Vương tộc Bernadotte|Triều đại Bernadotte]] <BR>(1818 - Nay)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Sweden.svg|center|140px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Greater coat of arms of Sweden.svg|center|73px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Gustaf VI Adolf|Vua Gustaf VI Adolf]] <br>(1950 - 1973)}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị vua thứ 6 đến từ Nhà Bernadotte}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:5 Kronor - Gustaf VI Adolf 70th Birthday 1952.png|center|700px]]<hr>{{center|'''5 Kronor_[[Gustaf VI Adolf|70 năm Ngày sinh nhật của Vua Gustaf VI Adolf]] - 1952<hr>73 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Gustaf VI Adolf of Sweden 1962.jpg|120px]]<br>1952 <hr> '''[[AU]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[36,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[40,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[22,88 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[9,142 gr]] <hr>'''Số lượng'''<br>[[242.241]]<hr>800.000<hr>[[(34,04$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:5 Kronor - Gustaf VI Adolf Constitutional Reform 1966.png|center|700px]]<hr>{{center|'''5 Kronor [[Gustaf VI Adolf]]_[[Chính trị Thụy Điển|100 năm cải cách hiến pháp lưỡng viện]] - 1966<hr>59 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Gustaf VI Adolf of Sweden 1962.jpg|120px]]<br>1966 <hr> '''[[AU]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[34,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[40,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[18,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[7,2 gr]] <hr>'''Số lượng'''<br>[[1.023.500]]<hr>500.000<br>[[(21,28$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
===Carl XVI Gustaf=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Thụy Điển|VƯƠNG QUỐC THỤY ĐIỂN]]<Hr> [[Vương tộc Bernadotte|Triều đại Bernadotte]] <BR>(1818 - Nay)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Sweden.svg|center|140px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Greater coat of arms of Sweden.svg|center|73px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Carl XVI Gustaf|Vua Carl XVI Gustaf]] <br>(1973 - Nay)}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị vua thứ 7 đến từ Nhà Bernadotte}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:50 Kronor - Carl XVI Gustaf Royal Wedding.png|center|700px]]<hr>{{center|'''5 Kronor_Đám cười hoàng gia [[Carl XVI Gustaf]] và [[Silvia, Vương hậu Thụy Điển|Silivia]] - 1976<hr>49 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:King and Queen of Sweden.jpg|120px]]<br>1952 <hr> '''[[MS|UNC]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[36,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[92,5%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,03 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[25,00275 gr]] <hr>'''Số lượng'''<br>[[2.000.000]]<hr>1.331.000<br>[[(52,4$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
|} | |||
==📕 ĐAN MẠCH== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#ccf"|[[File:Arms of the County of Oldenburg.svg|70px]] | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|VƯƠNG TỘC OLDENBURG<hr>(1448 - 1863) | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
'''Nhà Schleswig-Holstein-Sonderburg-Glücksburg''', còn được gọi tắt là [[Vương tộc Glücksburg|Nhà Glücksburg]], là chi nhánh còn tồn tại lâu đời nhất của [[Vương tộc Oldenburg|Nhà Oldenburg]], một trong những hoàng gia lâu đời nhất châu Âu. Nhân vật sớn nhất của Nhà Oldenburg được nhắc đến vào năm 1091, đó là [[Elimar I xứ Oldenburg|Bá tước Elimar I]], tên của gia tộc được đặt theo [[Schloss Oldenburg|Lâu đài Oldenburg]] (nằm ở [[Oldenburg]], [[Niedersachsen]], Đức ngày nay). | |||
* Các cuộc hôn nhân của các Bá tước xứ Oldenburg thời trung cổ đã mở đường cho những người thừa kế của họ trở thành vua của nhiều vương quốc Scandinavia khác nhau. Thông qua cuộc hôn nhân với hậu duệ của Vua [[Valdemar của Thụy Điển]] và Vua [[Erik IV của Đan Mạch]], một yêu sách thừa kế ngai vàng đối với Thụy Điển và Đan Mạch đã được đặt ra từ năm 1350. | |||
* [[Christian I của Đan Mạch|Christian]] con trai của Bá tước [[Dietrich xứ Oldenburg]] đã trở thành vua của Đan Mạch vào năm 1448, vua của Na Uy vào năm 1450 và vua của cả Thụy Điển vào năm 1457. Ngoài ra ông cũng trở thành [[Công quốc Holesten|Công tước xứ Holesten]] thuộc Thánh chế La Mã vào năm 1474. Christian trở thành vị vua đầu tiên đến từ Nhà Oldenburg và nâng nó lên hàng vương tộc. | |||
* Nhà Oldenburg đã từng có thời gian ngắn chuẩn bị thừa kế ngai vàng Vương quốc Anh thông qua cuộc hôn nhân của [[Anne I của Anh|Nữ vương Anne]] và [[Jørgen của Đan Mạch|Vương tử George của Đan Mạch và Na Uy]] vào năm 1683; tuy nhiên, do tất cả con cái của họ đều mất sớm, nên vương miện đã được chuyển cho Nhà Hannover. Năm 2022, sau cái chết của Nữ vương [[Elizabeth II của Anh]], con trai trường của bà và chồng [[Philippos của Hy Lạp và Đan Mạch, Công tước xứ Edinburgh|Vương tế Philipp]] (người Nhà Oldenburg) là [[Charles III]] lên kế vị ngai vàng Anh, vì thế nước Anh và các nhà nước thịnh vương chung của nó hiện đang nằm dưới vương quyền của Nhà Oldenburg thông qua Chi nhánh Glücksburg. | |||
* Nhánh trưởng của Nhà Oldenburg từng cai trị nhiều nhà nước khác nhau trong các giai đoạn lịch sử: [[Bá tước, công tước và Đại công tước xứ Oldenburg|Bá quốc Oldenburg]] (1101-1448 và 1667-1773); [[Quân chủ Đan Mạch|Vương quốc Đan Mạch]] (1448-1863); [[Quân chủ Na Uy|Vương quốc Na Uy]] (1450-1814); [[Quốc vương Thụy Điển|Vương quốc Thụy Điển]] (1457-1464 & 1497-1501 & 1520-1521); [[Công quốc Schleswig]] (1460-1864); [[Holstein|Bá quốc và Công quốc Holstein]] (1574-1864); [[Công quốc Lauenburg]] (1815-1863). | |||
* Nhánh trưởng của Oldenburg tuyệt tự dòng nam sau cái chết của vua [[Frederik VII của Đan Mạch]] vào năm 1863, ngai vàng được để lại cho [[Christian IX của Đan Mạch]], người đến từ dòng nhanh của Oldenburg, được gọi là [[Vương tộc Glücksburg|Nhà Glücksburg]]. | |||
|- | |||
! style="background:#ccf"|[[File:Armoiries de Frédéric-Christian II de Schleswig-Holstein-Sondebourg-Augustenbourg.svg|70px]] | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|Triều đại Glücksburg<hr>(1863 - Nay) | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
Năm 1564, chắt của [[Christian I của Đan Mạch|Christian I]] (vị vua đầu tiên đến từ Nhà Oldenburg) là [[Frederik II của Đan Mạch]], khi phân chia lại các thái ấp của Schleswig và Holstein, đã giữ lại một số vùng đất cho dòng dõi hoàng gia cấp cao của mình trong khi phân bổ Glücksburg cho em trai mình là [[Johann II xứ Schleswig-Holstein-Sonderburg|Công tước Johann Trẻ tuổi]] (1545–1622), cùng với [[Sønderborg]]. Những người thừa kế của Johann tiếp tục chia nhỏ phần của họ và tạo ra, trong số những nhánh khác.<hr> | |||
Đến năm 1825, lâu đài Glücksburg đã trở lại với vương miện Đan Mạch (từ một nhánh công tước khác có tên là Glücksburg, đã tuyệt tự vào năm 1779) và được Vua [[Frederik VI của Đan Mạch]] trao tặng cùng năm đó, cùng với một tước hiệu công tước mới, cho người họ hàng của ông là [[Friedrich Wilhelm xứ Schleswig-Holstein-Sonderburg-Glücksburg|Friedrich xứ Schleswig-Holstein-Sonderburg-Beck]] và Friedrich trở thành ông tổ của [[Vương tộc Glücksburg]].<hr> | |||
Công tử [[Christian IX của Đan Mạch|Christian xứ Schleswig-Holstein-Sonderburg-Glücksburg]], con trai thứ tư của [[Friedrich Wilhelm xứ Schleswig-Holstein-Sonderburg-Glücksburg|Công tước Friedrich xứ Glücksburg]], được công nhận trong [[Nghị định thư London (1852)|Nghị định thư London]] năm 1852 là người kế vị Vua [[Frederik VII của Đan Mạch]] (dòng trưởng của Nhà Oldenburg) không có con. Ông trở thành Vua của Đan Mạch với tư cách là [[Christian IX của Đan Mạch|Christian IX]] vào ngày 15 tháng 11 năm 1863.<hr> | |||
Dòng trưởng của Nhà Oldenburg tuyệt tự dòng nam vào năm 1863, nhánh cao cấp nhất lúc đó còn tồn tại là [[Schleswig-Holstein-Sonderburg|Schleswig-Holstein]], chính thức tuyệt tự dòng nam sau cái chết của Công tước [[Gia tộc Schleswig-Holstein-Sonderburg-Augustenburg|Augustenburg]] cuối cùng vào năm 1931. Kể từ đó Nhà Glücksburg trở thành dòng dõi cao cấp của Nhà Oldenburg.<hr> | |||
Một dòng dõi khác của Nhà Oldenburg là [[Công tước xứ Holstein-Gottorp]], bao gồm hai nhánh nắm giữ chủ quyền cho đến thế kỷ XX. [[Vương tộc Romanov|Nhánh Romanov-Holstein-Gottorp]] đã bị hành quyết và lưu đày khỏi [[Đế quốc Nga]] vào năm 1917 sau [[Cách mạng Tháng Mười|Cách mạng tháng 10 Nga]], trong khi [[Đại công quốc Oldenburg]] bị bãi bỏ vào năm 1918, mặc dù dòng dõi triều đại của nó vẫn còn tồn tại.<hr> | |||
Quân chủ hiện giờ của Đan Mạch là [[Margrethe II của Đan Mạch|Nữ vương Margrethe II]] con gái cả trong 3 người con gái của Vua [[Frederik IX của Đan Mạch]] và Vương nữ [[Ingrid của Thụy Điển]]. Người thừa kế ngai vàng Đan Mạch hiện tại là [[Joachim của Đan Mạch|Vương tử Joachim]] trên thực tế ông sẽ phải mang họ của cha mình là [[Henrik, Vương tế Đan Mạch|Henrik Laborde de Monpezat]] gốc Pháp. Vì thế, Nữ vương Margrethe II chính là người Nhà Glücksburg cuối cùng trị vì Đàn Mạch, vị quân chủ tiếp theo sẽ đến từ Nhà Monpezat.<hr> | |||
{{center|'''[[Vương quốc Hy Lạp|Nhánh Glücksburg - Hy Lạp]] (1863-1973)'''}} | |||
* [[Georgios I của Hy Lạp|Vương tôn Vilhelm]], con trai thứ hai của [[Christian IX của Đan Mạch|Vương trữ Christian]] (Vua Christian IX) và [[Louise của Hessen-Kassel]], được bầu làm Vua của Hy Lạp vào ngày 30 tháng 3 năm 1863, kế vị [[Othon I của Hy Lạp|Othon I]] của [[Vương tộc Wittelsbach]] bị lật đổ và trị vì dưới vương hiệu Georgios I. | |||
* Nhánh Glücksburg - Hy Lạp trị vì vương quốc này từ năm 1863 đến khi chế độ quân chủ bị bãi bỏ vào năm 1973, trải qua 110 năm với 5 đời quân chủ: [[Georgios I của Hy Lạp|Georgios I]] (1863-1913); [[Konstantinos I của Hy Lạp|Konstantinos I]] (1913-1917); [[Alexandros I của Hy Lạp]] (1917-1920) trở lại ngai vàng lần 2 (1920-1922) sau cái chết của Konstantinos I; [[Georgios II của Hy Lạp|Georgios II]] lên ngôi lần 1 (1922-1924) và lần 2 (1935-1947); [[Pavlos I của Hy Lạp|Pavlos I]] (1947-1964); [[Konstantinos II của Hy Lạp|Konstantinos II]] (1964-1973). | |||
<hr> | |||
{{center|'''[[Na Uy|Nhánh Glücksburg - Na Uy]] (1905 - Nay)'''}} | |||
* Vương tử Carl, con trai thứ hai của Vua [[Frederik VIII của Đan Mạch]] (con trai cả của Christian IX), trở thành Vua của Na Uy vào ngày 18 tháng 11 năm 1905 với vương hiệu [[Haakon VII của Na Uy]]. | |||
* Hậu duệ của ông vẫn còn đang trị vì Na Uy cho đến tận ngày nay, đã trải qua 3 đời quân chủ: [[Haakon VII của Na Uy|Haakon VII]] (1905-1957); [[Olav V của Na Uy|Olav V]] (1957-1991) và [[Harald V của Na Uy|Harald V]] (1991-Nay). Người thừa kế hiện tại của ngai vàng Na Uy chính là [[Haakon Magnus của Na Uy|Thái tử Haakon Magnus]], người con thứ 2 và là con trai duy nhất của đương kim quốc vương Harald V. | |||
<hr> | |||
{{center|'''[[Charles III|Nhánh Glücksburg - Anh]] (2022 - Nay)'''}} | |||
* Năm 2022, sau cái chết của Nữ vương [[Elizabeth II của Anh]], con trai trường của bà và chồng [[Philippos của Hy Lạp và Đan Mạch, Công tước xứ Edinburgh]] (người Nhà Glücksburg gốc Hy Lạp) là [[Charles III]] lên kế vị ngai vàng Anh, vì thế nước Anh và các nhà nước thịnh vương chung của nó hiện đang nằm dưới vương quyền của Nhà Glücksburg thông qua nhánh Glücksburg-Hy Lạp. | |||
* [[Philippos của Hy Lạp và Đan Mạch, Công tước xứ Edinburgh|Vương tế Philipp]], chồng của Nữ vương Elizabeth II là người con út và là con trai duy nhất trong số 5 người con của Vương tử [[Andreas của Hy Lạp và Đan Mạch]] với vợ [[Alice xứ Battenberg]]. Cha của ông là con trai thứ 4 của [[Georgios I của Hy Lạp|Georgios I]], vua đầu tiên của Hy Lạp, vì thế ông gọi [[Konstantinos I của Hy Lạp]] là bác, các vua [[Georgios II của Hy Lạp|Georgios II]], [[Alexandros I của Hy Lạp|Alexandros I]] và [[Pavlos I của Hy Lạp|Pavlos I]] là anh họ đời đầu của ông. | |||
* Người thừa kế ngai vàng anh trong tương lai chính là con trai trưởng của Vua Charles III và [[Diana, Vương phi xứ Wales|Công nương Diana]] là [[William, Thân vương xứ Wales]]. | |||
<hr> | |||
===🛑 Christian IX (1)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Vương quốc Đan Mạch|VƯƠNG QUỐC ĐAN MẠCH]]<hr>[[Vương tộc Glücksburg|Triều đại Glücksburg]] <br> (1863 - Nay)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Denmark.svg|center|113px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:National coat of arms of Denmark.svg|center|48px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Christian IX của Đan Mạch|Vua Christian IX]] <br>(1863 - 1906)}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị vua đầu tiên của Đan Mạch đến tứ Nhà Glücksburg}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:2 rigsdaler Christian IX Death - 1863AU.png|center|700px]]<hr>{{center|'''2 Rigsdaler [[Christian IX của Đan Mạch|Christian IX]] và [[Frederik VII của Đan Mạch|Frederik VII]] ([[Death]]) - 1863<hr>162 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:1818 Christian-05.jpg|100px]]<br>1863<hr>'''[[AU]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[39,5 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[87,5%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[28,893 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[25,281375 gr]] <hr>'''Số lượng'''<br>[[101.000]]<hr>7.000.000<br>[[(303,03$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#fbd"|FREDERIK VIII | |||
|- | |||
|style="background:LemonChiffon;"| | |||
Ông là cha của 2 vị vua [[Frederik VIII của Đan Mạch]] và [[Georgios I của Hy Lạp]], người được bầu lên ngai vàng Hy Lạp vào năm 1863 và hậu duệ của ông trị vì Hy Lạp cho đến khi chế độ quân chủ bị bãi bỏ vào năm 1973. Cháu nội của ông là [[Haakon VII của Na Uy]], người được bầu lên ngai vàng Vương quốc Na Uy vào năm 1905 và hậu duệ của ông cai trị Na Uy đến tận ngày nay. Con gái của ông là [[Alexandra của Đan Mạch]] đã kết hôn với '''''[[Edward VII của Anh]]''''', con trai trưởng của '''''[[Nữ vương Victoria]]''''', vì thế Christian là ông ngoại của '''''[[George V của Anh|Vua George V]]'''''. Con gái của ông là [[Dagmar của Đan Mạch]] kết hôn với Hoàng đế [[Aleksandr III của Nga]], vì thế ông là ông ngoại của '''''[[Nikolai II của Nga|Hoàng đế Nikolai II]]''''' vị hoàng đế cuối cùng của Nga. Con gái út của ông là [[Thyra của Đan Mạch]] kết hôn với thái tử cuối cùng của Hanover [[Ernst August, Thái tử Hannover|Ernst August]], con trai của '''''[[Georg V của Hannover|Vua Georg V]]''''' vị vua cuối cùng của Hannover, vì thế ông là ông ngoại của Công tước [[Ernst August xứ Braunschweig]], công tước cuối cùng của [[Công quốc Braunschweig]]. Sáu người con của ông đã kết hôn với các gia đình hoàng gia ở khắp châu Âu, khiến ông được mệnh danh là "cha vợ của châu Âu".<hr> | |||
Khi còn trẻ, Christian không thành công trong việc tìm kiếm một cuộc hôn nhân với Vương thất Anh, người này về sau chính là [[Victoria của Anh]], đồng thời cũng là em họ đời thứ ba của ông. Tại Cung điện [[Amalienborg]] ở [[Copenhagen]] vào ngày 26/05/1842, ông kết hôn với người em họ đời thứ hai của mình, [[Luise của Hessen-Kassel]], một cháu gái của Vua [[Christian VIII của Đan Mạch]].<hr> | |||
Ông là vị vua thứ 17 của Đan Mạch đến từ [[Nhà Oldenburg]] và các nhánh của nó, và là vị vua đầu tiên đến từ [[Nhà Glücksburg]] (Glücksburg là một nhánh thứ của Oldenburg). Triều đại Glücksburg đã đóng góp cho Đan Mạch 6 vị quân chủ và trị vì cho đến tận ngày nay. Nhưng trên thực tế, vị vua đang trị vì hiện giờ của Đan Mạch là [[Frederik X của Đan Mạch|Frederik X]], con trai của Nữ vương [[Margrethe II của Đan Mạch]] và [[Henrik, Vương tế Đan Mạch]], cha của ông vốn thuộc [[Nhà Monpezat]], có nguồn gốc từ [[Béarn]], Tây Nam nước Pháp.<hr> | |||
Năm 1919, con gái của ông là [[Dagmar của Đan Mạch|Thái hậu Maria Feodorovna]], vợ của Sa hoàng Alexander III và mẹ của Nicholas II, đã trốn thoát khỏi Nga trên tàu [[HMS Marlborough (1912)|HMS Marlborough]], do cháu trai bà, Vua [[George V của Anh]], cử đến để giải cứu bà, theo sự thúc giục của chính mẹ mình là [[Alexandra của Đan Mạch|Thái hậu Alexandra]], chị gái của Maria. Sau một thời gian ở Anh, bà trở về quê hương Đan Mạch, đầu tiên sống tại Cung điện Amalienborg, với cháu trai của bà, [[Christian X của Đan Mạch|Vua Christian X]], và sau đó, tại Villa Hvidøre, bà qua đời vào năm 1928. | |||
|} | |||
===🛑 Frederik VIII (2)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Vương quốc Đan Mạch|VƯƠNG QUỐC ĐAN MẠCH]]<hr>[[Vương tộc Glücksburg|Triều đại Glücksburg]] <br> (1863 - Nay)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Denmark.svg|center|113px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:National coat of arms of Denmark.svg|center|48px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Frederik VIII của Đan Mạch|Frederik VIII]] <br>(1906 - 1912)}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị vua thứ 2 của Đan Mạch đến tứ Nhà Glücksburg}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:2 Kroner - Frederik VIII Death of Christian IX 1906.png|center|700px]]<hr>{{center|'''2 Kroner - [[Frederik VIII của Đan Mạch|Frederik VIII]] và [[Christian IX của Đan Mạch|Christian IX]] ([[Death]]) - 1906<hr>119 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Frederik VIII of Denmark 1909.jpg|100px]]<br>1906<hr>'''[[MS|MS-63]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[31,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[80,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[15,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[12,0 gr]] <hr>'''Số lượng'''<br>[[151.000]]<hr>3.000.000<br>[[(117,65$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
===🛑 Christian X (3)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Vương quốc Đan Mạch|VƯƠNG QUỐC ĐAN MẠCH]]<hr>[[Vương tộc Glücksburg|Triều đại Glücksburg]] <br> (1863 - Nay)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Denmark.svg|center|113px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:National coat of arms of Denmark.svg|center|48px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Christian X của Đan Mạch|Vua Christian X]] <br>(1912 - 1947)}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|'''Vị vua thứ 3 của Đan Mạch đến tứ Nhà Glücksburg'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:2 Kroner of Denmark - Christian X 1916.png|center|700px]]<hr>{{center|'''2 Kroner_[[Christian X của Đan Mạch|Christian X]] 1916<hr>109 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Christian X - Peter Elfelt.jpg|100px]]<br>1915 - 1916<hr>'''[[AU]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[31,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[80,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[15,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[12,0 gr]] <hr>'''Số lượng'''<br>[[402.000]]<hr>750.000<br>[[(31,91$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
| [[File:2 Kroner of Denmark, Christian X - 1930.png|center|700px]]<hr>{{center|'''2 Kroner_[[Christian X của Đan Mạch|Kỷ niệm 60 năm ngày sinh của Vua Christian X]] (1870-1930)<hr>91 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Christian X - Peter Elfelt.jpg|100px]]<br>1930<hr>'''[[MS|MS-65]]'''}} || style="background:#ceb"colspan="1"|{{center|'''Đường kính'''<br>[[31,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[80,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[15,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[12,0 gr]] <hr>'''Số lượng'''<br>[[303.640]]<hr>650.000<br>[[(27,66$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
* [[Frederik VII của Đan Mạch]] sở hữu một chiếc mũ nguyên soái đội đầu trong chiến trận được làm từ '''nhôm''', thời đó nhôm mới được tinh luyện nên có giá đắc hơn cả vàng. | |||
|} | |||
==📕 VƯƠNG QUỐC HY LẠP== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#ccf"|[[Tập tin:Royal Coat of Arms of Greece.svg|70px]] | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|TRIỀU ĐẠI GLUCKSBURG - HY LẠP<hr>(1863 - 1973) | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
[[Vương quốc Hy Lạp|Vương tộc Glücksburg-Hy Lạp]] là một nhánh của [[Vương tộc Glücksburg|Nhà Glücksburg-Đan Mạch]] và Glücksburg lại là chi nhánh của [[Vương tộc Oldenburg]] gốc Đức, đến từ Thánh chế La Mã vào thế kỷ XI. Vào ngày 30 tháng 3 năm 1863, [[Georgios I của Hy Lạp|Vương tôn Vilhelm]], con trai thứ hai của [[Christian IX của Đan Mạch|Thái tử Christian]] (Vua Christian IX) và [[Louise của Hessen-Kassel|Công nương Luise]], được bầu làm Vua của Hy Lạp, kế vị [[Othon I của Hy Lạp|Othon I]] của [[Vương tộc Wittelsbach]] bị lật đổ và ông trị vì dưới vương hiệu George I.<hr> | |||
Nhánh Glücksburg - Hy Lạp trị vì vương quốc này từ năm 1863 đến khi chế độ quân chủ bị bãi bỏ vào năm 1973, trải qua 110 năm với 5 đời quân chủ: [[Georgios I của Hy Lạp|Georgios I]] (1863-1913); [[Konstantinos I của Hy Lạp|Konstantinos I]] (1913-1917); [[Alexandros I của Hy Lạp]] (1917-1920) trở lại ngai vàng lần 2 (1920-1922) sau cái chết của Konstantinos I; [[Georgios II của Hy Lạp|Georgios II]] lên ngôi lần 1 (1922-1924) và lần 2 (1935-1947); [[Pavlos I của Hy Lạp|Pavlos I]] (1947-1964); [[Konstantinos II của Hy Lạp|Konstantinos II]] (1964-1973).<hr> | |||
Tuy đã mất ngai vàng ở Hy Lạp, nhưng hiện nay, hậu duệ của Glücksburg - Hy Lạp đang nắm ngai vàng của Vương quốc Anh, tính từ năm 2022, sau cái chết của Nữ vương [[Elizabeth II của Anh]], con trai trường của bà và chồng [[Philippos của Hy Lạp và Đan Mạch, Công tước xứ Edinburgh|Vương tế Philipp]] (người Nhà Glücksburg gốc Hy Lạp) là [[Charles III]] lên kế vị ngai vàng Anh, vì thế nước Anh và các nhà nước thịnh vương chung của nó hiện đang nằm dưới vương quyền của Nhà Glücksburg thông qua nhánh Glücksburg-Hy Lạp.<hr> | |||
[[Philippos của Hy Lạp và Đan Mạch, Công tước xứ Edinburgh|Vương tế Philipp]], chồng của Nữ vương Elizabeth II là người con út và là con trai duy nhất trong số 5 người con của Vương tử [[Andreas của Hy Lạp và Đan Mạch]] với vợ [[Alice xứ Battenberg]]. Cha của ông là con trai thứ 4 của [[Georgios I của Hy Lạp|Georgios I]], vua đầu tiên của Hy Lạp, vì thế ông gọi [[Konstantinos I của Hy Lạp]] là bác, các vua [[Georgios II của Hy Lạp|Georgios II]], [[Alexandros I của Hy Lạp|Alexandros I]] và [[Pavlos I của Hy Lạp|Pavlos I]] là anh họ đời đầu của ông. | |||
===Georgios I (1)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Vương quốc Hy Lạp|VƯƠNG QUỐC HY LẠP]]<hr> [[Vương tộc Glücksburg|Triều đại Glücksburg]] <br> (1863 - 1924 & 1935 - 1973)}}'''||colspan="1"|{{center|[[File:State Flag of Greece (1863-1924 and 1935-1973).svg|center|128px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Royal Coat of Arms of Greece.svg|center|70px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Georgios I của Hy Lạp|Vua Georgios I]] <br>(1863 - 1913)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị vua đầu tiên của Hy Lạp đến từ Nhà Glucksburg}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:5 Drachmai - George I 2nd portrait 1876.png|center|700px]]<hr>{{center|'''5 Drachmai [[Georgios I của Hy Lạp|Georgios I]] 1876A<hr> 149 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:George I of Greece, c.1912 (3x4 cropped).jpg|120px]]<br>'''1875 - 1876<hr>[[AU]]'''}}|| {{center|'''Đường kính'''<br>[[37,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[25,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[22,5 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[1.895.000]]<hr>3.300.000<hr>[[(126,92$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
===Pavlos I (5)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Vương quốc Hy Lạp|VƯƠNG QUỐC HY LẠP]]<hr> [[Vương tộc Glücksburg|Triều đại Glücksburg]] <br> (1863 - 1924 & 1935 - 1973)}}'''||colspan="1"|{{center|[[File:State Flag of Greece (1863-1924 and 1935-1973).svg|center|128px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Royal Coat of Arms of Greece.svg|center|70px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Pavlos I của Hy Lạp|Vua Pavlos I]] <br>(1947 - 1964)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị vua thứ 6 và áp chót của Hy Lạp đến từ Nhà Glucksburg}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:30 Drachmai Paul I Royal Dynasty - 1963AU.png|center|700px]]<hr>{{center|'''30 Drachmai [[Pavlos I của Hy Lạp|Paul I]]_[[Vương tộc Glücksburg|Kỷ niệm 100 năm Triều đại Hoàng gia]] (1863 - 1963)<hr> 62 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Paul I of GreeceFXD.jpg|120px]]<br>'''1963<hr>[[AU]]'''}}|| {{center|'''Đường kính'''<br>[[34,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[83,5%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[18,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[15,03 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[3.000.000]]<hr>490.000<hr>[[(20,85$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
|} | |||
==📗 THỤY SĨ - NAPOLEON== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#ccf"|[[File:XIX Cantone coa.svg|70px]] | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|Liên bang Thụy Sĩ dưới thời Napoleon | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
[[File:Karte 13 Alte Orte.png|thumb|250px|Các bang của Cựu Liên bang Thuỵ Sĩ từ năm 1513 - 1798]] | |||
[[Tập tin:Karte Helvetik 4.png|thumb|250px|Cộng hoà Helvetic năm 1802]] | |||
[[File:Karte Schweiz 1815.png|thumb|250px|Các bang của Liên bang Thuỵ Sĩ năm 1815]] | |||
[[File:Kantone der Schweiz.svg|thumb|250px|Các bang của Thuỵ Sĩ hiện tại]] | |||
Năm 1798, trong [[Chiến tranh Cách mạng Pháp]], người Pháp đã xâm lượt Thụy Sĩ và họ đã thành lập ra [[Cộng hòa Helvetic]]. Nền công hoà này gặp phải những vấn đề kinh tế và chính trị nghiêm trọng. Năm 1803, Tổng tài [[Napoleon Bonaparte]] của Pháp thông qua [[Đạo luật hòa giải]], cho bãi bỏ [[Cộng hòa Helvetic]], tái lập lại Liên bang Thuỵ Sĩ, và nhà nước này tồn tại cho đến năm 1815, khi hiệp ước Liên bang được thông qua và [[Đại hội Viên]] công nhận tính trung lập của Thuỵ Sĩ mãi mãi. Thời kỳ này còn được gọi là ''Thụy Sĩ trong kỷ nguyên Napoleon''. '''''Trong suốt thời kỳ Napoleon, Thuỵ Sĩ từ 13 bang được nâng lên 22 bang như hiện tại'''''. | |||
Napoleon mô tả Thụy Sĩ là liên bang "theo bản chất" và coi việc ép buộc khu vực này vào bất kỳ khuôn khổ hiến pháp nào khác là không khôn ngoan, vì thế ông cho bãi bỏ nền Cộng hoà mà thiết lập lại Liên bang. | |||
Trong Liên bang Thuỵ Sĩ mới được Napoelon thành lập có 6 bang mới, nâng tổn số bang của Thuỵ Sĩ lên 19 bang. Bao gồm: các lãnh thổ [[Aargau]], [[Thurgau]], [[Vaud]] và [[Ticino]] trở thành các bang có quyền bình đẳng. Tương tự như vậy, [[Ba liên minh]], trước đây là một liên kết nhưng không phải là thành viên chính thức của liên minh, đã trở thành thành viên chính thức với tư cách là '''[[Graubünden|bang Graubünden]]'''. Thành bang [[St. Gallen]], về mặt lịch sử cũng là một liên kết của liên minh, cùng với các lãnh thổ trước đây của chính nó đã trở thành thành viên chính thức với tư cách là '''[[St. Gallen (bang)|bang St. Gallen]]'''. | |||
Ngược lại, các lãnh thổ [[Biel/Bienne|Biel]], [[Valais]], [[Thân vương quốc Neuchâtel]] trước đây (sau này là [[Neuchâtel (bang)|bang Neuchâtel]]), của [[Giáo phận vương quyền Basel]] (sau này là [[Bernese Jura]]) và [[Geneva]] đã không trở thành một phần của liên bang Thụy Sĩ cho đến cuối [[Kỷ nguyên Napoléon|Kỷ nguyên Napoleon]]. Ngày 12 tháng 9 năm 1814, Quốc hội nâng Valais, Neuchâtel và Geneva lên thành thành viên chính thức của Liên bang, nâng tổng số bang của Thuỵ Sĩ thành 22. Tính đến nay, đây là lần mở rộng lãnh thổ cuối cùng của Thuỵ Sĩ, từ 13 bang của [[Cựu Liên bang Thụy Sĩ]], nâng lên 22 bang dưới thời Napoleon. | |||
[[Đạo luật hòa giải]] bao gồm 19 hiến pháp riêng biệt dành cho 19 bang có chủ quyền, được sắp xếp theo thứ tự bảng chữ cái, tiếp theo là "Đạo luật Liên bang" (Acte Fédéral, trang 101–109) nêu chi tiết các nghĩa vụ chung giữa các bang và các điều khoản cho Quốc hội Liên bang. Trong Quốc hội, 6 bang có dân số hơn 100.000 người (Bern, Zurich, Vaud, St Gallen, Graubünden và Aargau) được trao 2 phiếu bầu, các bang khác chỉ được 1 phiếu. Các cuộc họp của Quốc hội sẽ được tổ chức luân phiên tại [[Fribourg]], [[Bern]], [[Solothurn]], [[Basel]], [[Zürich]] và [[Lucerne]]. Các Landsgemeinden, hay các hội đồng nhân dân, đã được khôi phục tại các bang dân chủ, trong những trường hợp khác, chính quyền bang nằm trong tay của một Đại hội đồng (lập pháp) và hội đồng nhỏ (hành pháp). Sẽ không có giai cấp đặc quyền, thị dân hay đất đai lệ thuộc. Mọi công dân Thụy Sĩ đều được tự do di chuyển và định cư ở bất kỳ đâu trong Liên bang mới. | |||
|} | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đệ Nhất Đế chế Pháp|ĐẾ CHẾ PHÁP]]<hr>[[Liên bang Thụy Sĩ (Napoleonic)]]<br> (1803 - 1815)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Early Swiss cross.svg|center|85px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:XIX Cantone coa.svg|center|61px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|'''{{center|[[Zürich (bang)|BANG ZURICH]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|----------}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:40 Batz of Zurich 1813.png|center|700px]]<hr>{{center|'''40 batzen Zurich - 1813<hr>212 năm (2025)'''}} ||{{center|1813<hr>'''[[AU]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[41,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[29,43 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[26,487 gr]] <hr>'''Số lượng'''<br>[[57.896]]<hr>3.500.000<br>[[(150,22$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==📗 LIÊN BANG THỤY SĨ (MỚI)== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Thụy Sĩ|LIÊN BANG THỤY SĨ]]<br> (1848 - Nay)<hr> [[Basel-Stadt|Bang Basel-Stadt]] '''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Switzerland.svg|center|100px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of Switzerland.svg|center|91px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|'''{{center|[[Bernhard Hammer|Tổng thống Bernhard Hammer]] <br>(1/1/1879 - 31/12/1879)}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Tổng thống thứ 31 của Thụy Sĩ}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:5 franc Lễ hội Bắn súng Basel - 1879.png|center|700px]]<hr>{{center|'''5 franc_[[Eidgenössisches Schützenfest|Lễ hội Bắn súng Basel]] - 1879<hr>146 năm (2025)'''}} ||{{center|[[File:Bernhard Hammer 1889.jpg|100px]]<br>'''1879<hr>[[AU]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[37,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[25,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[22,5 gr]] <hr>'''Số lượng'''<br>[[30.000]]<hr>4.300.000<br>[[(184,55$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==🔮 THÂN VƯƠNG QUỐC ROMANIA== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#ccf"|[[File:Kingdom of Romania - Big CoA.svg|70px]] | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|VƯƠNG TỘC HOHENZOLLERN-SIGMARINGEN | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
[[File:Romania administrative divisions, 1864.svg|thumb|250px|Thân vương quốc Romania và Vương quốc Romania trước Thế chiến I]] | |||
[[Tập tin:Romania 1938.png|thumb|250px|Vương quốc Romania sau Thế chiến I]] | |||
[[Hohenzollern-Sigmaringen|Vương tộc Hohenzollern-Sigmaringen của Romania]] là một chi nhánh đến từ dòng [[Hohenzollern-Sigmaringen]], một thân vương quốc trong [[Đế chế La Mã Thần thánh]] (1576-1850) nó là một trong 3 dòng thuộc Nhánh Hohenzollern-Swabia, là nhánh trưởng của [[Vương tộc Hohenzollern]], trong khi đó Nhánh dưới là Hohenzollern-Franconia cai trị [[Bá quốc Brandenburg|Tuyển hầu xứ Brandenburg]], [[Vương quốc Phổ]] và sau là [[Đế quốc Đức]].<hr> | |||
Sau cái chết của Bá tước [[Karl I xứ Hohenzollern]], [[Bá quốc Hohenzollern]] đã được chia cho 3 người con của ông: Người con trai thứ 2 là [[Karl II xứ Hohenzollern-Sigmaringen|Karl]] đã nhận vùng Sigmaringen và trở thành bá tước đầu tiên của xứ [[Hohenzollern-Sigmaringen]]. Đến đời con của ông là [[Johann xứ Hohenzollern-Sigmaringen|Johann]] thì được nâng lên thành thân vương quốc. Nhánh này trải qua 10 đời quân chủ cai trị, trong đó có 1 bá tước và 9 thân vương. Năm 1849, Thân vương thứ 9 là [[Karl Anton xứ Hohenzollern-Sigmaringen|Karl Anton]] cùng với người họ hàng là Thân vương [[Konstantin xứ Hohenzollern-Hechingen]] đã quyết định nhường lãnh thổ lại cho [[Vương quốc Phổ]].<hr> | |||
[[Vương quốc România|Vương tộc Sigmaringen-Romania]] (1866-1947) có nguồn gốc từ người con trai thứ 2 của Thân vương Karl Anton là [[Carol I của România|Thân vương tử Karl Eitel]] đã được bầu lên làm [[Thân vương quốc Liên hiệp Moldavia và Wallachia|Thân vương xứ Moldavia và Wallachia]] vào năm 1866 sau khi Thân vương [[Alexandru Ioan Cuza]] bị lật dổ. Năm 1881 thì lập ra [[Vương quốc România]], ông trở thành vị vua đầu tiên với vương hiệu [[Carol I của România]].<hr> | |||
Sau khi Carol qua đời mà không có con thừa tự vào năm 1914, ngai vàng được nhường lại cho cháu của ông là [[Ferdinand I của România|Ferdinand]], con trai của em trai ông [[Leopold xứ Hohenzollern]] và [[Antónia của Bồ Đào Nha]] (con gái của Nữ vương [[Maria II của Bồ Đào Nha]]).<hr> | |||
Người nhà Sigmaringen cai trị Romania cho đến năm 1947 thì bị lật đổ, trải qua 4 đời quân chủ với 86 năm: [[Carol I của România|Carol I]] (1866-1914); [[Ferdinand I của România|Ferdinand I]] (1914-1927); [[Mihai I của România|Mihai I]] (1927-1930); [[Carol II của România]] (1930-1940); Mihai I lên ngôi lần 2 (1940-1947). Dòng này cũng đã chính thức tuyệt tự dòng nam sau khi cựu vương [[Mihai I của România]] qua đời vào năm 2017, vì ông chỉ có 5 người con gái.<hr> | |||
===Carol I=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Thân vương quốc Liên hiệp Moldavia và Wallachia|THÂN VƯƠNG QUỐC ROMANIA THUỘC ĐẾ CHẾ OTTOMAN]] <br> (1859 - 1881) <hr> [[Hohenzollern-Sigmaringen|Nhà Hohenzollern-Sigmaringen]]}}'''||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Romania.svg|center|125px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Principality of Romania - 1872 CoA.svg|center|75px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Carol I của Romania|Thân vương Carol I]] <br>(1866 - 1881)}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị Thân vương thứ 2 của Romania và quân chủ đầu tiên đến từ Nhà Hohenzollern-Sigmaringen}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Carol I của Romania|Vua Carol I]] <br>(1881 - 1914)}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị vua đầu tiên của Vương quốc Romania}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:5 lei Carol I of Romania - 1881.png|center|700px]]<hr>{{center|'''5 lei [[Carol I của Romania|Carol I]] - 1881<hr>144 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Carol I King of Romania.jpg|120px]]<br>1880 - 1881<hr>'''[[XF]]'''}}|| {{center|'''Đường kính'''<br>[[37,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[25,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[22,5 gr]] <hr>'''Số lượng'''<br>[[2.200.000]]<hr>1.700.000<br>[[(72,96$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
* Thông qua mẹ là [[Josephine xứ Baden]], ông là cháu ngoại của Đại công tước [[Karl Ludwig Friedrich xứ Baden]] và [[Stéphanie de Beauharnais]] (nghĩa nữ của [[Hoàng đế Napoleon I]]), vì thế ông gọi Đại công tước '''[[Karl Friedrich xứ Baden]]''' là ông sơ. | |||
==🔮 VƯƠNG QUỐC ROMANIA== | |||
===Mihai I=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Vương quốc România|VƯƠNG QUỐC ROMANIA]] <br> (1881 - 1947) <hr> [[Hohenzollern-Sigmaringen|Nhà Hohenzollern-Sigmaringen]]}}'''||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Romania.svg|center|130px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Kingdom of Romania - Big CoA.svg|center|75px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Mihai I của Romania|Vua Mihai I]] <br>([[1927 - 1930]] & [[1940 - 1947]])}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị quân chủ thứ 3 và 5 cũng như cuối cùng của Romania}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:100.000 lei Mihai I of Romania 1946.png|center|700px]]<hr>{{center|'''100.000 lei [[Mihai I của Romania|Mihai I]] - 1946<hr> 79 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:H.M. King Michael of Romania.jpg|120px]]<br>1946<hr>'''[[MS]]'''}}|| {{center|'''Đường kính'''<br>[[37,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[70,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[25,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[17,5 gr]] <hr>'''Số lượng'''<br>[[2.002.000]]<hr>1.280.000<br>[[(54,02$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#fbd"|Mihai I <br> (1927 - 1930 & 1940 - 1947) | |||
|- | |||
|style="background:LemonChiffon;"| | |||
[[Mihai I của România]] (1921 - 2017), ông là vị quân chủ cuối cùng của [[Vương quốc România]], lên ngôi 2 lần: lần đầu tiên là sau cái chết của ông nội [[Ferdinand I của România|Ferdinand I]], ông trị vì từ năm 1927 - 1930, và lần thứ 2 từ 1940 - 1947, sau khi [[Carol II của România|Carol II]] thoái vị. '''''Năm 5 tuổi lên ngôi lần đầu tiên, năm 9 tuổi thoái vị; Năm 18 tuổi lên ngôi vua lần thứ 2 và năm 26 tuổi thoái vị''''', chế độ quân chủ bị bãi bỏ. Ông ''''sống thọ 96 tuổi, ở trên ngai vàng tổng cộng 2 lần được 10 năm'''''. | |||
* Ngay sau khi Mihai chào đời, cha của ông, [[Carol II của România|Thái tử Carol]], vướng vào mối quan hệ gây tranh cãi với [[Magda Lupescu]]. Năm 1925, Carol bị áp lực phải từ bỏ quyền lên ngôi và chuyển đến [[Paris]] sống lưu vong cùng Lupescu. | |||
* Năm 1927, Mihai lên ngôi sau cái chết của ông nội là [[Ferdinand I của Romania|Ferdinand I]]. '''''Mihai lúc đó mới 5 tuổi''''', một hội đồng nhiếp chính đã được thành lập, bao gồm chú của ông là [[Vương tử Nicolae của Romania|Thân vương Nicolas]], [[Thượng phụ Miron của Romania|Thượng phụ Miron Cristea]] và Chánh án [[Gheorghe Buzdugan]]. | |||
* Hội đồng nhiếp chính tỏ ra không hiệu quả và vào năm 1930, Carol trở lại România và thay thế con trai mình làm quốc vương, với vương hiệu Carol II. Do đó, Mihai trở lại với tư cách là người thừa kế ngai vàng và được trao thêm tước hiệu [[Voivoda|Đại Voievod]] xứ Alba-Iulia. | |||
* Cha của ông là [[Carol II của România|Carol II]] buộc phải thoái vị vào năm 1940 vì chống Đức Quốc xã, và '''''Mihai một lần nữa trở thành vua, lúc đó ông 18 tuổi'''''. Dưới chính phủ do nhà độc tài quân sự [[Ion Antonescu]] lãnh đạo, România đã liên kết với [[Đức Quốc xã]]. | |||
* Năm 1944, Mihai tham gia một cuộc [[Khởi nghĩa tháng 8 năm 1944 tại Romania|đảo chính chống lại Antonescu]], bổ nhiệm [[Constantin Sănătescu]] làm thủ tướng, và sau đó tuyên bố liên minh với quân Đồng minh. Tháng 3 năm 1945, áp lực chính trị buộc Mihai phải bổ nhiệm một chính phủ thân [[Liên Xô]] do [[Petru Groza]] đứng đầu. | |||
* Từ tháng 8 năm 1945 đến tháng 1 năm 1946, Mihai tiến hành "cuộc đình công hoàng gia" và cố gắng chống lại chính phủ do cộng sản kiểm soát của Groza nhưng không thành công bằng cách từ chối ký và thông qua các sắc lệnh của chính phủ này. | |||
* Vào tháng 11 năm 1947, Mihai tham dự đám cưới của chị họ mình là Nữ vương tương lai của Anh [[Elizabeth II]] với [[Philippos của Hy Lạp và Đan Mạch, Công tước xứ Edinburgh|Vương tôn Philippos của Hy Lạp và Đan Mạch]] tại [[London]]. Ngay sau đó, vào sáng ngày 30 tháng 12 năm 1947, Groza gặp Mihai và buộc ông phải thoái vị. | |||
* '''''Mihai bị buộc phải sống lưu vong, năm đó ông 26 tuổi''''', tài sản bị tịch thu và tước quyền công dân. Năm 1948, ông kết hôn với [[Anne của Romania|Công nữ Anne xứ Bourbon-Parma]], người mà ông có 5 cô con gái. Hai vợ chồng cuối cùng định cư ở [[Thụy Sĩ]]. | |||
* Chế độ độc tài cộng sản của Nicolae Ceaușescu bị [[Cách mạng România|lật đổ vào năm 1989]] và năm sau Mihai cố gắng quay trở lại România, nhưng bị bắt và buộc phải rời đi khi đến nơi. | |||
* Năm 1992, Mihai được phép đến thăm România vào dịp lễ Phục sinh, nơi ông được chào đón bởi rất nhiều đám đông; một bài phát biểu của ông ấy từ cửa sổ khách sạn đã thu hút ước tính một triệu người đến [[Bucharest]]. Lo lắng trước sự nổi tiếng của Mihai, chính phủ hậu cộng sản của [[Ion Iliescu]] đã từ chối cho phép ông tiếp tục thăm viếng. | |||
* Năm 1997, sau thất bại của Iliescu trước [[Emil Constantinescu]] trong cuộc bầu cử tổng thống năm trước, quyền công dân của Mihai được khôi phục và ông được phép đến thăm România một lần nữa. Một số tài sản bị tịch thu, chẳng hạn như [[Lâu đài Peleș]] và [[Lâu đài Săvârșin]], cuối cùng đã được trả lại cho gia đình ông.<hr> | |||
Ông được sinh ra với tư cách là cháu nội của đương kim Quốc vương [[Ferdinand I của Romania|Ferdinand I của România]] và là cháu ngoại của đương kim Quốc vương [[Konstantinos I của Hy Lạp|Constantine I của Hy Lạp]]. Khi cha của ôg bỏ trốn cùng tình nhân Elena Magda Lupescu và từ bỏ quyền thừa kế ngai vàng vào tháng 12 năm 1925, Mihai được tuyên bố là người thừa kế rõ ràng. Mihai kế vị ngai vàng România sau cái chết của ông nội Ferdinand vào tháng 7 năm 1927, trước sinh nhật lần thứ 6 của ông. | |||
Mihai đã từng ăn trưa với [[Adolf Hitler]] hai lần — một lần với cha ở [[Bayern]] năm 1937, và lần hai với mẹ ở [[Berlin]] năm 1941. | |||
Năm 1944, Mihai tham gia một cuộc [[Khởi nghĩa tháng 8 năm 1944 tại Romania|đảo chính lật đổ Antonescu]] thân Đức Quốc xã và ủng hộ Đồng Minh. Các nhà sử học România đã khẳng định rằng '''''cuộc đảo chính có thể đã rút ngắn Thế chiến II xuống 6 tháng, do đó cứu sống hàng trăm nghìn người'''''. | |||
Khi chiến tranh kết thúc, Vua Mihai được Tổng thống Hoa Kỳ [[Harry S. Truman]] trao tặng Huân chương ''"Legion of Merit"'' ở cấp bậc cao nhất ''"Chief Commander"''. | |||
Ông được [[Iosif Vissarionovich Stalin|Stalin]] trao tặng [[Huân chương Chiến thắng (Liên Xô)|Huân chương Chiến thắng của Liên Xô]] ''"vì hành động dũng cảm thay đổi triệt để nền chính trị của România theo hướng ly khai khỏi nước Đức của Hitler và liên minh với [[Khối Đồng Minh thời Chiến tranh thế giới thứ hai|Đồng Minh]], vào thời điểm không có dấu hiệu rõ ràng", chưa thất bại của Đức"''. Với cái chết của [[Michał Rola-Żymierski]] vào năm 1989, '''''Mihai trở thành người duy nhất còn sống được nhận Huân chương Chiến thắng'''''. Huân chương này '''''chỉ được trao 20 lần cho 12 chỉ huy Liên Xô và 5 người ngoài Liên Xô''''', trong đó có 1 người bị thu hồi.<hr> | |||
Vào tháng 11 năm 1947, Vua Mihai tới [[London]] để dự đám cưới của người chị họ là Vương nữ Elizabeth (sau này là [[Elizabeth II của Anh|Nữ vương Elizabeth II của Anh]]) và [[Philippos của Hy Lạp và Đan Mạch, Công tước xứ Edinburgh|Vương tôn Philippos của Hy Lạp và Đan Mạch]]. Vua Mihai từ chối mọi lời đề nghị tị nạn và quyết định quay trở lại România, trái ngược với lời khuyên bí mật và mạnh mẽ của Đại sứ Anh tại România. | |||
* Sáng sớm ngày 30 tháng 12 năm 1947, Mihai đang chuẩn bị cho bữa tiệc năm mới tại [[Lâu đài Peleș]] ở [[Sinaia]] thì Groza yêu cầu nhà vua trở lại [[Bucharest]]. Mihai quay trở lại [[Cung điện Elisabeta]] ở Bucharest và thấy nó đã bị bao vây bởi quân lính của [[Sư đoàn Tudor Vladimirescu]], một đơn vị quân đội hoàn toàn trung thành với Cộng sản. Groza và lãnh đạo Đảng Cộng sản Gheorghe Gheorghiu-Dej đang đợi ông và yêu cầu ông ký vào một văn bản thoái vị được đánh máy sẵn. Mihai cuối cùng đã ký vào văn bản. Một số nguồn tài liệu cho rằng Mihai đã bị đe doạ bởi súng và giết chết những người thân tín của nhà vua, nhưng một số tài liệu khác thì cho rằng việc nhà vua thoái vị đã được thưởng thảo trước đó và đương nhiên có kèm theo lời đe doạ. | |||
* Có báo cáo cho rằng chính quyền Cộng sản România đã '''''cho phép Vua Mihai ra đi cùng với 42 bức tranh có giá trị thuộc sở hữu của Vương quyền''''' vào tháng 11 năm 1947, để ông rời România nhanh hơn. Một số bức tranh này được cho là đã được bán thông qua nhà buôn tranh nổi tiếng Daniel Wildenstein. | |||
* Theo các tài liệu được giải mật của Bộ Ngoại giao Anh là chủ đề của các bản tin năm 2005, khi rời România, Vua Mihai đã mang theo 500.000 franc Thụy Sĩ. Bản ghi chép cuộc đàm phán của Liên Xô được giải mật gần đây giữa Iosif Vissarionovich Stalin và Thủ tướng România Petru Groza cho thấy rằng ngay trước khi thoái vị, '''''Vua Mihai đã nhận được từ chính phủ cộng sản số tài sản lên tới 500.000 franc Thụy Sĩ'''''.<hr> | |||
Vợ của Mihai theo Công giáo, trong khi đó nhà vua thì theo Chính thống giáo, để kết hôn, Mihai phải thề sẽ để các con ông được nuôi dạy theo Công giáo, nhưng ông đã từ chối, vì điều này sẽ đi ngược lại với hiến pháp Romania và sẽ khiến cho việc phục hoàng của ông gặp khó khăn, vì thế mà '''''Toà thánh Vatican đã từ chối công nhận cuộc hôn nhân, trừ khi Mihai thực hiện lời thề bắt buộc'''''. Tuy gặp nhiều trở ngại, nhưng cuối cùng họ cũng đã kết hôn, bất chấp sự phản đối của nhiều bên. | |||
* [[Giáo hoàng Piô XII]] đã từ chối tất cả lời cầu xin đến từ Hoàng gia Ý, Hoàng gia Romania và hoàng gia Bourbon-Parma. Dù rất tức giận trước lời từ chối của Vatican, nhưng mẹ của Anne đã không cho phép Anne kết hôn với Mihai. | |||
* Người ta suy đoán rằng việc Giáo hoàng từ chối một phần là do thực tế là khi Vương nữ [[Giovanna của Ý]] kết hôn với anh họ của Anne là Vua [[Boris III của Bulgaria]], vào năm 1930, cặp đôi đã cam kết nuôi dạy những đứa con tương lai của họ theo đạo Công giáo La Mã, nhưng đã rửa tội cho chúng theo đạo Chính thống giáo để tôn trọng tôn giáo nhà nước của [[Vương quốc Bulgaria]]. | |||
* Lễ cưới được tổ chức vào ngày 10 tháng 6 năm 1948 tại [[Athens]], [[Vương quốc Hy Lạp]], trong phòng ngai vàng của Cung điện Hoàng gia; buổi lễ được cử hành bởi Tổng giám mục Damaskinos, và Vua [[Pavlos I của Hy Lạp]] làm [[lễ cưới|koumbaros]] (chủ hôn). | |||
* Vì không có sự cho phép của [[Giáo hoàng]] đối với cuộc hôn nhân, khi nó được cử hành theo nghi lễ của Giáo hội Chính thống giáo Đông phương, nó được Giáo hội Công giáo La Mã coi là không hợp lệ, nhưng hoàn toàn hợp pháp bởi mọi thẩm quyền khác. | |||
|} | |||
|} | |||
==🛎️ THÂN VƯƠNG QUỐC BULGARIA== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#ccf"|[[Tập tin:Arms of the house of Saxe-Coburg and Gotha-Koháry.svg|70px]] | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|VƯƠNG TỘC SACHSEN-COBURG & GOTHA-KOHÁRY | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
[[File:Bulgaria after unification political map-en.svg|thumb|250px|Thân vương quốc Bulgaria]] | |||
[[File:KingdomOfBulgaria1941-1944.png|thumb|250px|Vương quốc Bulgaria 1941 - 1944]] | |||
[[Vương tộc Sachsen-Coburg và Gotha-Koháry]] là một nhánh của [[Vương tộc Sachsen-Coburg và Gotha]], vì thế nó là một chi nhánh thuộc dòng [[Các công quốc Ernestine|Ernestine]] của [[Vương tộc Wettin]]. Vương tộc này được tạo ra từ cuộc hôn nhân giữa [[Ferdinand xứ Sachsen-Coburg và Gotha|Thân vương Ferdinand]] đến từ Nhà [[Sachsen-Coburg và Gotha]] với Nữ thân vương [[Mária Antónia Koháry xứ Csábrág và Szitnya]] của [[Nhà Koháry]] vào năm 1815. Mária Antónia Koháry là nữ thừa kế của [[Ferenc József, Thân vương Koháry xứ Csábrág và Szitnya]], một trong 3 chủ nhất giàu có nhất [[Vương quốc Hungary]] thuộc [[Đế quốc Áo]]. Trước khi Mária kết hôn 2 tuần, Hoàng đế [[Franz Joseph I của Áo]] đã nâng cha bà lên hàng thân vương đế chế để cho cuộc hôn nhân của Mária với Ferdinand không rời vào [[quý tiện kết hôn]], vì Ferdinand xuất thân từ một triều đại cai trị. Nhờ vào điều này mà hậu duệ của họ đã được hôn phối với các vương tộc ở khắp châu Âu.<hr> | |||
[[Ferdinand xứ Sachsen-Coburg và Gotha|Thân vương Ferdinand]] là người con thứ 5 và là con trai thứ 2 của công tước [[Franz I xứ Sachsen-Coburg-Saalfeld]], vì thế ông là em trai của [[Ernst I xứ Sachsen-Coburg và Gotha]], anh trai của Vua [[Léopold I của Bỉ]] và [[Victoire xứ Sachsen-Coburg-Saalfeld]], vì thế ông là bác của [[Nữ hoàng Victoria]].<hr> | |||
Năm 1826, sau cái chết của cha vợ, Ferdinand và vợ đã được thừa kế hơn 150.000 ha đất ở [[Hạ Áo]], [[Hungary]] và [[Slovakia]] ngày nay, bao gồm các điền trang, rừng, hầm mỏ và nhà máy, tổng tài sản lên đến 20 triệu franc. <hr> | |||
* '''''[[Vương tộc Bragança-Saxe-Coburgo-Gota|Nhánh Bragança-Saxe-Coburgo-Gota]] (1837-1910):''''' Con trai trưởng của Ferdinand và Mária Antónia là [[Fernando II của Bồ Đào Nha|Thân vương Ferdinand August]] trở thành chồng của Nữ vương [[Maria II của Bồ Đào Nha]], sau khi sinh được người thừa kế thì Ferdinand August chiếu theo Luật ''[[Jure uxoris]]'' ông được tôn lên làm vua đồng cai trị với vợ, lấy vương hiệu Fernando II vào năm 1837, nâng nhà [[Vương tộc Saxe-Coburg và Gotha-Koháry|Sachsen-Coburg và Gotha-Koháry]] lên hàng vương tộc. Bốn vị vua cuối cùng của Vương quốc Bồ Đào Nha đều đến từ vương tộc này. Sau cái chết của Vua [[Manuel II của Bồ Đào Nha|Manuel II]] năm 1932, vương tộc tuyệt tự dòng nam. | |||
* '''''[[Vương tộc Sachsen-Coburg và Gotha-Koháry|Nhánh Bulgary Sachsen-Coburg và Gotha-Koháry]] (1886-1946):''''' Con trai thứ hai của Ferdinand và Mária Antónia là [[August xứ Sachsen-Coburg và Gotha|Thân vương August]] đã kết hôn với Vương nữ [[Clémentine của Orléans]], con gái út của Vua [[Louis-Philippe I của Pháp]] và con trai út của cặp đôi này là [[Ferdinand I của Bulgaria|Thân vương Ferdinand Maximilian]] đã được bầu làm [[Thân vương quốc Bulgaria|Thân vương Bulgaria]] với vương hiệu Ferdinand I vào năm 1886, sau khi Thân vương [[Aleksandr I của Bulgaria]] bị lật đổ. Năm 1908, Ferdinand I lập ra [[Vương quốc Bulgaria|Sa quốc Bulgaria]] và trở thành sa hoàng đầu tiên của vương quốc này. Hai vị sa hoàng cuối cùng của Bulgaria là [[Boris III của Bulgaria|Boris III]] và [[Simeon Sakskoburggotski|Simeon II]] là hậu duệ của ông. Năm 2001, cựu vương Simeon II đã đắc cử và trở thành Thủ tướng thứ 48 của Bulgaria, ông trở thành 1 trong 2 người từng làm vua của một chế độ quân chủ, vừa được bầu làm thủ tướng của một nhà nước cộng hòa trong hai giai đoạn riêng biệt. <hr> | |||
===Ferdinand I=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Công quốc Bulgaria|THÂN VƯƠNG QUỐC BULGARIA THUỘC ĐẾ CHẾ OTTOMAN]]<br> (1878 - 1908) <Hr> [[Vương tộc Sachsen-Coburg và Gotha-Koháry|Nhà Sachsen-Coburg và Gotha-Koháry]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Bulgaria.svg|center|120px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Larger State Achievement of Bulgaria 1879–1907.svg|center|77px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Ferdinand I của Bulgaria|Thân vương Ferdinand I]] <br>(1887 - 1908)}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị Thân vương thứ 2 của Bulgaria và quân chủ đầu tiên đến từ Nhà Sachsen-Coburg và Gotha-Koháry}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Ferdinand I của Bulgaria|Vua Ferdinand I]] <br>(1908 - 1918)}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị vua đầu tiên của Vương quốc Bulgaria}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:5 leva Ferdinand I of Bulgaria - 1894.png|center|700px]]<hr>{{center|'''5 leva [[Ferdinand I của Bulgaria|Ferdinand I]] - 1894<hr>131 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Zar Ferdinand Bulgarien.jpg|120px]]<br>'''1894<hr>[[AU]]'''}}|| {{center|'''Đường kính'''<br>[[37,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[25,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[22,5 gr]] <hr>'''Số lượng'''<br>[[1.800.000]]<hr>1.700.000<br>[[(72,96$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
* Ông là một người đồng tính, giống trường hợp của [[Ludwig II của Bayern]], [[Karl I của Württemberg]] và [[Philippe I xứ Orléans]] (ông tổ của Vương tộc Orléans). | |||
==🛎️ VƯƠNG QUỐC BULGARIA== | |||
===Boris III=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Vương quốc Bulgaria|VƯƠNG QUỐC BULGARIA]] <br> (1908 - 1946) <hr> [[Vương tộc Sachsen-Coburg và Gotha-Koháry|Nhà Sachsen-Coburg và Gotha-Koháry]]}}'''||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Bulgaria.svg|center|120px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:State Achievement of Bulgaria 1908-1946.svg|center|87px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Boris III của Bulgaria|Sa hoàng Boris III]] <br>(1918 - 1943)}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị vua thứ 2 và áp chót của Bulgaria}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:100 leva Boris III 1937.png|center|700px]]<hr>{{center|'''100 leva [[Boris III của Bulgaria|Boris III]] - 1937<hr>88 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Boris III of Bulgaria.jpg|120px]]<br>'''1934 - 1937<hr>[[MS]]'''}}|| {{center|'''Đường kính'''<br>[[34,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[50,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[20,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[10,0 gr]] <hr>'''Số lượng'''<br>[[2.207.417]]<hr>950.000<br>[[(38,38$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#fbd"|Boris III | |||
|- | |||
|style="background:LemonChiffon;"| | |||
[[Boris III của Bulgaria]] là anh trai của [[Kiril, Thân vương xứ Preslav]], sau khi anh trai đột ngột qua đời, Thân vương Kiril trở thành người đứng đầu hội đồng nhiếp chính cho cháu mình là [[Simeon Sakskoburggotski|Simeon II của Bulgaria]], lúc đó mới 6 tuổi. Tháng 1 năm 1945, ông bị chính quyền cộng sản kết án tử hình, vào đêm ngày 1 tháng 2 năm 1945, ông bị hành quyết tại Nghĩa trang Trung tâm Sofia cùng với cựu Thủ tướng kiêm Nhiếp chính Giáo sư Bogdan Filov, Nhiếp chính Nikola Mihov, cùng một loạt cựu bộ trưởng nội các, cố vấn hoàng gia và 67 nghị sĩ. Ngày 26/8/1996, Tòa án Tối cao đã hủy bản án ngày 1/2/1945 kết án tử hình ba nhiếp chính, bộ trưởng và ủy viên hội đồng.<hr> | |||
|} | |||
|} | |||
==🍓 VƯƠNG QUỐC SERBIA== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#ccf"|[[File:Coat of arms of the Karadjordjevic dynasty .png|70px]] | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|Vương tộc Karađorđević<br> [[1804 - 1813]] & [[1842 - 1858]] & [[1903 - 1945]] | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
[[File:AtlBalk1880.jpg|thumb|250px|Vương quốc Serbia năm 1890]] | |||
[[File:SerbiaEn1913.svg|thumb|250px|Vương quốc Serbia năm 1913, sau khi mở rộng lãnh thổ gấp đôi]] | |||
[[File:Provinces and Sub-Provinces of the Kingdom of Serbs, Croats and Slovenes - Yugoslavia (1918-1922).png|thumb|250px|Các tỉnh của Vương quốc Serbs, Croats và Slovenes (1918 - 1922)]] | |||
Người sáng lập ra [[Triều đại Karađorđević]] chính là [[Karađorđe|Karađorđe Petrović]] (1768–1817), ông '''''sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo khó ở [[Serbia thuộc Ottoman]]''''', cha của ông là '''''Petar Jovanović, khi còn trẻ là một tên cướp''''' (hay hajduk - những tên cướp chuyên ăn trộm của khách du lịch), nhưng sau đó đã trở thành một nông dân. | |||
Gia tộc của ông được cho là hậu duệ của bộ tộc [[Vasojevići]] ở thung lũng [[Lim (sông)|sông Lim]] của [[Montenegro]] ngày nay. Tổ tiên của ông được cho là đã di cư từ Montenegro đến [[Šumadija]] vào cuối những năm 1730 hoặc đầu những năm 1740. Tuổi thơ của Petrović thật vất vả và khó khăn. Cha mẹ ông buộc phải di chuyển thường xuyên để tìm kế sinh nhai. Cha của ông làm công nhật và người hầu cho một [[Sipahi]], một kỵ binh Ottoman. Bản thân '''''Karađorđe đã trải qua thời niên thiếu của mình với công việc chăn cừu'''''. | |||
Karađorđe làm việc cho một số địa chủ trên khắp Šumadija cho đến năm 1787, khi ông và gia đình rời vùng này và định cư ở lãnh thổ của [[Quân chủ Habsburg]], vì lo sợ bị đàn áp dưới bàn tay của những người lính Ottoman. Người ta nói rằng khi họ chuẩn bị vượt sông Danube để đến Áo, cha của Karađorđe bắt đầu có suy nghĩ thứ hai về việc ở lại Šumadija. '''''Biết rằng cả gia đình sẽ gặp nguy hiểm nếu cha ở lại, Karađorđe đã giết cha mình hoặc sắp xếp cho ai đó giết ông'''''. | |||
Ông tham gia lực lượng dân quân tình nguyện người Serbia, được trang bị và huấn luyện bởi Áo để chống lại quân Ottoman trong [[Chiến tranh Áo-Thổ (1788–1791)]]. Việc Petrović tham gia cuộc chiến đã mang lại cho ông kinh nghiệm quân sự vô giá cũng như hiểu biết sâu sắc về kỹ thuật quân sự của người Áo. Ông nổi bật trong chiến đấu và được tặng thưởng vì lòng dũng cảm, đạt cấp bậc trung sĩ. Với tư cách này, ông được giao quyền chỉ huy một đội gồm 25 người. Năm 1791, người Áo và người Ottoman ký Hiệp ước Sistova, họ bỏ mặt dân quân Serbia, năm 1792 hầu hết các thủ lĩnh Serbia bị Ottoman bắt và xử tử. Karađorđe đã lưu vong tại Áo, sau khi có lệnh ân xá, ông và gia đình trở lại Serbia và định cư tại [[Topola]] và hành nghè buồn bán gia súc và giao thương với người Áo. | |||
Năm 1796, [[Osman Pazvantoğlu]], thống đốc của [[Sanjak Vidin]] đã chống lại quyền lực của Ottoman và phát động tấn công Pashalik xứ Beograd, người đứng đầu lãnh thổ này đã thành lập lực lượng dân quân Serbia để ngăn chặn cuộc tấn công. Karađorđe tham gia lực lượng và trở thành boluk-bashi, lãnh đạo một đại đội 100 người. Với tài năng của mình, ông được người Ottoman phong cho danh hiệu "George Đen" (Karađorđe), một phần vì mái tóc đen của ông và một phần vì danh tiếng nham hiểm. | |||
'''''Karađorđe là ''Veliki Vožd'' (Lãnh đạo tối cao) của Serbia trong [[Cuộc nổi dậy lần đầu tiên của người Serbia]] năm 1804–1813 chống lại quyền thống trị của [[Đế quốc Ottoman]]'''''. Karađorđe và những người theo ông sau đó yêu cầu Serbia được trao quy chế tự trị tương tự như quy chế mà nước láng giềng [[Wallachia]] được hưởng. [[Selim III]] nghi ngờ rằng yêu cầu tự chủ của Karađorđe chỉ là bước đầu tiên hướng tới độc lập hoàn toàn cho Serbia. Ông đáp lại bằng cách tuyên bố thánh chiến chống lại quân nổi dậy. | |||
Người Ottoman phải chịu một chuỗi thất bại trước lực lượng của Karađorđe. Đến năm 1806, quân nổi dậy đã chiếm được tất cả các thị trấn lớn ở Smederevo Sanjak, bao gồm [[Belgrade]] và [[Smederevo]], đồng thời trục xuất cư dân Hồi giáo. Bị gánh nặng bởi những yêu cầu của [[Chiến tranh Nga-Thổ Nhĩ Kỳ năm 1806–1812]], Selim đã trao quyền tự chủ rộng rãi cho người Serb. Tuy nhiên, Karađorđe từ chối vì Đế quốc Nga đồng ý hỗ trợ cho quân nổi dậy nếu họ tiếp tục chiến đấu. | |||
Đấu đá nội bộ thường xuyên, cùng với cuộc xâm lược Nga của Hoàng đế [[Napoléon I]] vào năm 1812, đã làm suy yếu quân nổi dậy và người Ottoman đã có thể đảo ngược nhiều lợi ích của họ. Karađorđe buộc phải chạy trốn khỏi Serbia vào tháng 10 năm 1813 và Belgrade thất thủ vào cuối tháng đó, khiến Cuộc nổi dậy đầu tiên của người Serbia thất bại. Ông và thân tin phải chạy trốn khỏi Serbia. | |||
Sau Cuộc nổi dậy Serbia lần thứ hai được lãnh đạo bởi [[Miloš Obrenović]], Ottoman đã nhượng bộ và cho thành lập [[Thân vương quốc Serbia]] vào năm 1815, Miloš trở thành thân vương đầu tiên thuộc Triều đại Obrenović. Năm 1817, '''''Karađorđe bí mật trở về Serbia từ [[Bessarabia]], nhưng bị giết ngay sau đó bởi các đặc vụ của [[Miloš Obrenović]]''''', vì lo ngại rằng sự xuất hiện trở lại của Karađorđe sẽ khiến Đế chế Ottoman từ bỏ những nhượng bộ mà họ đã đồng ý sau Cuộc nổi dậy lần thứ hai của người Serbia năm 1815. | |||
Sau những xung đột chính trị do sự thiếu tôn trọng đối với cái gọi là "hiến pháp Thổ Nhĩ Kỳ" và sự thoái vị của Thân vương [[Miloš Obrenović]] và sau đó là [[Mihailo Obrenović, Thân vương xứ Serbia|Mihailo Obrenović]] thuộc [[Triều đại Obrenović]] đối thủ, con trai út của Karađorđe là [[Alexander Karađorđević, Thân vương xứ Serbia|Aleksandar Karađorđević]] đã được bầu làm [[Thân vương quốc Serbia|Thân vương xứ Serbia]], Triều đại Karađorđević chính thức trở thành quân chủ Serbia. | |||
Trong cuộc [[Cách mạng Hungary 1848]] ở [[Vojvodina]], Thân vương Aleksandar Karađorđević đã cử quân tình nguyện Serbia dưới sự chỉ huy của [[Stevan Knićanin]] để giúp người Serbia đấu tranh giành quyền tự chủ. Tiếp theo [[Cách mạng 1848|các phong trào chính trị quốc gia năm 1848]], ý tưởng [[Toàn Slav]] về [[Liên bang Nam Tư|chế độ quân chủ Nam Tư]] đã xuất hiện. | |||
Trong suốt thời kỳ trị vì của mình, Thân vương Alexander đã gặp rắc rối với các âm mưu của Nhà Obrenović. Vì từ chối tham gia [[Chiến tranh Krym]] với tư cách là đồng minh của Đế chế Pháp, Anh và Ottoman chống lại Đế chế Nga. Kết quả là ông bị lật đổ và lưu vong vào năm 1858, và đưa triều đại Obrenović trở lại ngai vàng Serbia. | |||
Năm 1867, các đơn vị đồn trú của quân đội Ottoman đã rút lui Thân vương quốc Serbia, đảm bảo nền độc lập trên thực tế của nhà nước này. Serbia mở rộng hơn nữa về phía đông nam vào năm 1878, khi giành được sự công nhận quốc tế hoàn toàn tại [[Berlin (1878)|Đại hội Berlin]]. Năm 1882, [[Milan I của Serbia|Thân vương Milan Obrenović]] của [[triều đại Obrenović]] lập ra [[Vương quốc Serbia]], trở thành vua đầu tiên. | |||
Sau vụ [[ám sát]] [[Alexander I của Serbia]], vua thứ 2 thuộc Nhà Obrenović vào năm 1903 trong cuộc đảo chính tháng 5 bởi một nhóm sĩ quan Serbia, [[Quốc hội Serbia]] đã bầu con trai của vị cựu thân vương bị phế truất [[Aleksandar Karađorđević, Thân vương xứ Serbia|Aleksandar Karađorđević]]) là [[Petar I của Serbia|Petar Karađorđević]], lúc đó đang sống lưu vong, lên ngai vàng của [[Vương quốc Serbia]] với vương hiệu Petar I, năm đó ông đã 60 tuổi. Petar I rất được người Serbia và người Nam Slav kính trọng, ông đã đưa Serbia thành công trong 2 cuộc chiến Baikal và từ đó mở rộng diện tích của vương quốc lên gấp đôi. | |||
Ngay trước khi [[Thế chiến thứ nhất]] kết thúc vào năm 1918, đại diện của ba dân tộc đã tuyên bố thành lập [[Vương quốc Nam Tư|Vương quốc Serb, Croatia và Slovenes]] với Petar I là quân chủ. Năm 1929, vương quốc được đổi tên thành Vương quốc Nam Tư, dưới thời [[Aleksandar I của Nam Tư|Alexander I]], con trai của Peter I. Vào tháng 11 năm 1945, vương tộc này mất ngai vàng khi [[Liên đoàn Cộng sản Nam Tư]] phế truất quyền trị vì của [[Petar II của Nam Tư|Petar II]] và ông phải sống lưu vong tại Mỹ. Ông bị trầm cảm và nghiện rượu, sau đó qua đời vì bệnh [[xơ gan]] vào tháng 11 năm 1970 ở tuổi 47.<hr> | |||
===🛑 Petar I=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Vương quốc Serbia|VƯƠNG QUỐC SERBIA]]<br> (1882 - 1918) <hr> [[Triều đại Karađorđević]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Serbia (1882–1918).svg|center|120px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Royal Coat of arms of Serbia (1882–1918).svg|center|65px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Petar I của Serbia|Vua Petar I của Serbia]] <br>(1903 - 1918)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị quân chủ thứ 3 của Nhà Karađorđević, vị vua thứ 3 của Vương quốc Serbia}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Petar I của Serbia|Vua Petar I của Serbia, Croatia và Slovenia]] <br>(1918 - 1921)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị vua đầu tiên của Vương quốc Serbia, Croatia và Slovenia (Nam Tư)}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:5 Dinara - Petar I 100th Anniversary of the Karađorđević Dynasty 1904.png|center|700px]]<hr>{{center|'''5 Dinara [[Petar I của Serbia|Vua Petar I]]_[[Triều đại Karađorđević|Kỷ niệm 100 năm Triều đại Karađorđević]] - 1904<hr>121 năm (2025)'''}}||{{center|[[Tập tin:King Petar Karađorđević (cropped).jpg|100px]]<br>1904<hr>'''[[AU]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[37,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[25,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[22,5 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[200.000]]<hr>6.375.000<br>[[(245,19$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#fbd"|Petar I <hr> (1904 - 1918 & 1918 - 1921) | |||
|- | |||
|style="background:LemonChiffon;"| | |||
Petar I là vua của Vương quốc Serbia từ năm 1903 - 1918 (15 năm) và vua của [[Vương quốc Nam Tư|người Serb, Croat và Slovene]] (sau là Vương quốc Nam Tư) từ năm 1918 cho đến khi qua đời vào năm 1921 (3 năm); Ông được người dân yêu quý gọi là '''Petar người giải phóng''', ông cũng có biệt hiệu là '''Vị vua già''', vì '''''ông đã gần 60 tuổi khi tiếp nhận ngai vàng và qua đời ở tuổi 77'''''. | |||
Ông được Quốc hội Serbia bầu lên ngai vàng vào năm 1903, sau [[Đảo chính tháng 5 (Serbia)|Đảo chính tháng 5]], một nhóm sĩ quan đã vào cung điện giết chết [[Aleksandar I của Serbia|Aleksandar I]] và Vương hậu [[Draga Mašin]] thuộc [[Triều đại Obrenović]], cái chết của Aleksandar đã khiến triều đại này tuyệt tự dòng nam, giúp chấm dứt gần 9 thập kỷ xung đột giữa [[Triều đại Karađorđević]] và Obrenović. | |||
* Vào tháng 7 năm 1900, '''''Vua Alexander, 23 tuổi đã kết hôn với Draga Mašin, một cung nữ góa chồng hơn ông 12 tuổi và nổi tiếng là lăng nhăng'''''. Người ta cũng tin rằng Mašin vô sinh, làm dấy lên câu hỏi về khả năng tồn tại của dòng họ Obrenović. Cuộc hôn nhân đã gây ra sự phẫn nộ trong quân đoàn sĩ quan và dẫn đến một âm mưu phế truất Alexander khỏi ngai vàng. | |||
* Các sĩ quan đã đột kích cung điện hoàng gia vào đêm muộn ngày 10 tháng 6 năm 1903 và '''''bắn chết Nhà vua và Vương hậu, cắt xác họ bằng kiếm và ném xuống từ ban công tầng ba. Các vụ ám sát đã dẫn đến sự tuyệt tự của triều đại Obrenović'''''. | |||
Ông là con trai thứ 3 của [[Aleksandar Karađorđević, Thân vương xứ Serbia]], vị quân chủ chính thức đầu tiên của Triều đại Karađorđević và cháu nội của [[Karađorđe]] lãnh tụ của người Serbia trong cuộc nổi dậy lần thứ nhất chống lại Ottoman và cũng là người khai sinh ra triều đại Karađorđević. Aleksandar được bầu lên ngai vàng vào năm 1842, sau khi [[Miloš Obrenović, Thân vương xứ Serbia|Thân vương Miloš Obrenović của Nhà Obrenović]] bị lật đổ. | |||
Trong suốt thời gian tại vị, cha của ông phải đương đầu với các âm mưu phục hoàng của [[Triều đại Obrenović]]. Năm 1858, '''''cha của ông bị lật đổ vì từ chối tham gia [[Chiến tranh Krym]] chống lại [[Đế quốc Nga]]'''''. Ngai vàng Serbia một lần nữa lại quay trở lại với Nhà Obrenović, gia đình ông phải sống lưu vong. | |||
* '''''Mối thù giữa hai gia tộc Karađorđević và Obrenović bắt đầu từ năm 1817, khi [[Miloš Obrenović I, Thân vương xứ Serbia|Thân vương Miloš của Nhà Obrenović]] cho ám sát ông nội của Petar là [[Karađorđe]]''''' vì sợ ông này làm tổn hại đến ngai vàng của mình. | |||
Trong [[Chiến tranh Pháp-Phổ]] (1870 - 1871), Petar gia nhập [[Binh đoàn Lê dương Pháp]] dưới tên Petar Kara và giữ cấp bậc trung uý. '''''Ông được trao [[Huân chương Bắc đẩu Bội tinh]]. Ông đã tham gia vào [[Công xã Paris]] vào mùa xuân năm 1871'''''. | |||
Trong [[Đại khủng hoảng phương Đông]] (1875 - 1878), người Serb Bosnia nổi lên chống lại [[Đế quốc Ottoman]], Petar đã tham gia quân nổi dậy chống lại Ottoman với bí danh Petar Mrkonjić, ông chỉ huy một đội quân du kích 200 người. Vì sợ sức ảnh hưởng của, triều đại đang Obrenović đang cai trị Serbia đã lên âm mưu ám sát ông. Sau đó '''''ông đã bị chính quyền Serbia truy tố tội phản quốc và kết án tử hình vắn mặt bằng cách treo cổ'''''. | |||
Trong thời gian lưu vong, '''''Petar đã có mong muốn cầu hôn [[Feodora của Sachsen-Meiningen]], cháu gái của [[Wilhelm II, Hoàng đế Đức|Hoàng đế Wilhelm II]], người kém ông 36 tuổi''''', đây là một nỗ lực để giành được sự ủng hộ của Hoàng đế Đức để kế vị ngai vàng Serbia. Mẹ của bà là Vương nữ [[Charlotte của Phổ]] tuyên bố rằng "đối với một ngai vàng như vậy, Feodora là quá tốt". Nhưng không thành... | |||
Petar và Thân vương nữ [[Zorka xứ Montenegro|Ljubica xứ Montenegro]], con gái của [[Nicholas I xứ Montenegro]] đã kết hôn tại [[Cetinje]] vào mùa hè năm 1883. Họ có với nhau 5 người con, trong đó có 3 người sống đến tuổi trưởng thành. Vợ ông qua đời vào năm 1890 vì khó sinh. Cuộc hôn nhân đã làm mối quan hệ giữa hai quốc gia Serbia và Montenegro trở nên tồi tệ hơn. | |||
Sau [[Đảo chính tháng 5 (Serbia)|Đảo chính tháng 5]] năm 1903, ông được Quốc hội bầu lên ngai vàng Serbia. Ông đăng quang vào năm 1904 với chiếc vương miệng mới của Serbia. '''''Các mảnh của vương miện được làm bằng đồng lấy từ khẩu pháo mà [[Karađorđe]] sử dụng trong cuộc nổi dậy đầu tiên của người Serbia chống lại Ottoman'''''. Nó hiện là '''''vương miện Serbia duy nhất được lưu giữ ở Serbia'''''. Tương tự như ý nghĩa của '''''[[Vương miện Thép Romania]] được làm từ thép của một khẩu đại bác do Quân đội Romania chiếm được từ quân Ottoman''''' trong Chiến tranh giành độc lập. | |||
|} | |||
==🍓 VƯƠNG QUỐC NAM TƯ== | |||
===🛑 Aleksandar I=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Vương quốc Nam Tư|VƯƠNG QUỐC NAM TƯ]]<br> (1918 - 1945) <hr> [[Triều đại Karađorđević]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Yugoslavia (1918–1941).svg|center|128px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of the Kingdom of Yugoslavia.svg|center|73px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Aleksandar I của Nam Tư|Vua Aleksandar I]] <br>(1921 - 1934)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị quân chủ thứ 4 của Nhà Karađorđević và vị vua thứ 2 của Nam Tư}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:20 Dinara - Aleksandar I of Yugoslavia 1931.png|center|700px]]<hr>{{center|'''20 Dinara [[Aleksandar I của Nam Tư|Aleksandar I]] - 1931<hr>94 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Kralj aleksandar1.jpg|100px]]<br>1931<hr>'''[[XF]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[31,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[50,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[14,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[7,0 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[12.500.000]]<hr>420.000<br>[[(18,1$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
===🛑 Petar II === | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Vương quốc Nam Tư|VƯƠNG QUỐC NAM TƯ]]<br> (1918 - 1945) <hr> [[Triều đại Karađorđević]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Yugoslavia (1918–1941).svg|center|128px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of the Kingdom of Yugoslavia.svg|center|73px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Petar II của Nam Tư|Vua Petar II]] <br>(1934 - 1945)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị quân chủ thứ 5 của Nhà Karađorđević; Vị vua thứ 3 và cuối cùng của Nam Tư}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:50 Dinara - Petar II of Yugoslavia 1938.png|center|700px]]<hr>{{center|'''50 Dinara [[Petar II của Nam Tư|Petar II]] - 1938<hr>87 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:PedroIIDeYugoslavia8e00867v.jpg|100px]]<br>1938<hr>'''[[MS|UNC]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[31,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[75,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[15,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[11,25 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[10.000.000]]<hr>825.000<br>[[(31,73$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
|} | |||
==📕 VƯƠNG QUỐC BỈ== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#ccf"|[[File:Coat of arms of the Royal House of Belgium.svg|70px]] | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|VƯƠNG TỘC SACHSEN-COBURG & GOTHA BỈ | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
[[Bỉ|Vương tộc Sachsen-Coburg và Gotha của Bỉ]] là một nhánh của [[Vương tộc Sachsen-Coburg và Gotha]] của Đức và bản thân nó là một chi nhánh của [[Các công quốc Ernestine|Dòng Ernestine]] thuộc [[Vương tộc Wettin]]. Ông tổ của Sachsen-Coburg Gotha Bỉ chính là [[Léopold I của Bỉ|Công tử Leopold]], con trai út của Công tước [[Franz I xứ Sachsen-Coburg-Saalfeld]] và [[Auguste Reuß xứ Ebersdorf]]. Leopold được Quốc hội Bỉ bầu lên ngai vàng [[Bỉ|Vương quốc Bỉ]] vào ngày 26 tháng 6 năm 1831, khi quốc gia này vừa giành độc lập và chính thức thoát khỏi sự cai trị của [[Vương tộc Oranje-Nassau]] của [[Hà Lan]]. Ông tuyên thệ trước hiến pháp tại Cung điện Coudenberg ở thủ đô [[Bruxelles]] 25 ngày sau đó và ngày ông tuyên thệ (21/7/1831) cũng trở thành ngày Quốc khánh của Vương quốc Bỉ.<hr> | |||
Ngày 2 tháng 5 năm 1816, tại ''dinh thự Carlton'' ở [[Luân Đôn]], [[Anh]], ông đã tổ chức lễ thành hôn với [[Charlotte Augusta xứ Wales|Vương tôn nữ Charlotte Augusta xứ Wales]] - con gái hợp pháp duy nhất của Hoàng tử nhiếp chính Anh (sau này là Vua [[George IV của Anh]]). Do đó, vợ ông được xếp thứ 2 trong danh sách kế vị ngai vàng hoàng gia Anh, ông được ban tước hiệu [[Nguyên soái|Thống chế]] và Hiệp sĩ Garter. Ngày 5 tháng 11 năm 1817, Công chúa Charlotte qua đời vì sinh non. Nếu bà còn sống, bà sẽ trở thành Nữ hoàng Anh sau cái chết của cha mình là [[George IV của Anh|Vua George IV]]; và Léopold sẽ trở thành Hoàng thân Anh chứ không phải là [[Vua Bỉ]]. Mặc dù Charlotte đã qua đời, nhưng Nhiếp chính vương tử vẫn phong tặng cho Léopold kính xưng ''Royal Highness'' vào ngày 6 tháng 4 năm 1818.<hr> | |||
Leopod kết hôn lần thứ hai vào ngày 9 tháng 8 năm 1830 với [[Louise Marie của Orléans]], con gái của [[Louis-Philippe I của Pháp]] và các con của ông bao gồm [[Léopold II của Bỉ]] và [[Charlotte của Bỉ|Hoàng hậu Charlotte của Mexico]].<hr> | |||
Hậu duệ của Leopold vẫn trị vì Vương quốc Bỉ cho đến tận ngày nay, đã trải qua 194 năm với 7 đời quân chủ: [[Léopold I của Bỉ|Léopold I]] (1831-1865); [[Léopold II của Bỉ|Léopold II]] (1865-1909); [[Albert I của Bỉ|Albert I]] (1909-1934); [[Léopold III của Bỉ|Léopold III]] (1934-1951); [[Baudouin của Bỉ|Baudouin ]] (1951-1993); [[Albert II của Bỉ|Albert II]] (1993-2013) và [[Philippe của Bỉ|Philippe]] (2013-Nay).<hr> | |||
Người đang đứng thứ nhất trong dòng kế vị ngai vàng của Bỉ là [[Élisabeth của Bỉ]] với tước hiệu [[Công tước xứ Brabant|Nữ công tước xứ Brabant]]. Người đứng thứ 2 trên dòng kế vị chính là em trai của cô, [[Gabriel của Bỉ|Vương tử Gabriel]], thứ 3 là [[Emmanuel của Bỉ|Vương tử Emmanuel]] và thứ 4 là [[Eléonore của Bỉ|Vương nữ Eléonore]]. <hr> | |||
===🛑 Leopold I=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Vương quốc Bỉ|VƯƠNG QUỐC BỈ]]<br> (1831 - Nay) <hr> [[Nhà Sachsen-Coburg và Gotha]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Belgium.svg|center|108px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Great coat of arms of Belgium.svg|center|75px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Leopold I của Bỉ|Vua Leopold I]] <br>(1831 - 1865)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị vua đầu tiên của Vương quốc Bỉ}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:5 francs - Léopold Ier tête laurée 1833.png|center|700px]]<hr>{{center|'''5 franc [[Leopold I của Bỉ|Leopold I]] - 1833<hr>192 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Leopold I, King of the Belgians 1818-50.jpg|120px]]<br>1832 - 1849<hr>'''[[XF]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[37,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[25,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[22,5 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[1.125.666]]<hr>2.000.000<br>[[(85,11$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
Năm 1826, trước khi trở thành vua của Bỉ, Leopold đã đến thăm [[Carl Mayer von Rothschild]], người đứng đầu chi nhánh của [[Gia tộc Rothschild]] tại Napoli. | |||
===🛑 Leopold II=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Vương quốc Bỉ|VƯƠNG QUỐC BỈ]]<br> (1831 - Nay) <hr> [[Nhà Sachsen-Coburg và Gotha]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Belgium.svg|center|108px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Great coat of arms of Belgium.svg|center|75px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Leopold II của Bỉ|Vua Leopold II]] <br>(1865 - 1909)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị vua thứ 2 của Vương quốc Bỉ}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:5 fr Leopold II of Belgium 1870.png|center|700px]]<hr>{{center|'''5 franc [[Leopold II của Bỉ|Leopold II]] - 1870<hr>155 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Leopold ii garter knight.jpg|120px]]<br>1865 - 1878<hr>'''[[AU]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[37,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[25,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[22,5 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[10.468.075]]<hr>950.000<br>[[(40,77$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:5 franc Leopold II of Belgium - 1871.png|center|700px]]<hr>{{center|'''5 franc [[Leopold II của Bỉ|Leopold II]] - 1871'''}}||{{center|[[File:Leopold ii garter knight.jpg|100px]]<br>1865 - 1878<hr>'''[[MS]]'''}} ||{{center|'''Đường kính'''<br>[[37,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[25,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[22,5 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[4.783.434]]<hr>800.000<br>[[(34,34$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
* Một người đàn ông tên là Vincent Buyssens sống ở [[Antwerp]], [[Bỉ|Vương quốc Bỉ]] đã chia sẻ một câu chuyện kỳ lạ về ông nội của mình trong [[Thế chiến thứ nhất]] trên trang Reddit liên quan đến những đồng xu bạc được đúc dưới thời trị vì của vua Leopold II. Anh ấy kể rằng, vào những ngày đầu của cuộc chiến, ông nội của anh ta đi cùng với một đồng đội trong một cuộc tuần tra, vì trong túi áo có mang theo 6 đồng xu bạc mệnh gia 5fr nên đã tạo ra tiếng động, khiến thu hút lính Đức. Một phát đạn đã được bắn ra găm vào ngực của ông nội Vincent, nhưng nhờ vào 6 đồng xu bạc nên đã cứu sống ông ấy.<hr> | |||
* Thông qua con gái là [[Stéphanie của Bỉ]], ông là bố vợ của [[Rudolf, Thái tử của Áo]] và ông ngoại của Nữ đại công tước [[Elisabeth Marie của Áo]]. Chính Rudolf đã lây truyền bệnh lậu cho Stephanie, khiến bà không thể sinh thêm con vào năm 1886 và Thái tử cũng đã tự sát cùng nhân tình vào năm 1889. | |||
<hr> | |||
===🛑 Leopold III=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Vương quốc Bỉ|VƯƠNG QUỐC BỈ]]<br> (1831 - Nay) <hr> [[Nhà Sachsen-Coburg và Gotha]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Belgium.svg|center|108px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Great coat of arms of Belgium.svg|center|75px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Leopold III của Bỉ|Vua Leopold III]]<br> (1934 - 1951)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị vua thứ 4 của Vương quốc Bỉ}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:100 Francs Kings of Belgium 1951.png|center|700px]]<hr>{{center|'''100 Franc_[[Leopold III của Bỉ|Các vua Leopold I, Leopold II, Albert I và Leopold III]] - 1951<hr>71 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Leopold III (1934).jpg|120px]]<br>'''1948 - 1951<hr>[[AU]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[33,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[83,5%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[18,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[15,03 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[4.691.000]]<hr>350.000<br>[[14,89$]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
===🛑 Baudouin I=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Vương quốc Bỉ|VƯƠNG QUỐC BỈ]]<br> (1831 - Nay) <hr> [[Nhà Sachsen-Coburg và Gotha]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Belgium.svg|center|108px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Great coat of arms of Belgium.svg|center|75px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Baudouin I của Bỉ|Vua Baudouin I]]<br> (1951 - 1993)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị vua thứ 5 của Vương quốc Bỉ}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:250 fr Baudouin I of Belgium - 1976.png|center|700px]]<hr>{{center|'''250 Franc_[[Baudouin I của Bỉ|Kỷ niệm 25 năm trị vì của Vua Baudouin I]] - 1976<hr>49 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:King Baudouin of Belgium.jpg|120px]]<br>'''1976<hr>[[MS|UNC]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[37,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[83,5%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[25,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[20,875 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[1.000.000]]<hr>700.000<br>[[29,79$]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
|} | |||
==📕 LUXEMBOURG== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#ccf"|[[Tập tin:Arms of the Count of Luxembourg.svg|80px]] | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|ĐẠI CÔNG QUỐC LUXEMBOURG VÀ TRIỀU ĐẠI NASSAU | |||
|- | |||
|style="background:LemonChiffon;"| | |||
Tiền thân của [[Luxembourg|Đại công quốc Luxembourg]] (1815-nay) là [[Công quốc Luxembourg]] (1353-1815), một nhà nước thuộc [[Đế chế La Mã Thần thánh]], quê hương của tổ tiên [[Nhà Luxembourg]], là một trong những thế lực chính trị quan trọng vào thế kỷ XIV, cạnh tranh với [[Nhà Habsburg]] để giành quyền tối cao ở Trung Âu, họ đã thừa kế [[Vương tộc Přemysl|Triều đại Přemysl]] trong việc sở hữu Bohemia và Moravia. Có tất cả 3 vị hoàng đế La Mã Thần thánh xuất thân từ Nhà Luxembourg, cho đến khi dòng dõi những người thừa kế nam của họ tuyệt tự và Nhà Habsburg nhận được các lãnh thổ mà hai Nhà đã thỏa thuận ban đầu trong Hiệp ước Brünn năm 1364. Tiền thân của Công quốc Luxembourg là [[Bá quốc Luxembourg]] (1059-1353). Ba hoàng đế của Nhà Luxembourg: | |||
* [[Heinrich VII của Thánh chế La Mã]] (1312-1313) | |||
* [[Karl IV của Thánh chế La Mã]] (1355-1378) | |||
* [[Sigismund của Thánh chế La Mã]] (1433-1437)<hr> | |||
Năm 1354, Hoàng đế [[Karl IV của Thánh chế La Mã]] (thành viên của Nhà Luxembourg) đã nâng Bá quốc Luxembourg lên thành Công quốc và người em cùng cha khác mẹ của ông là [[Wenceslaus I xứ Luxembourg|Wenceslaus I]] trở thành vị công tước đầu tiên. Wenceslaus đã sáp nhập thêm [[Bá quốc Chiny]] vào Luxembourg và '''''khiến nó sở hữu một lãnh thổ lên đến 10.700 km2 - rộng nhất trong lịch sử Luxembourg'''''.<hr> | |||
Năm 1443, Nhà Luxembourg tuyệt tự, vì [[Sigismund của Thánh chế La Mã]] và [[Elizabeth xứ Görlitz]] không có người thừa tự, nên tài sản của Nhà Luxembourg được chia lại cho các quý tộc châu Âu, trong đó Công quốc Luxembourg thuộc về [[Philippe Tốt bụng]], [[Công quốc Bourgogne|Công tước xứ Bourgogne]]. Luxembourg giờ đây trở thành một phần của [[Hà Lan Bourgogne]], nên đây sẽ là sự khởi đầu cho gần 400 năm cai trị của nước ngoài đối với Luxembourg.<hr> | |||
Năm 1482, [[Philipp Đẹp trai]] thừa kế toàn bộ những gì sau này được gọi là [[Hà Lan Habsburg]], và cùng với đó là Công quốc Luxembourg. Trong gần 320 năm, Luxembourg vẫn là tài sản của Nhà Habsburg hùng mạnh, đầu tiên là dưới sự cai trị của Habsburg-Áo (1506–1556), sau đó là dưới sự cai trị của Habsburg-Tây Ban Nha (1556–1714), trước khi quay trở lại sự cai trị của Áo (1714–1794). Dưới thời vua '''''[[Louis XIV của Pháp]]''''', [[Hiệp ước Pyrenees]] được ký kết giữa Pháp và Tây Ban Nha, trong đó [[Phân chia Luxembourg|phân chia đầu tiên của Luxembourg]] đã được thực hiện. Theo Hiệp ước, Tây Ban Nha đã nhượng lại các pháo đài [[Stenay]], [[Thionville]] và [[Montmédy]] của Luxembourg và lãnh thổ xung quanh cho Pháp, '''''với tổng diện tích bị mất là 1.060 km2, tương đương với 1/10 diện tích Công quốc Luxembourg vào thời điểm đó'''''.<hr> | |||
Trong Chiến tranh Liên minh thứ nhất, nước Pháp Cách mạng đã xâm lược Hà Lan thuộc Áo và Luxembourg. Trong những năm 1793 và 1794, hầu hết Công quốc đã bị chinh phục tương đối nhanh chóng. Tuy nhiên, [[Pháo đài Luxembourg]] đã chống cự trong gần 7 tháng trước khi lực lượng Áo chiếm giữ nơi này. Việc phòng thủ quật cường của Pháo đài Luxembourg đã khiến [[Lazare Carnot]] gọi nó là '''''"pháo đài tốt nhất thế giới, ngoại trừ [[Gibraltar]]", từ đó thành phố này có biệt danh là Gibraltar của phương Bắc'''''. Luxembourg đã bị Pháp sáp nhập, trở thành một phần của tỉnh [[Forêts]], và việc sáp nhập được chính thức hóa tại [[Hiệp ước Campo Formio]] năm 1797. Nhiều ý tưởng của người Pháp vẫn tiếp tục có tác động lâu dài đến Luxembourg; một trong nhiều ví dụ có sự tham gia của [[Bộ luật Dân sự Pháp|Bộ luật Dân sự Napoléon]] được ban hành năm 1804 và vẫn còn hiệu lực cho đến ngày nay.<hr> | |||
Sau thất bại của Napoleon năm 1815, Công quốc Luxembourg đã được khôi phục. Tuy nhiên, lãnh thổ này lại bị tranh chấp giữa Vương tộc Oranje-Nassau và [[Vương quốc Phổ|Hollenzolern của Phổ]]. Tại [[Đại hội Viên]], các cường quốc đã quyết định rằng Luxembourg sẽ trở thành một nhà nước thành viên của [[Bang liên Đức]] mới thành lập, nhưng đồng thời Vua [[Willem I của Hà Lan]] sẽ trở thành nguyên thủ của Luxembourg, trị vì dưới hình thức [[Liên minh cá nhân]]. '''''Để làm hài lòng Phổ, đại hội đã quyết định cho quân Phổ đồn trú tại Pháo đài Luxembourg và cắt cho Phổ 2.280 km2, chiếm 24% lãnh thổ Luxembourg thời điểm đó'''''. Cùng với Bitburg, Phổ đã giành được các thị trấn [[Neuerburg]], [[St. Vith]], [[Schleiden]] và [[Waxweiler]]. Tổng cộng, các vùng đất này có dân số là 50.000 người. Ngày nay, các vùng đất này thuộc về cả Đức và Bỉ; quận [[Eupen-Malmedy]] đã được Đức nhượng lại cho Bỉ vào năm 1919 theo [[Hiệp ước Versailles]]. Để bù đắp cho Công quốc về tổn thất này, '''''người ta đã quyết định nâng Công quốc lên thành Đại công quốc''''', do đó trao cho các quốc vương Hà Lan danh hiệu bổ sung là Đại công tước Luxembourg.<hr> | |||
Sau khi [[Bỉ]] trở thành một quốc gia độc lập sau cuộc [[Cách mạng Bỉ]] thắng lợi năm 1830–1831, họ tuyên bố toàn bộ Đại công quốc Luxembourg là một phần của Bỉ, tuy nhiên, Vua Hà Lan, người cũng là Đại công tước Luxembourg, cùng với Vua Phổ, không muốn mất quyền kiểm soát pháo đài hùng mạnh Luxembourg vì thế không đồng ý với các yêu sách này. Tranh chấp được giải quyết bởi [[Hiệp ước London (1839)]], theo đó, Luxembourg được chia cắt lần thứ 3 và cũng là lần chia cắc cuối cùng. Luxembourg đã mất toàn bộ các vùng lãnh thổ phía tây (lãnh thổ nói tiếng Pháp), bao gồm các thị trấn [[Arlon]], [[Aubange]], [[Bastogne]], [[Durbuy]], [[Marche-en-Famenne]], [[Neufchâteau, Bỉ|Neufchâteau]] và [[Virton]]. Các vùng này (cùng với [[Công quốc Bouillon]]) sau đó đã thành lập nên [[Luxembourg (tỉnh)|tỉnh Luxembourg]] của Bỉ, hiện là tỉnh [[Wallonie]], tỉnh lớn nhất ở Bỉ. '''''Lãnh thổ được nhượng lại cho Bỉ là 4.730 km2 (1.830 dặm vuông), hay 65% lãnh thổ của Đại công quốc vào thời điểm đó'''''. Dân số của lãnh thổ này là 175.000 người: một nửa tổng dân số Luxembourg. Biên giới của Luxembourg hiện đại được định hình từ lần phân chia này.<hr> | |||
Trong [[Chiến tranh Pháp-Phổ]] (1870) cả hai bên đều tôn trọng quyền trung lập của Luxembourg, nên đã không xâm lược nước này.<hr> | |||
Tháng 11/1890, sau cái chết của Vua '''''[[Willem III của Hà Lan]]''''', không để lại người thừa tự nam, ngai vàng Hà Lan được trao cho người con gái còn sống lớn tuổi nhất của ông là '''''[[Wilhelmina của Hà Lan|Vương nữ Wilhelmina]]''''' lúc đó mới 10 tuổi, trong khi đó Đại công quốc Luxembourg thì áp dụng luật Salic, ngai vàng không được trao cho nữ giới, nên [[Công quốc Nassau|Cựu công tước xứ Nassau]] người họ hàng xa của Vua Willem III đến từ [[Vương tộc Nassau-Weilburg]] là [[Adolphe của Luxembourg|Adolphe]] đã được thừa kế Luxembourg - Trước đó, Adolphe là Công tước xứ Nassau, nhưng sau [[Chiến tranh Áo-Phổ]], công quốc của ông đã bị sáp nhập vào Phổ.<hr> | |||
Tính đến nay, Luxembourg đã trải qua 9 đời Đại công tước với 3 triều đại khác nhau, gồm có: | |||
*[[Vương tộc Oranje-Nassau|Triều đại Oranje-Nassau]] (1815-1890) với các quân chủ [[Willem I của Hà Lan|Willem I]] (1815-1840); [[Willem II của Hà Lan|Willem II]] (1840-1849) và '''''[[Willem III của Hà Lan|Willem III]]''''' (1840-1890). (tuyệt tự dòng nam) | |||
*[[Vương tộc Nassau-Weilburg]] (1890-1964) với các quân chủ: [[Adolphe của Luxembourg|Adolphe]] (1890-1905); [[Wëllem IV của Luxembourg|Wëllem IV]] (1905-1912); [[Marie-Adélaïde của Luxembourg|Marie-Adélaïde]] (1912-1919) và [[Charlotte của Luxembourg|Charlotte]] (1919-1964). | |||
*[[Vương tộc Borbone-Parma|Triều đại Bourbon-Parma]] với các quân chủ: '''''[[Jean của Luxembourg|Jean]]''''' (1964-2000) và '''''[[Henri của Luxembourg|Henri]]''''' (2000-nay). | |||
<hr> | |||
===Jean=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Luxembourg|ĐẠI CÔNG QUỐC LUXEMBOURG]] <Br>(1815 - Nay) <hr>[[Nhà Nassau-Weilburg|Triều đại Nassau-Weilburg]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Luxembourg.svg|center|145px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Greater coat of arms of the grand-duchy of Luxembourg.svg|center|80px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Jean của Luxembourg|Đại công tước Jean]]<br> (1964 - 2000)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị Đại công tước thứ 8 của Luxembourg, và là Đại công tước đầu tiên đến từ Nhà Bourbon-Parma}} | |||
|- | |||
| [[File:25 Ecu of Luxembourg - Henri Prince 1998.png|center|700px]]<hr>{{center|'''25 Ecu [[Henri của Luxembourg|Đại thế tử Henri]] - 1998<hr>27 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:GD Jean 1967.jpg|120px]]<br>1998<hr>'''[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[37,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[92,5%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[22,85 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[21,13625 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[15.000]]<hr>990.000<br>[[(38,83$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:LightCoral;"|NHỮNG THÔNG TIN ĐẶC BIỆT LIÊN QUAN | |||
|- | |||
|style="background:LemonChiffon;"| | |||
Jean là con trai cả của [[Charlotte của Luxembourg|Nữ đại công tước Charlotte]] đến từ [[Vương tộc Nassau-Weilburg]] và [[Felice xứ Bourbon-Parme|Thân vương Felice]] của [[Vương tộc Borbone-Parma]]. Vì thế nếu theo đúng thông lệ con cái theo họ cha thì Jean là vị Đại công tước đầu tiên đến từ Nhà Borbone-Parma.<hr> | |||
Ông tại vị từ năm 1964 đến khi thoái vị vào năm 2000, ngai vàng được nhường lại cho con trai trưởng là '''''[[Henri của Luxembourg|Đại công tử Henri]]''''' người đang trị vì Luxemburg. Năm 1938, Jean được phong làm Đại công tử thừa kế Luxembourg, lúc đó đất nước của ông đã bị [[Đức quốc xã]] chiếm đóng và gia đình hoàng gia đang lưu vong tại Canada. Ông tham gia cuộc [[Chiến dịch Neptune|đổ bộ Normandy]] và [[Trận Caen (1944)|Trận Caen]], đồng thời gia nhập lực lượng Đồng minh để giải phóng Luxembourg. Năm 1953, ông kết hôn với Vương nữ [[Joséphine Charlotte của Bỉ]], con trưởng của '''''[[Léopold III của Bỉ|Vua Léopold III]]''''' và [[Astrid của Thụy Điển]], cháu ngoại của vua '''''[[Oscar II của Thụy Điển]]'''''. | |||
|} | |||
|} | |||
==📕 LIECHTENSTEIN== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#ccf"|[[Tập tin:Staatswappen-Liechtensteins.svg|80px]] | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|[[Vương tộc Liechtenstein|TRIỀU ĐẠI LIECHTENSTEIN]] | |||
|- | |||
|style="background:LemonChiffon;"| | |||
Tên của gia tộc được đặt theo [[Lâu đài Liechtenstein]] gần kinh đô [[Viên]], ở [[Hạ Áo]]. Lâu đài này được tổ tiên của họ là '''''Hugo von Liechtenstein''''' xây dựng vào khoảng năm 1122-1136 trên một thái ấp mà ông nhận được từ các Phiên hầu xứ [[Babenberg]] của Áo. Ông cũng nhận được [[Petronell-Carnuntum|Petronell]] trên sông [[Danube]] và [[Schloss Rohrau |Lâu đài Rohrau]], gần biên giới khi đó với [[Vương quốc Hungary]], lúc đầu là một thái ấp, từ năm 1142 là một tài sản dưới hình thức ''[[allod]]'' (có toàn quyền sở hữu và quyền chuyển nhượng). '''''Heinrich I, lãnh chúa xứ Liechtenstein và Petronell''''', được [[Ottokar II của Bohemia]], người mà ông ủng hộ về mặt chính trị, trao quyền lãnh chúa xứ [[Lâu đài Mikulov|Nikolsburg]] ở phía Nam Moravia như một tài sản allod vào năm 1249. Nơi đây vẫn là một trong những thái ấp trọng nhất của Nhà Liechtenstein cho đến khi bị bán vào năm 1560. Năm 1394, Johann I xứ Liechtenstein, lãnh chúa xứ Nikolsburg (mất năm 1397), đã mua lại điền trang Feldsberg (khi đó là Hạ Áo, ngày nay là [[Valtice]], [[Cộng hòa Séc]]). Qua nhiều thế kỷ, triều đại này đã giành được những vùng đất rộng lớn, chủ yếu ở [[Moravia]], [[Hạ Áo]], [[Silesia]] và [[Styria]], mặc dù trong mọi trường hợp, những vùng lãnh thổ này là một phần của các quốc gia do các triều đại khác cai trị, đặc biệt là Nhà Habsburg, nơi có một số Thân vương xứ Liechtenstein làm cố vấn thân cận.<hr> | |||
Vào đầu thế kỷ XVI và XVII, ba anh em [[Karl I, Thân vương xứ Liechtenstein|Lãnh chúa Karl]], [[Maximilian xứ Liechtenstein|Maximilian]] và [[Gundaker, Thân vương xứ Liechtenstein|Gundakar]] đã khởi đầu một giai đoạn mới trong lịch sử gia tộc Liechtenstein. Họ cải đạo từ [[Tin Lành]] sang [[Công giáo]] và ủng hộ Hoàng đế thuộc Nhà Habsburg trong việc đàn áp [[cuộc nổi loạn Bohemia]]. Maximilian, với tư cách là Thống chế, đã giành chiến thắng trong [[Trận White Mountain]] cho Hoàng đế [[Ferdinand II của Thánh chế La Mã]]. Karl đã khôi phục trật tự với tư cách là Phó vương xứ Bohemia và giám sát việc bắt giữ và hành quyết 27 nhà lãnh đạo của cuộc nổi loạn. Vì điều này, cả ba người đều được phong làm Thân vương. Ngoài ra, họ có thể dễ dàng mua được những vùng đất rộng lớn từ các nhà quý tộc Tin Lành bị trục xuất và tước đoạt ở [[Bohemia]] và [[Moravia]], đặc biệt là vì chính Karl, với tư cách là đại diện của Hoàng đế, đã tiến hành các cuộc tịch thu này. Ông cũng nhận được [[Công quốc Troppau]] (Jägerndorf) ở [[Các công quốc Silesia]] từ Hoàng đế. Thân vương của Liechstensten vẫn giữ hai danh hiệu công tước này cho đến ngày nay. Hầu hết các điền trang này vẫn thuộc quyền sở hữu của Nhà Liechtenstein cho đến khi [[Tiệp Khắc]] tịch thu chúng vào năm 1945. '''''Năm 1608, [[Karl I, Thân vương xứ Liechtenstein|Karl I xứ Liechtenstein]] là người đầu tiên của gia tộc được phong [[Thân vương Thánh chế La Mã]], nhưng phải 111 năm sau, năm 1719 thì người Nhà Liechtenstein mới trở thành một triều đài'''''<hr> | |||
Năm 1622, Maximilian thành lập một tu viện ở [[Vranov, Brno-venkov|Vranov]], nơi chôn cất hầu hết các Thân vương của Nhà Liechtenstein trong hầm mộ gia đình, cho đến khi một hầm mộ mới được xây dựng ở [[Vaduz]] vào năm 1960.<hr> | |||
Tuy sở hữu rất nhiều lãnh thổ và điền trang trong [[Đế chế La Mã Thần thánh]], nhưng không có lãnh thổ nào nhận được quyền đế chế trực tiếp ''[[immediate]]'', nên người Nhà Liechtenstein tuy nhận tước hiệu thân vương, nhưng không sở hữu một nhà nước trự trị nào trong Đế chế, vì thế không thể đáp ứng yêu cầu chính để đủ điều kiện có một ghế trong [[Đại hội Đế quốc (Thánh chế La Mã)|Đại hội Đế chế La Mã Thần thánh]] (Reichstag). Để có quyền này, Gia tộc Liechtenstein phải sở hữu một lãnh địa không nằm dưới quyền phong kiến của bất cứ nhân vật nào khác ngoài chính [[Hoàng đế La Mã Thần thánh]]. '''''Đây là chế độ quân chủ duy nhất của Đế chế La Mã Thần thánh vẫn còn tồn tại cho đến tận ngày nay. Luxembourg cũng là chế độ quân chủ có từ thời Thánh chế La Mã, nhưng đã được bổi chủ nhiều lần chứ ko được cai trị đồng nhất bởi một vương tộc''''' | |||
* Năm 1699, Thân vương [[Hans-Adam I xứ Liechtenstein]] đã mua lại [[Lãnh địa Schellenberg]] với giá 115.000 [[Guilder]] và ông đã được cấp địa vị Thân vương vào năm 1706, nhưng cần phải có một lãnh thổ được quyền đế chế trực tiếp ''[[immediate]]'' mới có thể bỏ phiếu trong Đại hội Đế chế. | |||
* Năm 1712, Nhà Liechtenstein đã mua thêm [[Bá quốc Vaduz]] gần đó với giá 290.000 guilder. Hoàng đế [[Karl VI của Thánh chế La Mã]] đã cho thống nhất Schellenberg và Vaduz lại vào ngày 23 tháng 01 năm 1719 và nâng nó lên thành một Thân vương quốc có tên là "[[Liechtenstein]]", để vinh danh "người hầu trung thành của [ông], [[Anton Florian xứ Liechtenstein]]". Vào ngày này, Liechtenstein đã trở thành một quốc gia thành viên của [[Đế chế La Mã Thần thánh]]. | |||
* Các Thân vương xứ Liechtenstein đã không đặt chân đến công quốc mới của họ trong nhiều thập kỷ sau đó. Vì vùng đất nhỏ xa xôi này chỉ bao gồm các ngôi làng nông nghiệp nhỏ, nên chính quyền được thành lập tại thị trấn gần nhất, [[Feldkirch, Vorarlberg|Feldkirch]] ở Áo, nơi Thân vương đã xây dựng một tòa nhà văn phòng cho mục đích này. [[Lâu đài Vaduz]], trung tâm của Bá quốc thời trung cổ cùng tên, vẫn chưa được sử dụng và được cho thuê làm nơi dừng chân cho những người đi bộ đường dài cho đến cuối thế kỷ XIX. '''''Phải đến thời Thân vương [[Franz Josef II xứ Liechtenstein]] (1938-1989) thì ông mới ở toàn thời gian tại thân vương quốc của mình, sau khi Đức Quốc xã chiếm đống Tiệp Khắc và Áo, khiến cho tài sản của Nhà Liechtenstein bị mất'''''.<hr> | |||
Với sự kết thúc tồn tại của Đế chế La Mã Thần thánh vào năm 1806, Thân vương quốc Liechtenstein đã trở thành quốc gia có chủ quyền và được [[Đại hội Viên]] công nhận về địa vị này vào năm 1814/1815. [[Johann I Josef xứ Liechtenstein|Thân vương Johann I]] trở thành người cai trị có chủ quyền đầu tiên. Ông đã mua một số lâu đài và điền trang ở [[Đế quốc Áo]] cho nhiều người con trai của mình, phần lớn vẫn là nơi ở của con cháu họ cho đến ngày nay (những dòng nhánh). Các thân vương trị vì tiếp tục sống trong các dinh thự tráng lệ của họ tại kinh thành [[Viên]] của Áo, [[Stadtpalais Liechtenstein|Cung điện Thành phố Liechtenstein]] và [[Bảo tàng Liechtenstein|Cung điện Vườn Liechtenstein]], và trên các điền trang ở Moravian và Bohemian của họ, với [[Cảnh quan văn hóa Lednice–Valtice|Lednice và Valtice]] (được công nhận [[Di sản UNESCO]]) là nơi cư trú chính của họ.<hr> | |||
[[Đức Quốc xã]] chiếm đóng [[Tiệp Khắc]] (1938–1945) vào đầu [[Thế chiến II]] thì dinh thự mới được chuyển từ Valtice đến [[Vaduz]]. Thân vương đã phản đối việc sáp nhập lãnh thổ Séc, bao gồm Valtice và Lednice, vào [[Sudetenland]], và hậu quả là tài sản của ông đã bị Đức Quốc xã tịch thu, và sau đó gia đình ông đã chuyển đến Vaduz vào năm 1939. Áo cũng đã bị Đức sáp nhập thông qua [[Anschluss]] vào năm 1938. Sau Thế chiến thứ hai, không chỉ tài sản của gia đình ở Tiệp Khắc bị tịch thu mà ở Áo do Đồng minh chiếm đóng, hầu hết tài sản của họ cũng nằm trong vùng chiếm đóng của [[Liên Xô]] và do đó không thể tiếp cận được cho đến khi kết thúc cuộc chiếm đóng vào năm 1955. '''''Do việc tịch thu ở Tiệp Khắc do các [[sắc lệnh Beneš]] năm 1945, gia đình đã mất một phần lớn đất đai của mình, với khoảng 1.200 kilômét vuông (463 dặm vuông), gấp 7,5 lần tổng diện tích của chính Thân vương quốc Liechstenstein'''''.<hr> | |||
'''''Đây là chế độ quân chủ duy nhất còn lại ở châu Âu thực hành chế độ thừa kế cha truyền con nối (Agnatic primogeniture) nghiêm ngặt (loại trừ quyền thừa kế của nữ và hậu duệ của nữ đối với ngai vàng, chỉ chấp nhận nam thừa kế và ưu tiên con trai trưởng - tương tự như [[Luật Salic]])'''''. Hiện nay Thân vương Liechtenstein có nhiều quyền hạn, bao gồm bổ nhiệm thẩm phán, sa thải bộ trưởng hoặc chính phủ, quyền phủ quyết và triệu tập trưng cầu dân ý. Cuộc trưng cầu dân ý năm 2003 là đề xuất do Thân vương Hans-Adam II đưa ra nhằm sửa đổi một số phần của Hiến pháp, một mặt mở rộng quyền lực của quốc vương với thẩm quyền phủ quyết luật pháp, mặt khác đảm bảo cho toàn dân quyền lựa chọn bãi bỏ chế độ quân chủ bằng cách bỏ phiếu bất kỳ lúc nào mà không phải chịu sự phủ quyết của hoàng tử. Quyền ly khai của các giáo xứ tạo nên Thân vương quốc đồng thời được công nhận. Một đề xuất thu hồi quyền phủ quyết mới của Thân vương đã bị 76% cử tri bác bỏ trong cuộc trưng cầu dân ý năm 2012.<hr> | |||
Thân vương xứ Liechtenstein sẽ nhận được mức '''''lương trước thuế là 250.000 franc Thụy Sĩ (234.000 euro hoặc 252.000 đô la Mỹ)'''''. Một thân vương trị vì Liechtenstein sẽ được được các tước hiệu: Thân vương xứ Liechtenstein, [[Công quốc Troppau|Công tước xứ Troppau]], [[Công quốc Krnov|Công tước xứ Jägerndorf]], [[Bá quốc Rietberg|Bá tước xứ Rietberg]] và nhận được phong cách ''[[Serene Highness]]''.<hr> | |||
Vương tộc Liechtenstein tính đến nay đã trải qua 16 đời thân vương, nhưng nếu tính từ khi Thân vương quốc Liechtenstein được thành lập thì chỉ mới 12 đời, tính từ Thân vương [[Anton Florian xứ Liechtenstein|Anton Florian]] (1718-1721) đến vị thân vương hiện tại là [[Hans-Adam II xứ Liechtenstein|Hans-Adam II]] (1989-Nay). <hr> | |||
===Johann II=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Liechtenstein|THÂN VƯƠNG QUỐC LIECHTENSTEIN]] <Br>(1719 - Nay) <hr> [[Nhà Liechtenstein]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Liechtenstein.svg|center|145px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Staatswappen-Liechtensteins.svg|center|72px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Johann II, Thân vương xứ Liechtenstein|Thân vương Johann II]] <br>(1858 - 1929)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị thân vương thứ 13 của Liechtenstein}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:5 kronen Johann II of Liechtenstein 1904.png|center|700px]]<hr>{{center|'''5 kronen [[Johann II, Thân vương xứ Liechtenstein|Johann II]] - 1904<hr>121 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:John Quincy Adams - Porträt des Fürsten Johann II. von Liechtenstein.jpg|120px]]<br>'''1900 - 1915<hr>[[MS|UNC]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[36,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[24,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[21,6 gr]] <hr>'''Số lượng'''<br>[[15.000]]<hr>8.438.000<hr>[[(337,52$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#fbd"|JOHANN II | |||
|- | |||
|style="background:LemonChiffon;"| | |||
Ông có biệt danh là '''Johann Tốt bụng''', là [[Quân chủ Liechtenstein|Thân vương xứ Liechtenstein]] từ ngày 12 tháng 11 năm 1858 cho đến khi ông qua đời năm 1929. Triều đại của ông kéo dài trong 70 năm 91 ngày, và '''''là vị quân chủ trị vì lâu thứ 3 trong lịch sử châu Âu, chỉ xếp sau [[Louis XIV của Pháp|Vua Louis XIV]] (72 năm 110 ngày) và [[Elizabeth II của Anh|Nữ vương Elizabeth II]] (70 năm 214 ngày) và xếp thứ tư thế giới sau Vua Louis XIV, Nữ vương Elizabeth II, và Vua [[Bhumibol Adulyadej|Bhumibol Adulyadej của Thái Lan]] (70 năm 126 ngày)'''''. Cho đến ngày 9 tháng 5 năm 2022, Johann vẫn là vị quân chủ xếp thứ 2 cho kỷ lục trị vì lâu nhất lịch sử châu Âu, [[Elizabeth II của Anh]] đã thay thế vị trí này. Tuy Louis XIV có thời gian tại vị lâu nhất lịch sử châu Âu, nhưng trên thực tế 19 năm đầu trên ngai vàng của ông là nằm dưới sự nhiếp chính của mẹ ông là [[Ana của Tây Ban Nha]] và 2 thủ tướng là [[Hồng y Richelieu]] và [[Hồng y Mazarin]], đến năm 24 tuổi ông mới chính thức cai trị, vì thế thời gian ở ngai vàng thật của Louis XIV chỉ khoảng 53 năm<hr> | |||
Johann II là con trai cả của [[Aloys II, Thân vương xứ Liechtenstein]] và [[Nữ bá tước Franziska Kinsky xứ Wchinitz và Tettau]]. Ông lên ngôi ngay sau sinh nhật thứ 18 của mình. Năm 1862, '''''Johann II đã cho ban hành bản hiến pháp đầu tiên của Liechtenstein'''''. Sau [[Chiến tranh thế giới thứ nhất]], Johann II ban hành hiến pháp mới vào năm 1921. Nó trao các quyền chính trị đáng kể cho những người Liechtenstei thông thường và đưa thân vương quốc trở thành chế độ [[quân chủ lập hiến]]. Bảng Hiến pháp vẫn tồn tại đến tận ngày nay, nhưng với những sửa đổi, đáng chú ý nhất là vào năm 2003. '''''Liechtenstein rời [[Bang liên Đức]] vào năm 1866. Không lâu sau đó, Quân đội của thân vương quốc bị bãi bỏ vì nó được coi là một khoản chi phí không cần thiết'''''.<hr> | |||
Johann II đã phần nào hạ nhiệt mối quan hệ với đồng minh truyền thống của Liechtenstein, là [[Áo-Hungary]] và các quốc gia kế nhiệm, để thiết lập quan hệ chặt chẽ hơn với [[Thụy Sĩ]], đặc biệt là sau Thế chiến I. Liechtenstein trung lập trong chiến tranh, điều này đã phá vỡ liên minh của Liechtenstein với Áo-Hungary và dẫn đến gia nhập một liên minh thuế quan với Thụy Sĩ. Năm 1924, vào '''''cuối triều đại của Johann, đồng [[franc Thụy Sĩ]] trở thành đơn vị tiền tệ chính thức của Liechtenstein'''''.<hr> | |||
Giữa năm 1905 và năm 1920, [[Lâu đài Vaduz|Schloss Vaduz]] đã được cải tạo và mở rộng. Thân vương Johann II không sống trong lâu đài hoặc thậm chí ở Liechtenstein, nhưng những người kế vị của ông đã biến lâu đài trở thành nơi ở riêng vào năm 1938 - sau khi các điền trang và lâu đài của họ ở Bohemia và Áo bị Đức Quốc xã kiểm soát; Trước đó, các đời Thân vương không sống ở Liechtenstein mà chủ yếu sống ở Viên, Áo. Johann chưa bao giờ kết hôn và có con cái, vì thế sau khi ông qua đời vào năm 1929, em trai của ông là [[Franz I, Thân vương xứ Liechtenstein|Franz]] đã trở thành vị thân vương tiếp theo. | |||
'''''Vì thế Johann II là vị quân chủ không lập gia đình có thời gian trị vì lâu dài nhất trong lịch sử thế giới'''''. | |||
|} | |||
|} | |||
==[[File:Monaco-Flagmap.svg|80px]]📕 MONACO== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#ccf"|[[File:Blason Maison de Goyon.svg|80px]] [[Tập tin:Coat of arms of Monaco.svg|95px]] [[File:Arms of the House of Polignac.svg|80px]] | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|[[Vương tộc Grimaldi|TRIỀU ĐẠI GRIMALDI-GOYON-POLIGNAC]] | |||
|- | |||
|style="background:LemonChiffon;"| | |||
[[Vương tộc Grimaldi]] là triều đại trị vì của [[Monaco|Thân vương quốc Monaco]]. Gia tộc này có nguồn gốc tại [[Genova]], được lập ra bởi [[Grimaldo Canella]] vào năm 1160 và trở thành triều đại cai trị Monaco khi [[Francesco Grimaldi]] chiếm Monaco vào năm 1297. Các thân vương Monaco đều mang họ Grimaldi cho đến thế kỷ XVIII. Năm 1715 khi [[Jacques I xứ Monaco|Jacques Goyon de Matignon]] kết hôn với nữ thừa kế của Monaco là [[Louise Hippolyte xứ Monaco|Louise Hippolyte]], con gái của [[Antonio I xứ Monaco]] và cái chết của Antonio I năm 1731 đã khiến cho Grimaldi tuyệt tự dòng nam, tuy nhiên vương triều của các thân vương tiếp theo của Monaco vẫn lấy tên Grimaldi, dù trên thực tế mang [[Gia tộc Goyon|họ Goyon]]. Năm 1949, [[Rainier III của Monaco|Rainier III]] con trai của [[Prince Pierre xứ Valentinois|Pierre de Polignac]] và [[Charlotte xứ Valentinois]] kế vị ngai vàng Monaco từ quyền thừa kế của mẹ sau cái chết của ông ngoại là [[Louis II của Monaco]], [[Gia tộc Goyou|Nhà Goyou]] được thay thế bởi [[Gia tộc Polignac|Nhà Polignac]], dù thế thì triều đại của Monaco cho đến nay vẫn được gọi là Grimaldi.<hr> | |||
Trên quốc huy của Monaco có 2 tu sĩ [[Dòng Phan Sinh|dòng Franxico]] đứng 2 bên huy hiệu của Nhà Grimaldi, tay cấm kiềm. Điều này đang ám chỉ đến sự kiện năm 1297, khi [[Rainier I xứ Monaco, Lãnh chúa xứ Cagnes|Rainier Grimaldi]] cùng một nhóm quân cải trang thành các tu sĩ đến đánh chiếm pháo đài [[Rocher de Monaco]].<hr> | |||
18 vị quân chủ đầu tiên của Monaco tự xưng lãnh chúa, chỉ từ [[Honoré II xứ Monaco]] mới là thân vương và tính đến nay mới trải qua 14 đời thân vương. Monaco là một lãnh địa từ năm 1297 - 1612 và Thân vương quốc từ năm 1612 đến nay. Nhà Grimaldi nắm quyền Monaco từ năm 1297 - 1731 thì tuyệt tự dòng nam, tiếp đến là Nhà Goyou trải qua 8 đời thân vương (1731-1949) thì tuyệt tự dòng nam và Nhà Polognac từ năm 1949 đến nay và mới 2 đời thân vương.<hr> | |||
Năm 1419, gia tộc Grimaldi đã mua Monaco từ [[Vương quyền Aragon]] và trở thành những người cai trị chính thức và không thể tranh cãi của "Monaco". Năm 1524, Monaco nừm dưới quyền cai trị của Tây Ban Nha như một quốc gia tự trị trong khoảng một thế kỷ, có một đơn vị đồn trú của Tây Ban Nha ở Monaco.<hr> | |||
Năm 1612, Honoré II bắt đầu tự phong mình là "Thân vương" xứ Monaco. Vào những năm 1630, ông đã tìm kiếm sự bảo vệ của Vương quốc Pháp chống lại các lực lượng Tây Ban Nha, vào năm 1642, Thân vương Monaco đã được tiếp đón tại triều đình của [[Louis XIII của Pháp|Vua Louis XIII]] với tư cách là "duc et pair étranger". Monaco được [[Felipe IV của Tây Ban Nha]] công nhận là một Thân vương quốc có chủ quyền vào năm 1633 và Louis XIII của Pháp công nhận là một thân vương quốc có chủ quyền trong Hiệp ước Péronne năm 1641.<hr> | |||
Các Thân vương xứ Monaco trở thành chư hầu của các vị vua Pháp trong khi vẫn là các Thân vương có chủ quyền. Mặc dù các Thân vương kế tiếp và gia đình của họ đã dành phần lớn cuộc đời của mình ở Paris và kết hôn với các quý tộc Pháp và Ý, nhưng Nhà Grimaldi là người Ý. Thân vương quốc này tiếp tục tồn tại như một lãnh thổ bảo hộ của Pháp cho đến [[Cách mạng Pháp]].<hr> | |||
Năm 1793, lực lượng Cách mạng Pháp đã chiếm được Monaco và chiếm đóng cho đến năm 1814. Monaco được tái lập vào năm 1814, nó được chỉ định là một vùng bảo hộ của [[Vương quốc Sardinia]] theo [[Đại hội Viên]] năm 1815. Monaco vẫn giữ nguyên vị trí này cho đến năm 1860 khi, theo [[Hiệp ước Turin (1860)]], lực lượng Sardinia rút khỏi Thân vương quốc Monaco; [[Bá quốc Nice]] xung quanh (cũng như [[Công quốc Savoia]]) đã được nhượng lại cho Pháp. Monaco một lần nữa trở thành vùng bảo hộ của Pháp. Tiếng Ý là ngôn ngữ chính thức ở Monaco cho đến năm 1860, khi nó được thay thế bằng tiếng Pháp.<hr> | |||
Thị dân của [[Menton]] và [[Roquebrune-Cap-Martin|Roquebrune]] thuộc Monaco đã tuyên bố độc lập với tư cách là các thành bang tự do, hy vọng được Sardinia sáp nhập. Pháp đã phản đối, tình trạng bất ổn tiếp tục cho đến khi [[Charles III xứ Monaco]] từ bỏ 2 đô thị này và '''''nhường lại cho Pháp để đổi lấy 4,2 triệu franc, sự nhượng quyền này đã làm Monaco mất đi 95% lãnh thổ''''' (Gia tộc Grimaldi chiếm được Menton vào năm 1346 và Roquebrune vào năm 1355). Việc chuyển nhượng đã được [[Hiệp ước Pháp-Monégasque]] năm 1861 công nhận.<hr> | |||
[[Sòng bạc Monte Carlo]] mở cửa vào năm 1863, do [[Société des bains de mer de Monaco]] tổ chức, đơn vị cũng điều hành [[Hôtel de Paris]]. Thuế do S.B.M. trả đã được đổ vào cơ sở hạ tầng của Monaco. Sự phát triển kinh tế được thúc đẩy vào cuối thế kỷ XIX với tuyến đường sắt nối với Pháp.<hr> | |||
Thân vương Monaco là người cai trị chuyên chế cho đến khi Cách mạng Monaco năm 1910 buộc ông phải công bố hiến pháp vào năm 1911.<hr> | |||
Năm 1943, Quân đội Ý xâm lược và chiếm đóng Monaco, thành lập một chính quyền phát xít. Vào tháng 9 năm 1943, sau khi Mussolini mất quyền lực, Quân đội Đức Quốc xã đã chiếm đóng Ý và Monaco, và Đức Quốc xã bắt đầu trục xuất người Do Thái.<hr> | |||
Một sửa đổi hiến pháp năm 1962 đã bãi bỏ án tử hình, quy định quyền bầu cử của phụ nữ và thành lập Tòa án Tối cao Monaco để đảm bảo các quyền tự do cơ bản. Năm 1963, một cuộc khủng hoảng đã nổ ra khi [[Charles de Gaulle]] phong tỏa Monaco, tức giận vì tình trạng của nơi này là thiên đường thuế đối với những công dân Pháp giàu có.<hr> | |||
Năm 1993, Công quốc Monaco trở thành thành viên của Liên hợp quốc, với đầy đủ quyền bỏ phiếu. Năm 2002, một hiệp ước mới giữa Pháp và Monaco đã nêu rõ rằng nếu không có người thừa kế để tiếp tục triều đại Grimaldi, Thân vương quốc này vẫn sẽ là một quốc gia độc lập thay vì bị sáp nhập vào Pháp. Việc phòng thủ quân sự của Monaco vẫn là trách nhiệm của Pháp.<hr> | |||
Vào ngày 27 tháng 8 năm 2015, [[Albert II xứ Monaco|Thân vương Albert II]] đã xin lỗi về vai trò của Monaco trong Thế chiến II trong việc tạo điều kiện trục xuất tổng cộng 90 người Do Thái và chiến binh kháng chiến, trong số đó chỉ có chín người sống sót.<hr> | |||
Monaco đã được quản lý theo chế độ [[quân chủ lập hiến]] kể từ năm 1911, với Thân vương Monaco là nguyên thủ quốc gia. Nhánh hành pháp bao gồm một Thủ tướng là người đứng đầu nội các chính phủ với 5 thành viên. Cho đến năm 2002, Thủ tướng là một công dân Pháp do Thân vương bổ nhiệm trong số các ứng cử viên do Chính phủ Pháp đề xuất; kể từ khi có sửa đổi hiến pháp năm 2002, Thủ tướng có thể là người Pháp hoặc người Monaco. Vào ngày 2 tháng 9 năm 2024, Thân vương Albert II đã bổ nhiệm một công dân Pháp là [[Didier Guillaume]], vào chức vụ này.<hr> | |||
Theo Hiến pháp Monaco năm 1962, Than vương chia sẻ quyền phủ quyết của mình với [[Quốc hội Monaco|Hội đồng quốc gia]] (đơn viện). Quốc hội có 24 thành viên với nhiệm kỳ 5 năm. Tất cả các luật đều yêu cầu sự chấp thuận của Quốc hội. Sau cuộc tổng tuyển cử Monaco năm 2023, tất cả 24 ghế đều do [[Liên minh quốc gia Monegasque]] ủng hộ chế độ quân chủ nắm giữ. | |||
|} | |||
===Rainier III=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Monaco|THÂN VƯƠNG QUỐC MONACO]] <hr> [[Vương tộc Grimaldi|Triều đại Grimaldi]]<br>(1297 - Nay)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Monaco.svg|center|110px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of Monaco.svg|center|92px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Rainier III của Monaco|Thân vương Rainier III]]<br> (1949 - 2005)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị quân chủ thứ 33 của Monaco}} | |||
|- | |||
| [[File:50 franc Rainier III Anniversary of Reign - 1974.png|center|700px]]<hr>{{center|'''50 franc_[[Rainier III của Monaco|Kỷ niệm 25 năm trị vì của Rainier III]] - 1974<hr>51 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Prince Rainier III.jpg|100px]]<br>'''1974 - 1976<hr>[[MS|UNC]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[41,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[30,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[27,0 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[50.000]]<hr>1000.000<br>[[(42,55$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|- | |||
| [[File:100 Francs - Rainier III Anniversary of Reign.png|center|700px]]<hr>{{center|'''100 Franc_[[Rainier III của Monaco|Kỷ niệm 40 năm trị vì của Rainier III]] - 1989<hr>36 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Prince Rainier III.jpg|100px]]<br>'''1989<hr>[[MS|UNC]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[31,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[15,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[13,5 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[45.000]]<hr>900.000<br>[[(38,30$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
* Thông qua mẹ mình là [[Charlotte, Nữ công tước xứ Valentinois]], ông là cháu ngoại của [[Louis II của Monaco]] và cháu cố của [[Albert I xứ Monaco]] và [[Mary Victoria Hamilton]]. Vì thế ông bà sơ ngoại của ông là [[William Hamilton, Công tước thứ 11 xứ Hamilton]] thuộc [[Đẳng cấp quý tộc Scotland]] và [[Marie Amelie xứ Baden]], con gái của [[Karl Ludwig Friedrich xứ Baden]] và [[Stéphanie de Beauharnais]], con nuôi của hoàng đế [[Napoleon I]]. Ông đã kế vị ông ngoại Louis II để trở thành Thân vương xứ Monaco. Thông qua bà cố ngoại [[Mary Victoria Hamilton]], ông là cháu 7 đời của Đại công tước [[Karl Friedrich xứ Baden]]. | |||
==[[File:Andorra-Flagmap.svg|80px]]📕 ANDORRA== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#ccf"|[[File:Coat of Arms of the high authorities of Andorra.svg|70px]] | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|TRIỀU ĐẠI ANDORRA | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
Truyền thống cho rằng [[Charlemagne]] đã cấp một hiến chương cho người Andorra để đổi lại họ sẽ ủng hộ cuộc chiến chống lại [[Moor|người Moor]] trên [[Bán đảo Iberia]]. Lãnh chúa phong kiến của lãnh thổ này lúc đầu là [[Bá tước xứ Urgell]]. Tuy nhiên, vào năm 988, [[Borrell II xứ Barcelona]] đã trao [[Andorra]] cho [[Giáo phận Công giáo La Mã Urgell|Giám mục xứ Urgell]] để đổi lấy đất ở [[Cerdanya]]. | |||
Trước năm 1095, Andorra không có bất kỳ hình thức bảo vệ quân sự nào, và vì Giám mục giáo phận Urgell biết rằng Bá tước xứ Urgell muốn đòi lại các thung lũng Andorra nên ông đã nhờ đến sự giúp đỡ từ [[Lãnh chúa xứ Caboet]]. Năm 1095, lãnh chúa và giám mục đã ký tuyên bố về đồng chủ quyền của họ đối với Andorra. | |||
Vào thế kỷ XI, một cuộc tranh chấp nảy sinh giữa Giám mục giáo phận Urgell và Bá tước xứ Foix. Cuộc xung đột được [[Vương quyền Aragon]] làm trung gian vào năm 1278 và dẫn đến việc ký kết [[Paréage của Andorra (1278)|paréage]] đầu tiên, trong đó quy định rằng chủ quyền của Andorra được chia sẻ giữa bá tước và giám mục. Điều này mang lại cho công quốc lãnh thổ và hình thức chính trị, đồng thời đánh dấu sự khởi đầu chính thức của thể chế quân chủ độc đáo của Andorra và tồn tại đến tận ngày nay. | |||
Thông qua quyền thừa kế, tước hiệu của Bá tước xứ Foix ở Andorra được truyền lại cho các vị vua của [[Vương quốc Navarre]]. Sau khi Henry III của Navarre lên ngôi và trở thành vua [[Henri IV của Pháp]], ông đã ban hành một sắc lệnh vào năm 1607, quy định vua Pháp và Giám mục giáo phận Urgell sẽ trở thành đồng Thân vương của Andorra. Năm 1812–1813, [[Đệ Nhất Đế chế Pháp]] của [[Vương tộc Bonaparte]] sáp nhập [[Catalonia]] và chia vùng này thành 4 tỉnh, trong đó Andorra trở thành một phần của quận [[Puigcerdà]] (thuộc [[Sègre (tỉnh)|tỉnh Sègre]]). Sau thất bại của [[Napoléon I]], một sắc lệnh của hoàng gia đã đảo ngược việc sáp nhập này, và Andorra trở lại trạng thái độc lập và chính trị trước đây. Nguyên thủ quốc gia Pháp - dù là vua, hoàng đế hay tổng thống - vẫn tiếp tục giữ chức vụ đồng Thân vương của Andorra kể từ đó cho đến tận ngày nay. | |||
Trước khi thông qua Hiến pháp, Andorra đã cống nạp vào những năm lẻ khoảng 460 USD cho nhà cai trị Pháp, trong khi vào những năm chẵn, Andorra đã cống nạp khoảng 12 USD cho giám mục Tây Ban Nha, cộng với 6 miếng [[giăm bông]], sáu bánh pho mát, và sáu con gà sống. Phong tục thời [[trung cổ]] này sau đó đã bị bãi bỏ vào năm 1993. | |||
Năm 2009, tổng thống Pháp [[Nicolas Sarkozy]] đe dọa sẽ thoái vị với tư cách là đồng Thân vương nếu [[Andorra|Thân vương quốc Andorra]] không thay đổi luật ngân hàng để loại bỏ tình trạng là [[thiên đường thuế]], đã tồn tại lâu đời của quốc gia này. | |||
Năm 2014, [[Joan Enric Vives i Sicília]] nói rằng ông sẽ thoái vị làm giám mục xứ Urgell và đồng Thân vương của Andorra nếu [[Quốc hội Andorra]] thông qua luật hợp pháp hóa việc phá thai. Tòa giám mục sau đó đã tạm ngừng hoạt động ít nhất cho đến khi luật được ban hành, để không giáo sĩ nào phải ký vào đó. Điều này sẽ khiến Andorra trở thành quốc gia thứ hai (sau [[Vương quốc Bỉ]]) nơi nguyên thủ quốc gia từ chối ký luật hợp pháp hóa việc phá thai mà không ngăn cản việc ban hành luật. | |||
|} | |||
===Joan Enric & Nicolas Sarkozy=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Andorra|THÂN VƯƠNG QUỐC ANDORRA]] <Br>(1278 - Nay) <hr> [[Đồng Vương công Andorra|Đồng thân vương]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Andorra.svg|center|129px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of Andorra.svg|center|80px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Joan Enric Vives i Sicília|Thân vương Joan Enric Vives i Sicília]] (2003 - Nay)<hr>[[Nicolas Sarkozy|Thân vương Nicolas Sarkozy]] (2007-2012)'''}} | |||
|- | |||
| [[File:5 Diners Pope John Paul II 2011.png|center|700px]]<hr>{{center|'''5 Diner [[Giáo hoàng Gioan Phaolô II|Giáo hoàng John Paul II]] - 2011'''}}||{{center|[[File:Mons. Vives (30612833490).jpg|center|100px]]<br>'''2011<hr>[[MS|UNC]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[38,61 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[92,5%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[20,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[18,5 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[2.500]]<hr>1.100.000<br>[[(43,14$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==[[File:Flag-Map of Norway-(All).png|60px]]📕 NORWAY== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#ccf"|[[Tập tin:Greater royal coat of arms of Norway.svg|70px]] | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|TRIỀU ĐẠI GLUCKSBURG - NORWAY<hr>(1905 - Nay) | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
[[Na Uy|Vương tộc Glücksburg-Norway]] là một nhánh của [[Vương tộc Glücksburg|Nhà Glücksburg-Đan Mạch]] và Glücksburg lại là chi nhánh của [[Vương tộc Oldenburg]] gốc Đức, đến từ Thánh chế La Mã vào thế kỷ XI. Vào ngày 18 tháng 11 năm 1905, Vương tử Carl, con trai thứ hai của Vua [[Frederik VIII của Đan Mạch]] (con trai cả của [[Christian IX của Đan Mạch]]), trở thành Vua của Na Uy với vương hiệu [[Haakon VII của Na Uy]], chính thức khai sinh ra Vương tộc Glücksburg-Norway.<hr> | |||
Hậu duệ của ông vẫn còn đang trị vì Na Uy cho đến tận ngày nay, đã trải qua 3 đời quân chủ: [[Haakon VII của Na Uy|Haakon VII]] (1905-1957); [[Olav V của Na Uy|Olav V]] (1957-1991) và [[Harald V của Na Uy|Harald V]] (1991-Nay). Người thừa kế hiện tại của ngai vàng Na Uy chính là [[Haakon Magnus của Na Uy|Thái tử Haakon Magnus]], người con thứ 2 và là con trai duy nhất của đương kim quốc vương Harald V. Hiện nay các nhánh của [[Vương tộc Glücksburg]] vẫn còn nắm 3 ngai vàng ở châu Âu, gồm có Đan Mạch, Na Uy và Vương quốc Anh. | |||
|} | |||
===Olav V=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Na Uy|VƯƠNG QUỐC NAUY]]<hr>[[Vương tộc Glücksburg|Triều đại Glücksburg]] <br> (1905 - Nay)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Norway.svg|center|123px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of Norway.svg|center|47px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Olav V của Na Uy|Vua Olav V]] <br>(1957 - 1991)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị vua thứ 2 của Na Uy dưới vương triều Glücksburg}} | |||
|- | |||
| [[File:50 Kroner - Olav V King's 75th Birthday 1978.png|center|700px]]<hr>{{center|'''50 Kroner_[[Olav V của Na Uy|Kỷ niệm Sinh nhật lần thứ 75 của Vua Olav V]] - 1978<hr> 47 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Olav V of Norway.jpg|100px]]<br>1966 <hr> '''[[MS|UNC]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[36,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[92,5%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,975 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[800.000]]<hr>890.000<br>[[(37,87$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==[[File:Nepal stub.png|120px]]📕 VƯƠNG QUỐC NEPAL== | |||
===Birendra=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Vương quốc Nepal|VƯƠNG QUỐC NEPAL]]<br>1768 – 2008<hr> [[Triều đại Shah|Nhà Shah]]}}'''||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Nepal.svg|center|85px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of Nepal (1962–2008).svg|center|85px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Birendra của Nepal|Quốc vương Birendra]] <br>(1972 - 2001)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị quốc vương thứ 10 của Vương quốc Nepal}} | |||
|- | |||
| [[File:25 Rupee Birendra Bir Bikram - Monal Himalaya 1974.png|center|700px]]<hr>{{center|'''25 Rupee [[Birendra của Nepal|Birendra Bir Bikram]]_[[Lophophorus impejanus|Gà lôi Monal Himalaya]] - 1974<hr>51 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Birendra Bir Bikram Shah.jpg|100px]]<br>'''1974<hr>[[MS]]'''}}|| {{center|'''Đường kính'''<br>[[38,61 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[92,5%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[28,28 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[26,159 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[11.000]]<hr>1.000.000<br>[[(39,22$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
# Ông là vị vua thứ 10 của Vương quốc Nepal thuộc triều đại Shah, ông bị chính con trai mình là Dipendra ám sát trong vụ thảm sát hoàng gia Nepal, tất cả các thành viên hoàng gia đều bị giết, ngoại trừ em trai của ông là Gyanendra, sau trở thành vị vua cuối cùng của Nepal.<br> | |||
# Sau khi thực hiện thảm sát, Thái tử Dipendra cũng tự bắn vào đầu mình, trong lúc hôn mê tại bệnh viện, ông được đưa lên làm vua và chỉ sau 3 ngày thì ông chết, người chú ruột là Gyanendra lên kế vị. | |||
# Mười tám năm đầu của triều đại (1972-1990), ông là một vị vua chuyên chế, nhưng đến năm 1990, ông để đất nước mình trở thành một chế độ quân chủ lập hiến. Ông được thần dân yêu quý vì tinh thần dân chủ và những chính sách và cải cách hiệu quả. | |||
==[[File:Brunei-Flagmap.svg|70px]]📕 BRUNEI== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#ccf"|[[File:Personal Emblem of the Sultan of Brunei.svg|70px]] | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|VƯƠNG TỘC BOLKIAH | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
Vương tộc Bolkiah chính thức cai trị [[Brunei]] với tư cách là sultan từ năm 1368 cho đến nay và đã trải qua 30 đời sultan. Vị sultan đầu tiên là '''[[Muhammad Shah của Brunei|Muhammad Shah]]''', gốc tích về ông vẫn chưa rõ ràng, mang nhiều tính thần thoại. Ông cai trị với tư cách là '''[[Raja]] Awang Alak Betatar''' cho đến đầu những năm 1360, sau đó ông mới cải sang đạo Hồi và xưng là sultan.<hr> | |||
Năm 1402, Muhammad Shah qua đời, con trai là [[Abdul Majid Hassan]] lên kế vị. Năm 1405, vị sultan thứ 2 này đã cử một đoàn sứ thần đến Trung Quốc để tỏ lòng tôn kính Hoàng đế Nhà Minh, [[Minh Thành Tổ]] đã sắc phong cho ông làm chư hầu, tặng kèm 1 ấn tín. Để tỏ lòng biết ơn, năm 1408, ông cùng vợ con và tuỳ tùng đã đi thuyền đến Nhà Minh để đích thân yết kiến hoàng đế. Đây là lần đầu tiên có một nhà cai trị nước ngoài đến yết kiến hoàng đế Trung Quốc nên Minh Thành Tổ rất vui mừng, ông sai Bộ lễ phải tiếp đoán trọng thể theo nghi thức cao nhất dành cho một chư hầu. Hoàng đế đã tặng quà cho sultan Brunei và đoàn tuỳ tùng rất là hậu hỉnh. | |||
* Sau khi ở Nam Kinh được hơn 1 tháng, tình hình sức khoẻ của Sultan [[Abdul Majid Hassan]] không tốt, dù đã được hoàng đế cử đến những thái y tốt nhất để điều trị, nhưng sultan Brunei đã qua đời vào ngày 19 tháng 10 năm 1408, lúc đó mới 28 tuổi. Theo di nguyện, ông muốn được chôn cất tại Trung Quốc. Hoàng đế đã ban [[Thụy hiệu]] là Công Thuận, cho bãi triều 3 ngày để tỏ lòng tiếc thương. Thi hài của ông đã được chôn cất theo lễ nghi chư hầu cao nhất, lăng của ông cách thành phố Nam Kinh khoảng 3km về phía Nam, di tích hiện nay được gọi là [[Lăng của Vua Boni]], là một trong hai lăng mộ của quân chủ nước ngoài duy nhất tại Trung Quốc, lăng mộ còn lại là của [[Lăng của Vua Sulu|Vua Sulu]] ở Đức Châu, Sơn Đông.<hr> | |||
Vị sultan thứ 3 của Brunei là [[Sultan Ahmad của Brunei|Ahmad]], ông là anh trai của sultan đầu tiên và bác của sultan thứ 2, ông lên gôi sau khi cháu trai mình qua đời tại [[Nhà Minh]] vào năm 1408. Dưới thời trị vì của ông, '''''vương quốc đã lấy tên là Brunei, điều này ghi nhận ông là người sáng lập ra Brunei'''''.<hr> | |||
Sau khi Ahmad qua đời vào năm 1425 mà không để lại người thừa kế nam, ngai vàng đã được trao lại cho người con rễ là [[Sharif Ali]] đến từ [[Sharif của Mecca|Tiểu quốc Mecca]], '''''ông là hậu duệ của Nhà tiên tri Hồi giáo [[Muhammad]] thông qua cháu trai của mình là [[Hasan ibn Ali]] (Sayyidina Hasan)'''''. Vì thế, Vương tộc Bolkiah của Brunei có quan hệ hoàng hàng xa với triều đại [[Hashemit]] của Vương quốc [[Jordan]]. Ông là vị quốc vương đầu tiên xây dựng một nhà thờ Hồi giáo ở Brunei, ông được coi là một nhà lãnh đạo ngoan đạo đã cai trị đất nước theo luật Hồi giáo.<hr> | |||
Vị sultan thứ 6 của Brunei là [[Bolkiah]] (1485-1524), con trai của sultan thứ 5 [[Sulaiman của Brunei]] (1432-1485), dưới thời trị vì của họ, Brunei trở thành một thế lực hùng mạnh ở khu vực. Triều đại của [[Bolkiah]] được gọi là '''''"Thời kỳ hoàng kim của Brunei" do sự thống trị của nó trên khắp Borneo và miền nam Philippines và có thể đến tận Kalimantan'''''. Ông được coi là quốc vương Brunei đầu tiên từng sử dụng đại bác. '''''Có lẽ Vương tộc Bolkiah được đặt theo tên của ông'''''.<hr> | |||
Vị sultan thứ 11 của Brunei là [[Abdul Jalilul Akbar]] (1598-1659), triều đại của ông kéo dài trong 61 năm, là triều đại dài nhất trong lịch sử Brunei. Ông là một vị sultan khôn ngoan, chỉ trong thời kỳ trị vì của ông, các Giáo luật của Quốc vương Hasan (Bộ luật Hình sự Syariah) mới được thực hiện và sử dụng đầy đủ.<hr> | |||
Vụ ám sát vị sultan thứ 13 [[Muhammad Ali (Brunei)|Muhammad Ali]] vào năm 1661, đã châm ngòi cho cuộc [[Nội chiến Brunei]] giữa kẻ giết ông và Quốc vương [[Muhyiddin của Brunei|Muhyiddin]], một cuộc nội chiến về quyền kế vị đã nổ ra và kéo dài trong nhiều năm.<hr> | |||
Vị sultan thứ 17 là [[Husin Kamaluddin]] là hậu duệ của Sultan thứ 13 của Brunei, Sultan [[Muhammad Ali (Brunei)|Muhammad Ali]], với tư cách là con trai thứ hai. Quốc gia thịnh vượng trong thời gian ông cai trị, thực phẩm dễ kiếm và ông cũng giới thiệu [[pitis Brunei ]], đơn vị tiền tệ đầu tiên của quốc gia.[5] Ngoài ra, ông là vị sultan duy nhất đã lên ngôi hai lần.<hr> | |||
[[Omar Ali Saifuddin II]] (1828-1852) là sultan thứ 24, dưới triều đại của ông, Brunei đã mất nhiều lãnh thổ và chủ quyền cho người Anh. | |||
* Sau khi phát hiện [[antimon]] ở Sarawak, Brunei thể hiện tham vọng kiểm soát nền kinh tế tại đây dẫn đến cuộc nổi dậy chống lại sự cai trị của Brunei. Thủ tướng của Brunei lúc đó là [[Pengiran Muda Hashim]], đồng thời cũng là chú của sultan Omar Ali đã tìm đến sự giúp đỡ của Nhà thám hiểm người Anh là [[James Brooke]] để lập lại trị an ở Kuchin với lời hứa sẽ bổ nhiệm Brooke làm Thống đốc mới. Sau khi cuộc bạo loạn bị dập tắt thành công, năm 1842 sultan đã bổ nhiệm Brooke làm thống đốc Sarawak, công nhận ông ấy là [[Vương quốc Sarawak|Raja của Sarawak]] và sultan phải nhượng Kuchin. | |||
* Với khoản thanh toán hàng năm là 2.500 dollar, Brooke đã có được vùng giàu antimon của Sarawak vào tháng 7 năm 1842. Điều này có nghĩa là Brooke đã nắm quyền kiểm soát một nửa Brunei trong thời gian này. Sau khi Sarawak được chuyển giao chính thức cho ông vào năm 1847 từ Omar Ali Saifuddin, Brooke đã mở rộng ranh giới của mình (từ địa điểm này sang địa điểm khác). | |||
* Việc mất nhanh chóng các lãnh thổ của Brunei đã gây ra sự suy yếu nghiêm trọng về kinh tế. Do các chính sách thuộc địa của Anh, hạn chế sự can thiệp của Anh, Brooke đã có thể mở rộng lãnh thổ của mình và khiến Brunei mất đất. Vì Anh có thể thực hiện quyền lực gián tiếp đối với các lãnh thổ mới có ý nghĩa chiến lược và tài chính đối với họ, nên họ không phản đối các sáng kiến tư nhân của cư dân Anh hoặc các tập đoàn thương mại do họ bảo trợ để sở hữu các thị trấn ở Bắc Borneo. | |||
* Vào tháng 7 năm 1846, James Brooke và Đô đốc Sir Thomas Cochrane cùng nhau bắt đầu một cuộc tấn công bằng tàu chiến vào Thị trấn Brunei và phế truất Quốc vương. '''''Quốc vương miễn cưỡng tuyên thệ trung thành với [[Nữ hoàng Victoria]] sau khi ông được phục vị'''''. Cùng năm đó, vào ngày 18 tháng 12, Omar Ali Saifuddin buộc phải nhượng [[Labuan]] cho Chính phủ Anh theo [[Hiệp ước Labuan]] sau khi Hải quân Hoàng gia đe dọa tấn công. | |||
* Năm 1847, Sultan đã ký Hiệp ước Hữu nghị và Thương mại với Anh, theo đó trao cho họ quyền kiểm soát hoàn toàn đối với hoạt động thương mại của Brunei.<hr> | |||
Vị sultan thứ 26 của Brunei là [[Hashim Jalilul Alam Aqamaddin]] (1885-1906), ông đã yêu cầu sự giúp đỡ của Anh để ngăn chặn sự bành trướng lãnh thổ của Rajah [[Charles Brooke, Rajah của Sarawak|Charles Brooke]], dẫn đến Hiệp định Bảo hộ năm 1888. Nhận thức được việc Brunei có thể yêu cầu hỗ trợ từ [[Đế quốc]] Ottoman, người Anh đã cử [[Malcolm Stewart Hannibal McArthur|Malcolm McArthur]] đến để xử lý các vấn đề liên quan đến quản trị, dẫn đến Hiệp định Bổ sung năm 1905–1906. Thỏa thuận này đặt chính quyền Brunei dưới sự kiểm soát của Anh bằng cách cho phép một thường trú Anh tư vấn cho sultan về hầu hết các vấn đề, ngoại trừ những vấn đề liên quan đến Hồi giáo và phong tục Mã Lai.<hr> | |||
[[Muhammad Jamalul Alam II]], sultan thứ 27 của Brunei. Ông trở thành Quốc vương đầu tiên của Brunei có khả năng nói [[tiếng Anh]]. Sau đó, ông đã giới thiệu luật Hồi giáo, Đạo luật Mohammedan Laws Enactment), cho vương quốc vào năm 1912. Tiếp theo là Đạo luật Hôn nhân và Ly hôn vào năm 1913. Edward, Thân vương xứ Wales, đã đến thăm Brunei vào ngày 18 tháng 5 năm 1922. Cùng năm đó, ông trở thành quốc vương đầu tiên đến thăm Singapore.<hr> | |||
Vị sultan thứ 28 là [[Ahmad Tajuddin]] (1924-1950) và sultan 29 [[Omar Ali Saifuddien III]] (1950-1967) đã thúc đẩy chủ nghĩa dân tộc Brunei, khởi xướng việc hoàng gia nhận được nhiều quyền tự trị hơn... những hành động này đã dẫn đến việc Brunei sẽ giành được độc lập vào năm 1984, dưới thời của sultan thứ 30, cũng là sultan đương nhiêm của Brunei - [[Hassanal Bolkiah]]. | |||
|} | |||
===Hassanal Bolkiah=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Brunei|VƯƠNG QUỐC HỒI GIÁO BRUNEI]]<br>1368 - Nay<hr> [[Vương tộc Bolkiah|Nhà Bolkiah]]}}'''||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Brunei.svg|center|150px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Emblem of Brunei.svg|center|90px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Hassanal Bolkiah|Sultan Hassanal Bolkiah]] <br>(1967 - Nay)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị Sultan thứ 30 của Brunei}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:20 Dollars - Hassanal Bolkiah 1988.png|center|700px]]<hr>{{center|'''20 Dollar_[[Hassanal Bolkiah|Kỷ niệm 20 năm trị vì của Hassanal Bolkiah]] (1968 - 1988)<hr>37 năm (2025)'''}}||{{center|[[Tập tin:Sultan Hassanal Bolkiah - 53857993945.jpg|100px]]<br>'''1988<hr>[[MS]]'''}}|| {{center|'''Đường kính'''<br>[[39,5 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[92,5%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[28,2800 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[26,159 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[5.000]]<hr>1.300.000<br>[[(50,98$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==💟 RATTANAKOSIN - CHAKRI== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#ccf"|[[File:Emblem of the House of Chakri.svg|60px]] | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|VƯƠNG TỘC CHAKRI | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
[[File:Map of Rattanakosin Kingdom in 1837.jpg|thumb|250px|Vương quốc Rattanakosin năm 1837]] | |||
[[Vương triều Chakri|Nhà Chakri]] là vương tộc trị vì hiện tại của [[Thái Lan]], họ trở thành quân chủ từ năm 1782 khi Tướng [[Rama I|Phutthayotfa Chulalok Maharat]] làm cuộc đảo chính lật đổ Vua [[Taksin]] của [[Vương quốc Thonburi|Vương triều Thonburi]] vào năm 1782, lên ngôi vua xưng hiệu là [[Rama I]], lập ra [[Vương quốc Rattanakosin]], đến năm 1932 thì đổi quốc hiệu thành [[Thái Lan|Vương quốc Thái Lan]]. Vương tộc này đã trải qua 10 đời quân chủ, đều lấy vương hiệu là Rama và được đánh số từ I đến X. | |||
* Rama I, với tên khai sinh là '''Thongduang''', sinh trưởng trong một gia đình [[người Môn]], là chắt nội của [[Kosa Pan]], người đứng đầu phái đoàn ngoại giao của vua [[Narai]] đến triều đình Vua [[Louis XIV của Pháp]]. Gia đình ông nhiều đời phục vụ cho chính quyền Ayutthaya cho đến đời thân phụ của ông - [[Thongdi Chakri|Thongdi]]. Sau khi lớn lên, Thongduang cùng với em trai là [[Maha Sura Singhanat|Boonma]] trở thành các tướng lĩnh dưới trướng vua Taksin trong cuộc chiến tranh chống lại [[Vương triều Konbaung]] [[Miến Điện]] và cuối cùng đã góp công lớn giúp nhà vua hoàn thành công cuộc trung hưng Xiêm quốc. | |||
* Những năm cuối đời Vua Taksin, Thongduang nổi lên như một nhà lãnh đạo quân sự quyền lực nhất bậc nhất vương quốc. Ông chính là người đầu tiên trong lịch sử Thái Lan không thuộc dòng dõi hoàng gia mà được thụ phong tước hiệu ''[[Somdet Chao Phraya (tước hiệu)|Somdet Chao Phraya]]'' (Quận vương) tôn quý. | |||
* Bằng việc thu phục các tiểu quốc Chiang Mai, Viêng Chăn, Luang Prabang cùng hai tỉnh phía tây Campuchia, cho đến khi ông qua đời năm [[1809]], [[mandala]] Xiêm đã có một lãnh thổ rất rộng lớn tương đương 2 lần lãnh thổ cũ của [[Vương quốc Ayutthaya]], với đường Bắc - Nam trải dài từ [[các nhà nước Shan]] cho đến [[bán đảo Mã Lai]], và phía đông vươn đến [[Dãy núi Trường Sơn]]. Giai đoạn này cũng đánh dấu sự khởi đầu của một "Thời đại hoàng kim của văn hóa" mới, tiếp nối bước chân của sự nở rộ về nghệ thuật sau Thời kỳ Hậu Ayutthaya. | |||
* Hai sự kiện nổi bật nhất trong triều đại của ông là cuộc dời đô từ Thonburi về Bangkok và cuộc [[Chiến tranh Xiêm - Miến|Chiến tranh Xiêm - Miến (1785–1786)]] - nơi đánh dấu cuộc tấn công quy mô lớn cuối cùng của Miến Điện vào lãnh thổ Xiêm La/Thái Lan cho đến hiện nay. | |||
<hr> | |||
Gia đình hoàng gia Thái Lan hiện tại thuộc về Nhà Mahidol, một nhánh con của triều đại Chakri. Nhà này được thành lập bởi Vương tử [[Mahidol Adulyadej]] (1891–1929) và Vương phi [[Srinagarindra]] (1900–1995). Vương tử là con trai của [[Rama V|Vua Chulalongkorn]] (Rama V) và vợ là Vương hậu [[Savang Vadhana]]. Vương tử cũng là anh em cùng cha khác mẹ của 2 vị Vua [[Rama VI|Vajiravudh]] (Rama VI) và Vua [[Rama VII|Prajadhipok]] (Rama VII). Sau khi Vua [[Rama VIII|Ananda Mahidol]] - Rama VIII (con trai cả của Vương tử Mahidol) qua đời, [[Rama IX|Bhumibol Adulyadej]] (con trai út của Vương tử) lên ngôi vào năm 1946 lấy hiệu là Rama IX. Năm 1949, Vua kết hôn với người em họ đời đầu của mình là [[Sirikit|Rajawongse Sirikit Kitiyakara]] (con gái của [[Nakkhatra Mangala|Mom Chao Nakkhatra Mangala Kitiyakara]], cháu trai của Vua Chulalongkorn). Bhumibol được con trai là [[Rama X|Vajiralongkorn]] kế vị chính thức vào ngày 13 tháng 10 năm 2016, nhưng được tuyên bố là Vua vào ngày 1 tháng 12 năm 2016 với vương hiệu Rama X. | |||
|- | |||
! style="background:#ccf"|[[File:Coat of arms of Siam (greater).svg|60px]] | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|Vương quốc Rattanakosin | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
[[Vương quốc Rattanakosin|Rattanakosin hay Xiêm]], là tên của Thái Lan trong giai đoạn đầu triều đại Chakri, kéo dài từ năm 1782 đến năm 1932. Trong giai đoạn này, các vị vua Chakri cai trị như một [[quân chủ chuyên chế]]. Rattanakosin có lãnh thổ rộng lớn, bao trùm Lào, một phần của Cambodia và Malaysia hiện nay. Thái trực tiếp cạnh tranh bá quyền khu vực với các vương triều của Việt Nam và Myanmar. | |||
Với đường lối ngoại giao khôn ngoan, Thái tuy mất nhiều lãnh thổ, nhưng đã tránh bị các thực dân phương Tây thuộc địa. Do không không có cải cách chính trị nào đáng kể, sau [[Cách mạng Xiêm 1932]], Thái chuyển hoá thành [[quân chủ lập hiến]], kết thúc thời kỳ Rattanakosin, đổi quốc hiệu thành Vương quốc Siam, kể từ năm 1939, quốc hiệu được đổi thành Vương quốc Thái Lan và tồn tại cho đến tận ngày nay. <hr> | |||
===Rama VI=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Vương quốc Rattanakosin|VƯƠNG QUỐC RATTANAKOSIN]]<br>(1782 - 1932)<hr>[[Vương triều Chakri]]}}'''||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Siam (1855).svg|center|132px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of Siam (greater).svg|center|67px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Rama VI|Vua Rama VI]] <br>(1910 - 1925)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị vua thứ 6 của Thái Lan đến từ triều đại Chakri}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 baht Rama VI of Thailand 1917.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 Baht [[Rama VI]] - 1917<hr>108 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Vajiravudh of Siam (cropped).jpg|100px]]<br>'''1913 - 1918<hr>[[MS]]'''}}|| {{center|'''Đường kính'''<br>[[30,4 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[15,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[13,5 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[14.340.000]]<hr>2.500.000<br>[[(98,0$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
|} | |||
==📕 LESOTHO== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Lesotho|VƯƠNG QUỐC LESOTHO]]<br>(1966 - Nay) <hr> [[Moshoeshoe I|Nhà Moshoeshoe]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Lesotho.svg|center|133px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of Lesotho.svg|center|96px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Moshoeshoe II của Lesotho|Vua Moshoeshoe II]]<br> (1966 - 1990)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị vua đầu tiên của Vương quốc Lesotho}} | |||
|- | |||
| [[File:50 Licente - Moshoeshoe II Independence 1966.png|center|700px]]<hr>{{center|'''50 Licente [[Moshoeshoe II của Lesotho|Moshoeshoe II]] - 1966<hr>59 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Moshoeshoe II van Lesotho.jpg|100px]]<br>1966<hr>'''[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[35,55 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[28,10 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[25,29 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[700.000]]<hr>1.250.000<br>[[(50,81$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==[[File:Bahrain flag map.png|60px]]📕 TIỂU QUỐC BAHRAIN== | |||
===Salman Al Khalifa=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Lịch sử Bahrain (1783–1971)|ANH BẢO HỘ BAHRAIN]] <br> (1783 - 1971) <hr> [[Nhà Khalifa]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Bahrain (1932–1972).svg|center|125px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of Arms of The Kingdom of Bahrain.svg|center|75px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Isa bin Salman Al Khalifa|Hakim Salman Al Khalifa]] <br>(1961 - 1971)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Hakim cuối cùng và Tiểu vương đầu tiên của Bahrain}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
| [[File:500 Fils of Bahrain, Isa bin Salman (Isa Town) - 1968.png|center|700px]]<hr>{{center|'''500 Fils [[Isa bin Salman Al Khalifa|Isa bin Salman]]_[[Isa Town|Kỷ niệm thành lập Isa Town]] - 1968<hr>57 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Isa bin Salman Al Khalifa 1998.jpg|100px]]<br>1968<hr>'''[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[34,5 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[80,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[18,3 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[14,64 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[50.000]]<hr>750.000<br>[[(30,49$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==[[File:Saudi Arabia-Flagmap.svg|80px]]📕 SAUDI ARABIA== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#ccf"|[[File:Royal Standard of Kingdom of Saudi Arabia.svg|70px]] | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|TRIỀU ĐẠI SAUD | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
Gia tộc này bao gồm hậu duệ của [[Muhammad bin Saud]], người sáng lập [[Tiểu vương quốc Diriyah]], được gọi là Triều đại Saudi đầu tiên (1727–1818), và những người anh em của ông, mặc dù phe cầm quyền của gia tộc này chủ yếu do hậu duệ của [[Ibn Saud]], người sáng lập hiện đại của Ả Rập Saudi, lãnh đạo. Gia tộc này tạo thành một phân bộ của bộ tộc [[Banu Hanifa]] cổ đại hơn và nổi tiếng hơn ở Ả Rập, mà nhà thần học Ả Rập nổi tiếng thế kỷ thứ VII là [[Musaylima|Maslama ibn Ḥabīb]] cũng đến từ bộ tộc này.<hr> | |||
Tổ tiên sớm nhất được ghi chép của Gia tộc Saud là [[Mani' ibn Rabi'a al-Muraydi]], người đã định cư tại Diriyah vào năm 1446–1447 cùng với bộ tộc Mrudah của mình. Người ta tin rằng Mrudah là hậu duệ của nhánh Banu Hanifa thuộc liên minh bộ lạc Rabi'ah lớn hơn. Banu Hanifa đóng vai trò quan trọng trong việc định hình Trung Đông và Ả Rập từ thế kỷ thứ VI. | |||
* Mani' được một người họ hàng tên là Ibn Dir mời đến Diriyah, người cai trị một nhóm làng mạc và điền trang tạo nên [[Riyadh]] ngày nay. Bộ lạc của Mani đã lưu trú ở phía đông Ả Rập, gần [[Al-Qatif]], từ một thời điểm không xác định. Ibn Dir đã trao cho Mani hai điền trang, được gọi là al-Mulaybeed và Ghusayba. Mani và gia đình ông định cư và đổi tên vùng này thành Al Diriyah theo tên ân nhân của họ là Ibn Dir. | |||
* Tên của Triều đại Saud được đặt theo tên của [[Saud bin Muhammad Al Muqrin]] (1640–1726). Hai thập kỷ sau khi ông mất, con trai ông là [[Muhammad bin Saud]] đã lập giao ước lịch sử với [[Muhammad ibn Abd al-Wahhab]], dẫn đến cuộc chinh phục Ả Rập và thành lập [[Tiểu vương quốc Diriyah|Nhà nước Saudi đầu tiên]]. Tên đệm của Sheikh Muhammad là "Ibn Saud" cuối cùng đã trở thành tên cho Triều đại Saud. | |||
<hr> | |||
Hiện nay, gia tộc này ước tính có khoảng 15.000 thành viên; tuy nhiên, phần lớn quyền lực, ảnh hưởng và của cải thuộc về một nhóm khoảng 2.000 người trong số họ. Một số ước tính về tài sản của gia đình hoàng gia đo được giá trị '''''tài sản ròng của họ là 1,4 nghìn tỷ USD'''''. Con số này bao gồm vốn hóa thị trường của [[Saudi Aramco]], công ty dầu khí nhà nước, và tài sản khổng lồ của họ trong trữ lượng nhiên liệu hóa thạch, '''''khiến họ trở thành gia tộc giàu có nhất thế giới và giàu nhất trong lịch sử loài người'''''.<hr> | |||
Triều đại Saud đã trải qua 4 giai đoạn: [[Sheikhdom xứ Diriyah]] (1446–1744); [[Tiểu vương quốc Diriyah]] (1727–1818), được đánh dấu bằng sự bành trướng của [[Phong trào Salafi]]; [[Tiểu vương quốc Nejd]] (1824–1891), được đánh dấu bằng sự đấu đá nội bộ liên tục; và nhà nước hiện tại (1902–nay), đã phát triển thành Vương quốc [[Ả Rập Saudi]] vào năm 1932 và hiện có ảnh hưởng đáng kể ở [[Trung Đông]].<hr> | |||
Gia tộc này đã có xung đột với [[Đế quốc Ottoman]], [[Sharif của Mecca]], [[Vương triều Rashid|gia tộc Al Rashid]] của [[Tiểu vương quốc Jabal Shammar]] và các gia tộc chư hầu của họ ở [[Najd]] cùng với nhiều nhóm Hồi giáo cả trong và ngoài Ả Rập Saudi và nhóm thiểu số Shia ở Ả Rập Saudi. | |||
|- | |||
! style="background:#ccf"|[[File:Flag of the Emirate of Riyadh (1902-1913).svg|70px]] | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|Triều đại Saudi I - Tiểu vương quốc Diriyyah | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
Nhà nước Saudi đầu tiên được thành lập vào năm 1727. Giai đoạn này được đánh dấu bằng cuộc chinh phạt các khu vực lân cận và lòng nhiệt thành tôn giáo. Vào thời kỳ đỉnh cao, Nhà nước Saudi đầu tiên bao gồm hầu hết lãnh thổ của Saudi Arabia ngày nay, và các cuộc đột kích của đồng minh và những người theo Nhà Saud đã lan đến [[Yemen]], [[Oman]], [[Syria]] và [[Iraq]]. | |||
Các học giả Hồi giáo, đặc biệt là [[Muhammad ibn Abd al-Wahhab]] và con cháu của ông, được cho là đã đóng một vai trò quan trọng trong sự cai trị của Saudi trong giai đoạn này. Người Saudi và các đồng minh của họ tự gọi mình trong giai đoạn này là Muwahhidun hoặc Ahl al-Tawhid ("những người theo thuyết độc thần"). Sau đó, họ được gọi là Wahhabi, một giáo phái Hồi giáo đặc biệt nghiêm khắc, thanh giáo, được đặt theo tên người sáng lập. | |||
Quyền lãnh đạo của Al Saud trong thời kỳ nhà nước đầu tiên của họ được truyền từ cha sang con mà không có sự cố nào. Imam đầu tiên, Muhammad bin Saud, được kế vị bởi con trai cả của ông là [[Abdulaziz bin Muhammad Al Saud|Abdulaziz]] vào năm 1765. Năm 1802, lực lượng của Abdulaziz đã chỉ huy 10.000 binh lính Wahhabi tấn công vào thành phố linh thiêng Karbala của [[Hồi giáo Shia|người Shi'ite]], hiện thuộc miền nam [[Iraq]] và là nơi chôn cất [[Hussein ibn Ali]], cháu trai của Nhà tiên tri [[Muhammad]]. Binh lính Wahhabi đã giết hơn 2.000 người, bao gồm cả phụ nữ và trẻ em. Họ cướp bóc thành phố, phá hủy mái vòm vàng khổng lồ phía trên lăng mộ của Hussein và chất hàng trăm con lạc đà với vũ khí, đồ trang sức, tiền xu và các hàng hóa có giá trị khác. | |||
Cuộc tấn công vào Karbala đã thuyết phục người Ottoman và người Ai Cập rằng triều đại Saudi là mối đe dọa đối với hòa bình khu vực. Abdulaziz đã bị giết vào năm 1803 bởi một sát thủ, một số người tin rằng đó là một người Shi'ite tìm cách trả thù vụ cướp phá Karbala vào năm trước. Abdulaziz được con trai của ông là [[Saud bin Abdulaziz Al Saud (1748–1814)|Saud bin Abdulaziz Al Saud]] kế vị, dưới sự cai trị của ông, nhà nước Saudi đã đạt đến mức độ lớn nhất. | |||
Vào thời điểm Saud bin Abdulaziz Al Saud qua đời vào năm 1814, con trai và người kế nhiệm của ông là [[Abdullah bin Saud Al Saud]] đã phải đối mặt với cuộc xâm lược của Ottoman-Ai Cập trong cuộc [[chiến tranh Wahhabi]] nhằm giành lại lãnh thổ đã mất của Đế chế Ottoman. Lực lượng chủ yếu là người Ai Cập đã thành công trong việc đánh bại lực lượng của Abdullah, chiếm thủ đô Diriyyah của Saudi vào năm 1818. Abdullah bị bắt làm tù binh và sớm bị người Ottoman chặt đầu tại [[Constantinople]], chấm dứt Nhà nước Saudi đầu tiên. Người Ai Cập đã gửi nhiều thành viên của gia tộc Saud và các thành viên khác của giới quý tộc địa phương làm tù nhân đến Ai Cập và Constantinople, và san bằng thủ đô Diriyyah của Saudi. | |||
|- | |||
! style="background:#ccf"|[[File:Flag of the Emirate of Riyadh (1902-1913).svg|70px]] | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|Triều đại Saudi II - Tiểu vương quốc Nejd | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
Người nhà Saudi đầu tiên cố gắng giành lại quyền lực sau khi [[Tiểu vương quốc Diriyah]] sụp đổ năm 1818 chính là Mishari bin Saud, em trai của người cai trị cuối cùng ở Diriyah, [[Abdullah bin Saud Al Saud]] nhưng ông đã sớm bị người Ai Cập bắt và giết. Năm 1824, [[Turki bin Abdullah Al Saud (1755–1834)|Turki bin Abdullah]], cháu trai của vị imam đầu tiên của Saudi là [[Muhammad bin Saud Al Muqrin]], người đã trốn thoát khỏi sự bắt giữ của người Ai Cập, đã có thể trục xuất lực lượng Ai Cập và các đồng minh địa phương của họ khỏi [[Riyadh]] và các vùng lân cận và thường được coi là người sáng lập ra triều đại Saudi thứ hai cũng như là tổ tiên của các vị vua của Ả Rập Saudi ngày nay. Ông đã lập đô tại Riyadh và có thể huy động sự phục vụ của nhiều người thân đã trốn thoát khỏi cảnh giam cầm ở Ai Cập, bao gồm cả con trai ông là [[Faisal bin Turki Al Saud (1785–1865)|Faisal bin Turki]]. | |||
Turki đã bị Mishari bin Abdul Rahman, một người anh em họ xa, ám sát vào năm 1834. Mishari sớm bị bao vây ở Riyadh và sau đó bị Faisal xử tử, người sau này trở thành người cai trị nổi bật nhất trong triều đại thứ hai của người Saudi. Tuy nhiên, Faisal phải đối mặt với cuộc xâm lược Najd do [[Muhammad Ali của Ai Cập|Mehmet Ali]] tổ chức. Người dân địa phương không muốn chống cự, và Faisal đã bị đánh bại và bị đưa đến Ai Cập làm tù nhân lần thứ hai vào năm 1838. | |||
Để khôi phục lại sự cân bằng và chống lại ảnh hưởng của Anh, Mehmet Ali đã chỉ đạo các phụ tá của mình trao quyền cho Faisal bin Turki, người đã bị giam cầm trong chiến dịch của mình ở Najd, tạo điều kiện cho ông trốn thoát khỏi Ai Cập. | |||
Faisal nhanh chóng loại bỏ đối thủ của mình và chiếm lại Riyadh, tiếp tục cai trị. Sau đó, ông bổ nhiệm con trai mình là [[Abdullah bin Faisal Al Saud (1831–1889)|Abdullah bin Faisal]] làm người thừa kế rõ ràng và chia lãnh thổ của mình cho ba người con trai là [[Abdullah bin Faisal Al Saud (1831–1889)|Abdullah]], [[Saud bin Faisal Al Saud (1833–1875)|Saud]] và Muhammad. Lần này, Faisal công nhận quyền tối cao của Ottoman và nộp cống nạp hàng năm, đổi lại ông được Ottoman công nhận là "người cai trị tất cả người Ả Rập". | |||
Tham vọng của Faisal vượt ra ngoài những vùng lãnh thổ này. Năm 1847, ông đã cố gắng can thiệp vào Bahrain. Năm 1851, Faisal đã giành được quyền thống trị tạm thời đối với Qatar, nơi trước đó nằm dưới sự kiểm soát của Bahrain. Ông đã đạt được thoả thuận với đại diện của Bahrain tại Qatar, theo đó Qatar sẽ chuyển 4.000 krone Đức hàng năm dưới dạng zakat cho Faisal và Faisal sẽ ko can thiệp vào các vấn đề của Qatar. | |||
Sau khi Faisal qua đời vào năm 1865, nhà nước bắt đầu suy yếu do thực tế là những người cai trị khác nhau, cụ thể là Abdullah, Saud, Abdul Rahman và các con trai của Saud, đã trở thành người đứng đầu nhà nước cho đến năm 1891. Cuộc đấu đá nội bộ Nhà Saud đã giúp [[Muhammad bin Abdullah Al Rashid]] tăng quyền lực, cuối cùng, ông đã trục xuất nhà lãnh đạo Saudi là Abdul Rahman bin Faisal, khỏi Najd sau Trận Mulayda năm 1891. | |||
|- | |||
! style="background:#ccf"|[[Tập tin:Flag of Saudi Arabia.svg|70px]] | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|Triều đại Saudi III - Saudi Arabia | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
Sau thất bại tại Mulayda, Abdul Rahman bin Faisal cùng gia đình lưu vong tại các sa mạc ở miền đông Ả Rập trong cộng đồng người du mục [[Al Murra]]. Tuy nhiên, ngay sau đó, ông đã tìm được nơi ẩn náu tại [[Kuwait]] với tư cách là khách của tiểu vương Kuwait là [[Mubarak Al-Sabah]]. | |||
Năm 1902, con trai của Abdul Rahman là Abdulaziz (được phương Tây gọi là [[Ibn Saud]]), đã đảm nhận nhiệm vụ khôi phục lại quyền cai trị của người Saud tại Riyadh. Được sự ủng hộ của vài chục người và một số anh em và họ hàng đi cùng, Abdulaziz đã chiếm được [[pháo đài Masmak]] của Riyadh và giết chết thống đốc được [[Muhammad bin Abdullah Al Rashid]] bổ nhiệm tại đó. Abdulaziz, được cho là mới chỉ 20 tuổi vào thời điểm đó, đã ngay lập tức được tuyên bố là người cai trị tại Riyadh. | |||
Ibn Saud đã dành ba thập kỷ tiếp theo để cố gắng tái lập quyền cai trị của gia tộc mình đối với miền trung Ả Rập, bắt đầu từ quê hương Najd của ông. Các đối thủ chính của ông là gia tộc Al Rashid ở Ha'il, [[Sharif của Mecca]] ở [[Hijaz]] và người Ottoman ở [[Al-Hasa]]. Abdulaziz cũng phải cạnh tranh với hậu duệ của người chú quá cố [[Saud bin Faisal Al Saud (1833–1875)|Saud ibn Faisal]] (sau này được gọi là nhánh "Saud Al Kabir" của gia tộc), những kẻ tuyên bố quyền thừa kế ngai vàng. | |||
Mặc dù trong một thời gian thừa nhận chủ quyền của các Sultan Ottoman và thậm chí còn lấy danh hiệu [[pasha]], Ibn Saud đã liên minh với người Anh, để chống lại Al Rashidis được Ottoman hậu thuẫn. Từ năm 1915 đến năm 1927, lãnh thổ của Abdulaziz là một vùng bảo hộ của Đế quốc Anh, theo [[Hiệp ước Darin]] năm 1915. | |||
Ibn Saud đã giành chiến thắng cuối cùng trước Al Rashidis vào năm 1921, khiến ông trở thành người cai trị hầu hết miền trung Ả Rập. Ông đã củng cố các lãnh địa của mình với tư cách là [[Vương quốc Nejd|Vương quốc Hồi giáo Nejd]]. Sau đó, ông chuyển sự chú ý của mình sang Hijaz, cuối cùng đã chinh phục được nơi này vào năm 1926, chỉ vài tháng trước khi chế độ bảo hộ của Anh kết thúc. | |||
Đến năm 1932, Ibn Saud đã loại bỏ tất cả các đối thủ chính của mình và củng cố quyền cai trị của mình trên phần lớn Bán đảo Ả Rập. Ông đã hợp nhất các lãnh thổ của mình thành Vương quốc Ả Rập Saudi vào năm đó. Cha của ông, Abdul Rahman, vẫn giữ danh hiệu danh dự là "imam". | |||
Năm 1937, gần [[Dammam]], các nhà khảo sát người Mỹ đã phát hiện ra trữ lượng dầu mỏ khổng lồ của Ả Rập Saudi. Trước khi phát hiện ra dầu mỏ, nhiều thành viên trong gia đình đã rất túng quẫn. | |||
Ibn Saud đã sinh hàng chục đứa con với nhiều người vợ của mình. Ông có nhiều nhất bốn người vợ cùng một lúc, đã ly hôn nhiều lần. Ông đã chắc chắn kết hôn với nhiều gia tộc và bộ lạc quý tộc trong lãnh thổ của mình, bao gồm cả các tù trưởng của các bộ lạc Bani Khalid, Ajman và Shammar, cũng như Al ash-Sheikh (hậu duệ của Muhammad ibn Abd al-Wahhab). | |||
Ibn Saud qua đời vào năm 1953, sau khi đã củng cố liên minh với Hoa Kỳ vào năm 1945. Ông vẫn được tôn vinh chính thức là "Người sáng lập", và chỉ những hậu duệ trực tiếp của ông mới được phong tước hiệu "Royal Highness". Ngày ông giành lại Riyadh vào năm 1902 được chọn để kỷ niệm 100 năm thành lập Ả Rập Xê Út vào năm 1999 (theo lịch âm Hồi giáo). | |||
Sau khi Ibn Saud qua đời, con trai ông là Saud lên ngôi mà không có sự cố nào, nhưng việc chi tiêu xa hoa của ông đã dẫn đến cuộc tranh giành quyền lực với em trai mình, Thái tử Faisal. Năm 1964, hoàng gia đã buộc Saud thoái vị để ủng hộ Faisal, với sự hỗ trợ của một sắc lệnh từ đại giáo sĩ của đất nước. | |||
Faisal bị ám sát vào năm 1975 bởi một người cháu trai, [[Faisal bin Musaid Al Saud|Faisal bin Musaid]], người đã bị hành quyết ngay lập tức. Một người em trai khác là [[Khalid của Ả Rập Xê Út|Khalid]], đã lên ngôi. Người thừa kế tiếp theo trong danh sách thực sự là [[Muhammad bin Abdulaziz Al Saud|Muhammad]], nhưng ông đã từ bỏ quyền thừa kế ngai vàng để ủng hộ Khalid, người em trai cùng cha khác mẹ duy nhất của mình. | |||
Khalid qua đời vì một cơn đau tim vào năm 1982, và được kế vị bởi [[Fahd của Ả Rập Xê Út|Fahd]], người lớn tuổi nhất trong "[[Bảy Sudairi]]" hùng mạnh, được gọi như vậy vì tất cả họ đều là con trai của Ibn Saud với vợ là [[Hussa bint Ahmed Al Sudairi|Hassa Al Sudairi]]. Fahd đã xóa bỏ danh hiệu hoàng gia trước đây là "Majesty" và thay thế bằng danh hiệu danh dự "Người bảo vệ Hai Thánh đường Hồi giáo", ám chỉ đến hai thánh địa Hồi giáo ở [[Mecca]] và [[Medina]], vào năm 1986. | |||
Một cơn đột quỵ vào năm 1995 đã khiến Fahd gần như mất khả năng cai trị. Người em cùng cha khác mẹ của ông là [[Abdullah của Ả Rập Xê Út|Abdullah]], dần dần tiếp quản hầu hết các trách nhiệm của nhà vua cho đến khi Fahd qua đời vào tháng 8 năm 2005. Abdullah được tuyên bố là vua vào ngày Fahd qua đời và ngay lập tức bổ nhiệm em trai mình, [[Sultan bin Abdul-Aziz Al Saud|Sultan bin Abdulaziz]], làm người thừa kế mới. | |||
Sultan bin Abdulaziz qua đời vào tháng 10 năm 2011 trong khi [[Nayef bin Abdulaziz]] qua đời tại Geneva, Thụy Sĩ vào ngày 15 tháng 6 năm 2012. Vào ngày 23 tháng 1 năm 2015, Abdullah qua đời sau một thời gian dài lâm bệnh, và người em cùng cha khác mẹ của ông là [[Salman của Ả Rập Xê Út|Salman]], được tuyên bố là vua mới. | |||
Nhiều vương tử và quan chức chính phủ đã bị bắt vào năm 2017 trong một chiến dịch chống tham nhũng bị cáo buộc của nhà vua và vương tử [[Mohammed bin Salman]]. Tổng thống Hoa Kỳ khi đó là [[Donald Trump]] đã bày tỏ sự ủng hộ đối với các vụ bắt giữ. | |||
Tính từ vị vua đầu tiên của Saudi Arabia là [[Ibn Saud]] cho đế nay, Nhà Saud đã có 7 vị quân chủ, nhưng 6 vị vua sau Ibn Saud đều là con trai của ông, gồm có: [[Saud của Ả Rập Xê Út|Saud]] (1953-1964); [[Faisal của Ả Rập Xê Út|Faisal]] (1964-1975); [[Khalid của Ả Rập Xê Út|Khalid]] (1975-1982); [[Fahd của Ả Rập Xê Út|Fahd]] (1982-2005); [[Abdullah của Ả Rập Xê Út|Abdullah]] (2005-2015) và [[Salman của Ả Rập Xê Út|Salman]] (2015-Nay). Tuy nhiên, người thừa kế ngai vàng hiện tại chính là con trai trưởng của Vua Salman, Thái tử [[Mohammad bin Salman]], điều này đã chính thức phá bỏ quy định tất cả con trai của vị vua đầu tiên sẽ tiếp nối nhau thừa kế ngai vàng, sau đó mới đến con cháu của họ. | |||
|} | |||
===Ibn Saud=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Ả Rập Xê Út|VƯƠNG QUỐC Ả RẬP SAUDI]]<br>(1932 - Nay)<hr>[[Nhà Saud]]<br>(1727 - Nay)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Saudi Arabia.svg|center|165px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Emblem of Saudi Arabia.svg|center|100px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Ibn Saud|Quốc vương Ibn Saud]] <br>(1932 - 1953)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị vua đầu tiên của Ả Rập Saudi}} | |||
|- | |||
| [[File:1 Riyal - Abd al-Azīz Saudi Arabia 1935.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 Riyal [[Ibn Saud]] - 1935<hr>90 năm (2025)'''}}||{{center|[[Tập tin:Ibn Saud.png|120px]]<br>1935<hr>'''[[MS|UNC]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[30,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[91,67%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[11,6 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[10,63372 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[60.000.000]]<hr>550.000<br>[[(23,40$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==📕 VƯƠNG QUỐC IRAQ [[CHƯA MUA]] == | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#ccf"|[[File:Mecca (Ottoman Empire).svg|100px]] | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|[[Nhà Hashemite|Triều đại Hashemite]] | |||
|- | |||
|style="background:LemonChiffon;"| | |||
[[Hashemit|Nhà Hashemit]] còn gọi là Nhà Hashim, là vương tộc hiện đang trị vì [[Jordan|Vương quốc Jordan]], họ đã cai trị từ năm 1921, và là vương tộc cai trị các vương quốc trong lịch sử như [[Vương quốc Hejaz|Hejaz]] (1916–1925), [[Vương quốc Ả Rập Syria]] (1920) và [[Vương quốc Iraq]] (1921–1958). Gia tộc này đã cai trị [[Lãnh địa Sharif Mecca]] (Tiểu vương quốc Mecca) liên tục từ thế kỷ thứ X, thường là chư hầu của các thế lực bên ngoài.<hr> | |||
'''''Người nhà Hashim tự xem mình là hậu duệ của [[Hashim ibn Abd Manaf]], ông cố của [[Tiên tri và sứ giả trong Hồi giáo|nhà tiên tri Hồi giáo]] [[Muhammad]] và tên của triều đại Hashemit được đặt theo tên của ông tổ này'''''. Những người nắm quyền [[Sharif của Mecca]] (là hậu duệ trực tiếp của gia đình hoàng gia Hashemite), bao gồm cả tổ tiên của Hashemite là [[Qatada ibn Idris]], là [[Zaydī]] một trong 3 nhánh chính của [[Hồi giáo Shia]] cho đến cuối thời kỳ Mamluk hoặc đầu thời kỳ Ottoman, khi họ trở thành những người theo [[trường phái Shāfiʿī]] của [[Hồi giáo Sunni]].<hr> | |||
Theo các nhà sử học [[Ibn Khaldun]] và [[Ibn Hazm]], vào khoảng năm 968, [[Ja'far ibn Muhammad al-Hasani]] đến từ [[Medina]] và chinh phục [[Mecca]] dưới danh nghĩa của caliph [[Nhà Fatimid]] là [[Al-Muizz Lideenillah]], sau khi Fatimid [[Cuộc chinh phục Ai Cập của Fatimid|chinh phục Ai Cập]] từ [[Nhà Ikhshid]]. Jafar xuất thân từ gia tộc [[Banu Hashim]] rộng lớn hơn, mặc dù là một nhánh khác với triều đại hiện đại. Gia tộc Banu Hashim tuyên bố rằng họ có nguồn gốc từ [[Hashim ibn Abd Manaf]] (mất khoảng năm 497 CN), ông cố của [[Muhammad]], mặc dù định nghĩa ngày nay chủ yếu đề cập đến hậu duệ của con gái út Muhammad là [[Fatimah]].<hr> | |||
Quyền kiểm soát Mecca vẫn thuộc về gia tộc; khi người Ottoman nắm quyền kiểm soát Ai Cập vào năm 1517, Sharif Barakat nhanh chóng nhận ra sự thay đổi về chủ quyền, cử con trai mình là [[Abu Numayy II]] đến gặp vua Ottoman [[Selim I]] ở [[Cairo]], mang theo chìa khóa của các thành phố linh thiêng và những món quà khác. Sultan của Ottoman đã xác nhận Barakat và Abu Numayy ở vị trí đồng cai trị Hejaz.<hr> | |||
Triều đại hiện tại được thành lập bởi [[Hussein bin Ali, Vua của Hejaz|Sharif Hussein ibn Ali]]. Ông thuộc về gia tộc Dhawu Awn của Abadilah, một nhánh của bộ tộc [[Banu Qatadah]]. Banu Qatadah đã cai trị Sharif của Mecca kể từ khi tổ tiên của họ là [[Qatadah ibn Idris]] lên ngôi vào năm 1201 và là nhánh cuối cùng trong 4 nhánh của sharif Hashemite, những người cùng nhau cai trị Mecca kể từ thế kỷ 11. Ông được Sultan '''''[[Abdul Hamid II|Abdul Hamid II của Ottoman]]''''' bổ nhiệm làm [[Lãnh địa Sharif Mecca|Sharif và Tiểu vương của Mecca]] vào năm 1908, sau đó vào năm 1916—sau khi ký kết một thỏa thuận bí mật với [[Đế quốc Anh]]—được tuyên bố là Vua của các nước Ả Rập (nhưng chỉ được công nhận là Vua của Hejaz) sau khi phát động [[Cuộc nổi dậy Ả Rập|cuộc nổi dậy của người Ả Rập]] chống lại [[Đế quốc Ottoman]]. Các con trai của ông là [[Abdullah I của Jordan|Abdullah]] và [[Faisal I của Iraq|Faisal]] lên ngôi vua Jordan và Iraq vào năm 1921, và con trai cả của ông là [[Ali bin Hussein, Vua của Hejaz|Ali]] kế vị ông làm vua của Hejaz vào năm 1924. Sự sắp xếp này được gọi là "[[giải pháp Sharifian]]".<hr> | |||
Triều đại Hashemit hiện đại được lập ra bởi [[Hussein bin Ali, Vua của Hejaz|Sharif Hussein ibn Ali]] gồm có 3 nhánh và hiện chỉ còn lại nhánh Jordan là vẫn giữ được vương quyền: | |||
* '''Nhánh Hashemit-Jordan:''' với [[Abdullah I của Jordan|Abdullah]] là vị vua đầu tiên, ông tại vị từ năm 1921 cho đến khi bị ám sát vào năm 1951, con trai của ông là [[Talal của Jordan|Thái tử Talal]] lên kế vị, nhưng chỉ được 6 tháng thì thoái vị vì sức khoẻ tinh thần, ngai vàng được nhường lại cho con trai mới 16 tuổi là '''''[[Hussein của Jordan|Thái tử Hussein]]'''', ông tại vị trong hơn 46 năm và qua đời vào năm 1999, ngai vàng được nhường lại cho con trai [[Abdullah II của Jordan|Abdullah II]] là đương kiêm quốc vương của Jordan. | |||
* '''Nhánh Hashemit-Hejaz:''' với người con trai trưởng của Hussein ibn Ali là [[Ali bin Hussein, Vua của Hejaz|Ali bin Hussein]] trở thành vua của [[Vương quốc Hejaz]], nhưng chỉ tại vị được trong một thời gian ngắn thì bị [[Ibn Saud]], vua của [[Vương quốc Hejaz và Nejd|Vương quốc Nejd]] lật đổ sau khi người Anh rút lại sự ủng hộ của họ đối với Hussein vào năm 1924–1925, Ibn Saud đã bổ nhiệm con trai mình là [[Faisal của Ả Rập Xê Út|Faysal bin Abdulaziz Al Saud]], làm thống đốc. Khu vực này sau đó được sáp nhập vào [[Ả Rập Saudi]]. | |||
* '''Nhánh Heshemit-Iraq:''' do [[Faisal I của Iraq|Faisal]] làm vua của [[Vương quốc Iraq]]. Ông qua đời vì một cơn đau tim vào năm 1933 tại Bern, Thụy Sĩ, ở tuổi 48 và người kế vị ông là con trai cả [[Ghazi I|Thái tử Ghazi]], lên ngôi với vương hiệu Ghazi I, tại vị được 6 năm thì qua đời do một tai nạn xe vào năm 1939. Ngai vàng được thừa kế bởi con trai của ông là [[Faisal II|Thái tử Faisal]] với vương hiệu Faisal II, ông tại vị được 19 năm thì lật đổ và bị hành quyết trong [[Cách mạng 14 tháng 7|cuộc đảo chính Iraq năm 1958]]. | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đế quốc Anh|ĐẾ CHẾ ANH]] <hr> [[Vương quốc Iraq dưới sự uỷ trị của Anh]]<br> (1921 - 1932)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Iraq (1924–1959).svg|center|120px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of the Kingdom of Iraq (1921–1958).svg|center|75px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Faisal I của Iraq|Vua Faisa I]] <br>(1921 - 1933)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị vua duy nhất của Ả Rập Syria và đầu tiên của Iraq đến từ Nhà Hashemite}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 Riyal - Faisal I of Iraq 1932.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 Riyal [[Faisal I của Iraq|Faisa I]] - 1932<hr>92 năm (2024)'''}}||{{center|[[Tập tin:1307109799 king-faisal-i-of-iraq-kopiya (cropped).jpg|120px]]<br>1932<hr>'''[[AU]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[34,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[50,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[20,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[10,0 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[500.000]]<hr>3.542.000<br>[[(139,45$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==📕 VƯƠNG QUỐC JORDAN== | |||
===Hussein của Jordan=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Jordan|VƯƠNG QUỐC HASHEMITE JORDAN]]<br>(1921 - Nay) <hr> [[Hashemit|Nhà Hashemit]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Jordan.svg|center|125px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of Jordan.svg|center|65px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Hussein của Jordan|Quốc vương Hussein]] <br>(1952 - 1999)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị Vua thứ 3 của Jordan đến từ Nhà Hashemites}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:2½ Dinars - Hussein of Jordan 1977.png|center|700px]]<hr>{{center|'''2½ Dinar [[Hussein của Jordan]] - 1977<hr>48 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Hussein of Jordan in 1997.jpg|120px]]<br>1977<hr>'''[[MS|MS-70]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[38,6 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[92,5%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[28,28 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[26,159 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[5.011]]<hr>1.500.000<br>[[(59,06$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
|} | |||
==☸️ HỒI QUỐC MOROCCO== | |||
===Abd al-Hafid (19)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Ma Rốc|HỒI QUỐC MA RỐC]]<br>(1631 - 1957) <hr> [[Triều đại 'Alawi|Nhà 'Alawi]]'''}}||colspan="2"|{{center|[[File:Flag of Morocco (1666–1915).svg|center|130px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Abd al-Hafid của Ma Rốc|Quốc vương Abd al-Hafid]]<br> (1909 - 1912)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị quân chủ thứ 19 của Maroc thuộc Nhà 'Alawi}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:10 Dirhams Abd al-Hafiz of Morocco 1911-AU.png|center|700px]]<hr>{{center|'''10 Dirhams [[Abd al-Hafid của Ma Rốc|Abd al-Hafid]] - 1911<hr>114 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:السلطان عبد الحفيظ.jpg|120px]]<br>1911<hr>'''[[AU]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[37,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[25,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[22,5 gr]] <hr>'''Số lượng'''<br>[[10.093.866]]<hr>1.806.000<br>[[(76,20$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==☸️ PHÁP BẢO HỘ MOROCCO== | |||
===Yusef (20)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Pháp bảo hộ Maroc|PHÁP BẢO HỘ MAROC]]<br>(1912 - 1956)<hr> [[Triều đại 'Alawi|Nhà 'Alawi]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Merchant flag of French Morocco.svg|center|130px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of Morocco (Protectorate).svg|center|55px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Yusef của Maroc|Quốc vương Yusef]] <br>(1912 - 1927)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị quân chủ thứ 20 của Maroc thuộc Nhà 'Alawi}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|[[File:10 Dirham-1 Rial Yusef of Morocco - 1918 AU.png|center|700px]]<hr>{{center|'''10 Dirham/1 Rial [[Yusef của Maroc|Yusef]] - 1918<hr>107 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Yusef of Morocco 1920.jpg|120px]]<br>'''1913 - 1918<hr>[[AU|AU-cleaned]]'''}} || style="background:#ceb"colspan="1"|{{center|'''Đường kính'''<br>[[37,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[25,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[22,5 gr]] <hr>'''Số lượng'''<br>[[2.685.555]]<hr>4.225.000<br>[[(161,43$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
# Đồng xu chỉ được đúc trong 2 năm 1913 và 1918 với tổng số lượng đúc '''6.903.104''' xu, tương đương với 69.031.040 dirham, trong đó số lượng đúc năm 1913 là '''4.217.549''' (61,1%) và năm 1918 là '''2.685.555''' (38,9%). | |||
==☸️ VƯƠNG QUỐC MOROCCO== | |||
===Hassan II (30)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Ma Rốc|VƯƠNG QUỐC MA RỐC]]<br>(1957 - Nay) <hr> [[Triều đại 'Alawi|Nhà 'Alawi]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Morocco (large stroke).svg|center|130px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of Morocco.svg|center|85px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Hassan II của Maroc|Vua Hassan II]]<br> (1961 - 1999)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị quân chủ thứ 30 và vị Vua thứ 2 của Maroc thuộc Nhà 'Alawi}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:5 Dirhams - Hassan II 1st portrait 1965.png|center|700px]]<hr>{{center|'''5 Dirhams [[Hassan II của Maroc|Hassan II]] - 1965<hr>60 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:السلطان عبد الحفيظ.jpg|120px]]<br>'''1965<hr>[[AU]]<br>[[(Xu tiêu dùng)]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[29,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[72,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[11,75 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[8,46 gr]] <hr>'''Số lượng'''<br>[[2.000.000]]<hr>400.000<br>[[(17,24$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
Từ năm 1631–1957, quân chủ Ma Rốc xưng '''Sultan''', từ năm 1957 đến nay xưng là '''King'''. Tính đến vị quân chủ hiện tại, triều đại 'Alawi chỉ có 3 vị quân chủ xưng "King". | |||
==🟢 PHÓ VƯƠNG AI CẬP == | |||
===Abbas II=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Phó vương Ai Cập|PHÓ VƯƠNG QUỐC AI CẬP THUỘC OTTOMAN]]<br>(1867 - 1914)<hr>[[Nhà Muhammad Ali|Triều đại Muhammad Ali]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag Sultanate of Egypt (1882-1922).png|center|125px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of the Khedive of Egypt.svg|center|55px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Abbas II của Ai Cập|Phó vương Abbas II]]<br> (1892 - 1914)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị quân chủ thứ 8 đến từ Nhà Muhammad Ali và là Phó vương chính thức thứ 2 của Ai Cập}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
| [[File:20 qirsh of Egypt - Abbas II (Abdul Hamid II) - 1905.png|center|700px]]<hr>{{center|'''20 qirsh [[Abbas II của Ai Cập|Abbas II]]_([[Abdul Hamid II]]) - 1905<hr>120 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Abbas Helmi II (military).JPG|120px]]<br>1885 - 1907<hr>'''[[XF]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[40,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[83,3%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[28,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[23,324 gr]] <hr>'''Số lượng'''<br>[[250.000]]<hr>2.000.000<br>[[(85,84$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==🟢 HỒI QUỐC AI CẬP== | |||
===Hussein Kamel=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Vương quốc Hồi giáo Ai Cập|VƯƠNG QUỐC HỒI GIÁO AI CẬP THUỘC ANH]]<br>(1914 - 1922)<hr>[[Nhà Muhammad Ali|Triều đại Muhammad Ali]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag Sultanate of Egypt (1882-1922).png|center|122px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of Arms of the Sultan of Egypt.svg|center|58px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Hussein Kamel của Ai Cập|Quốc vương Hussein Kamel]] <br>(1914 - 1917)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị quân chủ thứ 9 của Nhà Muhammad Ali & Sultan đầu tiên của Ai Cập}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:20 Qirsh Hussein Kamel 1916.png|center|700px]]<hr>{{center|'''20 qirsh [[Hussein Kamel của Ai Cập|Hussein Kamel]] - 1916<hr>109 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:HusseinKamelSultan.jpg|100px]]<br>'''1916 - 1917<hr>[[AU]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[39,9 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[83,3%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[28,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[23,324 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[1.500.000]]<hr>1.980.000<br>[[(85,71$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==🟢 VƯƠNG QUỐC AI CẬP== | |||
===Farouk=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Vương quốc Ai Cập|VƯƠNG QUỐC AI CẬP THUỘC ANH]]<br>(1922 - 1953) <hr>[[Nhà Muhammad Ali|Triều đại Muhammad Ali]]'''}}'''||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Egypt (1922–1953).svg|center|130px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of Egypt (1922–1953).svg|center|60px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Farouk của Ai Cập|Vua Farouk]] <br>(1936 - 1952)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị quân chủ thứ 11 và áp chót của Nhà Muhammad Ali & Vị vua thứ 2 của Ai Cập}} | |||
|- | |||
| [[File:10 Qirsh Farouk of Egypt - 1939.png|center|700px]]<hr>{{center|'''10 Qirsh [[Farouk của Ai Cập|Farouk]] - 1939<hr>86 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Farouk-King-.jpg|120px]]<br>'''1937 - 1939<hr>[[XF]]'''}}|| {{center|'''Đường kính'''<br>[[33,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[83,3%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[14,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[11,662 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[2.850.000]] <hr>580.000<br>[[(24,89$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==🏧 VƯƠNG QUỐC YEMEN ([[không mua được]])== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Vương quốc Yemen|VƯƠNG QUỐC MUTAWAKKILITE - YEMEN]]<br>(1918 - 1962)<hr> [[Triều đại Rassid|Nhà Rassid]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of the Mutawakkilite Kingdom of Yemen.svg|center|150px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of Yemen 1962.svg|center|77px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Yahya Muhammad Hamid ed-Din|Quốc vương Yahya Muhammad Hamid ed-Din]] <br>(1918 - 1948)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị quân chủ đầu tiên của Yemen đến từ Nhà Rassid}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|- | |||
|[[File:1 Riyal - Yahya of Yemen 1926.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 Riyal [[Yahya Muhammad Hamid ed-Din|Yahya Muhammad]] - 1926<hr>99 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Imam yahya cropped.png|120px]]<br>'''1924 - 1946<hr>[[AU]]'''}} ||{{center|'''Đường kính'''<br>[[39,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[?%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[28,07 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[? gr]] <hr>'''Số lượng'''<br>[[93%]]<hr>7.023.000<br>([[274,60$]])}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#fbd"|Yahya Muhammad Hamid ed-Din | |||
|- | |||
|style="background:LemonChiffon;"| | |||
Ông là vị vua đầu tiên của [[Vương quốc Yemen|Vương quốc Mutawakkilite của Yemen]] từ năm 1918 cho đến khi bị ám sát năm 1948. Ông trở thành [[Imam]] của [[Zaydis]], một nhánh của [[Hồi giáo Shia]], vào năm 1904 sau cái chết của cha mình là [[Muhammad bin Yahya Hamid ad-Din|Muhammad Al-Mansur]], và [[Imam của Yemen]] vào năm 1918. | |||
Ông thuộc nhánh Hamidaddin của [[Triều đại Rassid|triều đại al-Qasimi]], gia tộc này đã cai trị hầu hết Yemen và khu vực phía nam của [[Ả Rập Xê Út]] ngày nay trong hơn 900 năm. Khi Yahya trở thành Imam, ông thực sự cai trị các vùng núi của nơi sẽ là Bắc Yemen. Tuy nhiên, [[Đế quốc Ottoman]] tuyên bố chủ quyền trong khu vực này đã không công nhận sự cai trị của các Imam Yemen kể từ khi họ tiến vào khu vực này. Ông đã dành những năm đầu trị vì của mình để cố gắng trục xuất sự hiện diện của Ottoman, và họ chỉ rút đi sau khi họ bị đánh bại trong [[Thế chiến thứ nhất]]. | |||
Là một người theo chủ nghĩa biệt lập kiên định, Imam Yahya chưa bao giờ đi ra khỏi Yemen và được cho là chưa bao giờ rời khỏi vùng cao nguyên Sanaa hoặc nhìn thấy [[Biển Đỏ]] trên bờ biển vương quốc của mình. | |||
Biên niên sử Do Thái ca ngợi ông rất nhiều và mô tả ông là người đề cao công lý và lòng trắc ẩn. Imam Yahya được [[người Do Thái]] ở Yemen ngưỡng mộ, họ coi ông là người bảo trợ và bảo vệ của họ. Tuy nhà vua đã ra lệnh cấm người Do Thái di cư khỏi Sanaa, nhưng ông lại không có bất cứ hành động nào ép buộc, sắc lệnh ông ban hành chỉ để làm đẹp lòng những người không ưa Do Thái. Trong suốt đầu những năm 1940, Imam Yahya đã làm ngơ trước tình trạng người Do Thái di cư, không cấm cũng không chính thức cho phép, mà thay vào đó, ông ngầm đồng ý cho người Do Thái rời khỏi Sana'a và các khu định cư khác ở miền trung Yemen. | |||
Trong một chuyến đi ngắn ra khỏi vùng ngoại vi của Sana'a vào ngày 17 tháng 2 năm 1948, chiếc xe limousine của Imam đã bị một sát thủ phục kích, trong đó Imam Yahya và cháu trai của ông đã bị bắn chết, trong vụ đảo chính được gọi là [[Đảo chính Al-Waziri|al-Waziri]]. Kẻ ám sát, được gọi là [[Ali Nasser Al-Qardaei]], đến từ [[Murad (bộ tộc)|bộ tộc Murad]]. | |||
Tin tức này đã gây chấn động cả [[Liên đoàn Ả Rập]] và tất cả các chính phủ Hồi giáo. Vua [[Abdullah I của Jordan]] đã so sánh cái chết của ông với cái chết của Caliph thứ ba [[Othman bin Affan]]. Cả Vua [[Ibn Saud|Abdulaziz Ibn Saud]] của Ả Rập Xê Út và Abdullah của Jordan đều ủng hộ Imam Ahmad (con trai trưởng của Imam Yahya), và là những nhà lãnh đạo đầu tiên tuyên bố ông là Nguyên thủ quốc gia mới. | |||
|} | |||
==🏧 Ả RẬP YEMEN== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Cộng hòa Ả Rập Yemen|CỘNG HÒA Ả RẬP YEMEN (BẮC YEMEN)]]<br>(1962 - 1990) <hr> [[Cộng hòa Hồi giáo]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of the Yemen Arab Republic.svg|center|130px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of Yemen Arab Republic (1974–1990).svg|center|110px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Abdullah al-Sallal|Tổng thống Abdullah al-Sallal]]<br> (1962 - 1967)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Tổng thống đầu tiên của Ả Rập Yemen}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 Rial of Northern Yemen 1963.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 Rial [[Cộng hòa Ả Rập Yemen]] - 1963<hr>62 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Abdullah as-Sallal (1963).jpg|120px]]<br>1963<hr>'''[[AU]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[40,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[72,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[20,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[14,4 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br> [[2.445.000]]<hr> 1.150.000<br>[[(45,0$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==📕 VƯƠNG QUỐC HUNGARY== | |||
===Miklós Horthy=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Vương quốc Hungary (1920–1946)|VƯƠNG QUỐC HUNGARY]] <br> (1920 - 1946) <HR> Chế độ Nhiếp chính'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Hungary.svg|center|140px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of Hungary (1915-1918, 1919-1946; angels).svg|center|110px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Miklós Horthy|Nhiếp chính vương Miklós Horthy]] <br>(1920 - 1944)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Phó vương duy nhất của Vương quốc Hungary trong giai đoạn 1920-1946}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:5 Pengő - Miklós Horthy Regency 1930.png|center|700px]]<hr>{{center|'''5 Pengő_[[Miklós Horthy|10 năm Miklós Horthy trở thành Nhiếp chính]] (1920-1930)<hr>95 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Horthy the regent.jpg|120px]]<br>1930<hr>'''[[MS]]'''}}|| {{center|'''Đường kính'''<br>[[36,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[64,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[25,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[16,0 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[3.650.000]]<hr>1.050.000<br>[[(44,30$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:5 Pengő - Miklós Horthy Death of St. Stephen 1938.png|center|700px]]<hr>{{center|'''5 Pengő_[[István I của Hungary|Kỷ niệm 900 năm ngày mất của Thánh Stephen]] (1038-1938)<hr>87 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Horthy the regent.jpg|120px]]<br>1938<hr>'''[[MS]]'''}}|| {{center|'''Đường kính'''<br>[[36,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[64,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[25,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[16,0 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[600.000]]<hr>1.050.000<br>[[(44,30$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==📕 CHND MÔNG CỔ== | |||
===Peljidiin Genden=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Cộng hòa Nhân dân Mông Cổ|CỘNG HÒA NHÂN DÂN MÔNG CỔ]] <br> (1924 - 1992) <hr> [[Hệ thống xã hội chủ nghĩa|Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[Tập tin:Flag of Mongolia (1924–1940).svg|center|130px]]}}||colspan="1"|{{center|[[Tập tin:State emblem of the People's republic of Mongolia (1960–1992).svg|center|78px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Peljidiin Genden|Chủ tịch Peljidiin Genden]] <br>(1924 - 1927)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Nguyên thủ quốc gia thứ 3 của CHND Mông Cổ}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 Tögrög of Mongolia 1925.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 Tögrög [[Cộng hòa Nhân dân Mông Cổ|CHND Mông Cổ]] - 1925<hr>100 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Genden.jpg|120px]]<br>'''1925 <hr>[[MS|UNC]]'''}}|| style="background:#ceb"colspan="1"|{{center|'''Đường kính'''<br>[[34,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[19,9957 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[17,99613 gr]] <hr>'''Số lượng'''<br>[[400.000]]<hr>4.200.000<br>[[(165,35$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==📕 GUATEMALA== | |||
===Rafael Carrera=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Guatemala|CỘNG HÒA GUATEMALA]] <br> (1823 - Nay) <hr> [[Cộng hòa tổng thống]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Guatemala.svg|center|135px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of Guatemala.svg|center|95px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Rafael Carrera|Tổng thống Rafael Carrera]] <br>(1851 - 1865)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Tổng thống thứ 4 của Guatemala}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 peso Rafael Carrera - 1864 R.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 peso [[Rafael Carrera]] - 1864 R<hr>161 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Carrerayturcios 2014-06-22 09-46.jpg|120px]]<br>'''1864 - 1894<hr>[[XF]]'''}}|| {{center|'''Đường kính'''<br>[[37,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90,3%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,381 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[47%]]<hr>1.750.000<br>[[(75,76$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
===Manuel Barillas=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Guatemala|CỘNG HÒA GUATEMALA]] <br> (1823 - Nay) <hr> [[Cộng hòa tổng thống]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Guatemala.svg|center|135px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of Guatemala.svg|center|95px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Manuel Barillas|Tổng thống Manuel Barillas]] <br>(1886 - 1892)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Tổng thống thứ 14 của Guatemala}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 peso of Guatemala (Counter-stamped coinage) - 1891 TF.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 peso [[Counter-stamped coinage]] - 1891 TF<hr>134 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Barillas.jpg|120px]]<br>1864 - 1894<hr>'''[[AU]]'''}}|| {{center|'''Đường kính'''<br>[[37,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[25,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[22,5 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[?%]]<hr>2.160.000<hr>[[(93,51$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==📕 PERU== | |||
===José Balta=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Peru|CỘNG HÒA PERU]] <br> (1821 - Nay) <hr> [[Cộng hòa tổng thống]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Peru.svg|center|132px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Escudo nacional del Perú.svg|center|73px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|'''{{center|[[José Balta|Tổng thống José Balta]] <br>(1868 - 1872)}}''' | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Tổng thống thứ 18 của Peru}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 Sol of Peru 1870.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 sol [[Peru]] - 1870 YJ<hr>155 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Senor Don Jose Balta (14243136573).jpg|100px]]<br>'''1864 - 1916<hr>[[MS|UNC]]'''}}|| {{center|'''Đường kính'''<br>[[37,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[25,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[22,5 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[7%]]<hr>1.300.000<br>[[(55,79$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
===Óscar R. Benavides=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Peru|CỘNG HÒA PERU]] <br> (1821 - Nay) <hr> [[Cộng hòa tổng thống]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Peru.svg|center|132px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Escudo nacional del Perú.svg|center|73px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|'''{{center|[[Óscar R. Benavides|Tổng thống Óscar R. Benavides]]<br> (1933 - 1939)}}''' | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Tổng thống thứ 42 của Peru}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:Un Sol of Peru 1934.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 sol [[Peru]] - 1934<hr>91 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Óscar Benavides.jpg|120px]]<br>1923 - 1935}}|| {{center|'''Đường kính'''<br>[[37,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[50%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[25,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[12,5 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[2.855.000]]<hr>850.000<br>[[(36,48$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==📕 VENEZUELA== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Venezuela|CỘNG HOÀ BOLIVARIANA VENEZUELA]]<br> (1811 - Nay) <Hr>Cộng hòa Tổng thống Liên bang'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Venezuela.svg|center|140px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of Venezuela.svg|center|85px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Juan Vicente Gómez|Tổng thống Juan Vicente Gómez]] <br>(1922 - 1929)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Tổng thống thứ 25 của Venezuela}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:5 Bolivar Simón Bolívar - 1929.png|center|700px]]<hr>{{center|'''5 Bolivar_[[Simón Bolívar]] - 1929<hr>96 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Foto Juan Vicente Gómez.jpg|120px]]<br>'''1879 - 1936<hr>[[AU]]'''}}|| {{center|'''Đường kính'''<br>[[37,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[25,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[22,5 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[800.000]]<hr>1.050.000<br>[[(40,06$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
* Phía trái là cành ô-liu, phía phải là cành cọ. <hr> | |||
* Phía dưới tấm khiên là con ngựa trắng Palomo của Simón Bolívar, tượng trương cho độc lập và tự do.<hr> | |||
* Ô phía trái trên tấm khiên là bó lúa mì tượng trưng cho sự hợp nhấ của 20 bang của Venezuela.<ht> | |||
* Phía trên tấm khiên là 2 cornucopia (chiếc sứng dồi dào) đan chéo nhau, đổ ra của cải... tượng trưng cho sự giàu có. | |||
==📕 CỘNG HOÀ DOMINICAN== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Cộng hòa Dominica|CỘNG HOÀ DOMINICA]]<br> (1844 - Nay) <Hr>Đệ Tam cộng hòa'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of the Dominican Republic.svg|center|130px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of the Dominican Republic.svg|center|85px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Juan Bosch (chính trị gia)|Tổng thống Juan Bosch]] <br>(27 tháng 2 năm 1963 – 25 tháng 9 năm 1963)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|-----------------}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 Peso of Dominicana - 100th Anniversary of the Restoration of the Republic 1963.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 Peso_[[Đệ Tam Cộng hòa Dominica|Kỷ niệm 100 ngày thành lập nền cộng hòa]] - 1963<hr>62 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Foto Juan Vicente Gómez.jpg|120px]]<br>'''1963<hr>[[MS|UNC]]'''}}|| {{center|'''Đường kính'''<br>[[38,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[65,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[26,7 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[17,355 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[20.000]]<hr>2.271.000<br>[[(87,35$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==[[File:Flag-map of Ethiopia (1952).svg|80px]]📕 ĐẾ CHẾ ETHIOPIA== | |||
===Menelik II=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đế quốc Ethiopia|ĐẾ CHẾ ETHIOPIA]]<br>(1270 - 1974) <hr>[[Shewan|Dòng Shewan]] của [[Nhà Solomon]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Ethiopia (1897-1936; 1941-1974).svg|center|135px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Imperial coat of arms of Ethiopia (Haile Selassie).svg|center|78px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Menelik II|Hoàng đế Menelik II]]<br> (1889 - 1913)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị hoàng đế đầu tiền của dòng Shewan}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 birr of Ethiopia Menelik II - 1889.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 Birr [[Menelik II]] - 1889<hr> 136 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Emperor Menelik II.png|120px]]<br>'''1887 - 1889<hr>[[XF]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[40,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[83,5%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[28,075 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[23,44263 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[418.000]]<hr>2.250.000<br>[[(96,57$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
===Haile Selassie [[Mua thất bại]]=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đế quốc Ethiopia|ĐẾ CHẾ ETHIOPIA]]<br>(1270 - 1974) <hr> [[Shewan|Dòng Shewan]] của [[Nhà Solomon]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Ethiopia (1897-1936; 1941-1974).svg|center|135px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Imperial coat of arms of Ethiopia (Haile Selassie).svg|center|78px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Haile Selassie|Hoàng đế Haile Selassie]]<br> (1930 - 1974)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị hoàng thứ 4 của dòng Shewan}} | |||
|- | |||
| [[File:5 Dollars - Hailé Selassié I 2nd reign Proof Series 1972.png|center|700px]]<hr>{{center|'''5 Dollar - [[Haile Selassie|Kỷ niệm 80 năm ngày sinh của Hoàng đế Haile Selassie]] - 1972<hr> 53 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Haile Selassie Portrait.jpg|120px]]<br>'''1972<hr>[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[37,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[99,9%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[25,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,975 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[100.000]]<hr>1.457.000<br>[[(56,46$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==🕎 PORTUGAL (ĐỆ NHẤT)== | |||
===Manuel de Arriaga=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông ton | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đệ Nhất Cộng hòa Bồ Đào Nha|ĐỆ NHẤT CỘNG HÒA BỒ ĐÀO NHA]] <br> (1910 - 1926)<hr>[[Cộng hòa nghị viện]]'''}}|| colspan="1" |{{center|[[File:Flag of Portugal.svg|center|130px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of Portugal.svg|center|105px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Manuel de Arriaga|Tổng thống Manuel de Arriaga]] <br>(1911 - 1915)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Tổng thống đầu tiên của Bồ Đào Nha}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 Escudo of Portugal 1916.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 Escudo [[Liberty]] - 1916<hr>110 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Manuel de Arriaga - Fotografia Vasques.png|120px]]<br>'''1915 - 1916<hr>[[MS|UNC]]'''}}|| {{center|'''Đường kính'''<br>[[37,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[83,5%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[25,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[20,875 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[1.405.000]]<hr>1.900.000<br>[[(77,24$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==🕎 PORTUGAL (ĐỆ NHỊ)== | |||
===Américo Tomás=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Nhà nước Mới (Bồ Đào Nha)|ĐỆ NHỊ CỘNG HÒA BỒ ĐÀO NHA]] <br> (1933 - 1974)<hr>[[Cộng hòa nghị viện]]'''}}|| colspan="1" |{{center|[[File:Flag of Portugal.svg|center|124px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of Portugal.svg|center|110px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Américo Tomás|Tổng thống Américo Tomás]] <br>(1958 - 1974)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Tổng thống thứ 13 của Bồ Đào Nha}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:20 Escudos Prince Henry the Navigator 1960.png|center|700px]]<hr>{{center|'''20 Escudos_[[Henrique Nhà hàng hải|500 năm ngày mất của Henrique Nhà hàng hải]] - 1960<hr>65 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Fotografia oficial do Presidente da República Américo Tomás.jpg|100px]]<br>'''1960<hr>[[MS]]'''}}|| {{center|'''Đường kính'''<br>[[34,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[80,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[21,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[16,8 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[200.000]]<hr>600.000<br>[[(25,53$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==🕎 SÃO TOME THUỘC PORTUGAL== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đế quốc Bồ Đào Nha|ĐẾ CHẾ BỒ ĐÀO NHA]]'''<HR> '''[[São Tomé và Príncipe thuộc Bồ Đào Nha|Tỉnh hải ngoại São Tomé và Príncipe]] <br> (1951 - 1975)'''}}|| colspan="1" |{{center|[[File:Flag of Portugal.svg|center|125px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of São Tomé and Príncipe (1935–1975, lesser).svg|center|70px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[António Jorge da Silva Sebastião|Thống đốc António Jorge da Silva Sebastião]] <br>(1963 - 1972)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|----------}} | |||
|- | |||
| [[File:20 Escudos Prince Henry the Navigator - 1960.png|center|700px]]<hr>{{center|'''50 Escudo_[[São Tomé và Príncipe|500 khám phá ra São Tomé và Príncipe]] (1470 - 1970)<hr> 65 năm (2025)'''}}||{{center|'''1970<hr>[[MS]]'''}}|| {{center|'''Đường kính'''<br>[[34,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[65,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[18,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[16,8 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[200.000]]<hr>600.000<br>[[(25,53$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==🕎 MACAU THUỘC PORTUGAL== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đế quốc Bồ Đào Nha|ĐẾ CHẾ BỒ ĐÀO NHA]]'''<hr> '''[[Ma Cao thuộc Bồ Đào Nha]] <br> (1557 - 1999)'''}}|| colspan="1" |{{center|[[File:Flag of Portugal.svg|center|130px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of Macau (1976–1999).svg|center|90px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[José Manuel de Sousa e Faro Nobre de Carvalho|Thống đốc Carvalho]] <br>(1967 - 1974)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Thống đốc thứ 121 của Macau}} | |||
|- | |||
| [[File:20 patacas Macau.png|center|700px]]<hr>{{center|'''20 Patacas_[[Cầu Thống đốc Nobre de Carvalho|Cầu Macau]] - 1974<hr>51 năm (2025)'''}}||{{center|'''1974<hr>[[AU]]'''}}|| {{center|'''Đường kính'''<br>[[35,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[65,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[18,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[16,8 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[1.000.000]]<hr>550.000<br>[[(23,40$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==🔔 ISLE OF MAN [[Không mua]]== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland|VƯƠNG QUỐC LIÊN HIỆP ANH VÀ BẮC IRELAND]] <Hr> [[Đảo Man|Lãnh địa vương quyền Đảo Man]] <br>(1399 - Nay)'''}}|| colspan="1" |{{center|[[File:Flag of the Isle of Man.svg|center|125px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of the Isle of Man.svg|center|105px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Paul Haddacks|Phó Thống đốc Paul Haddacks]]<br> (2005 - 2011)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Phó thống đốc thứ 28 của Đảo Man}} | |||
|- | |||
|[[File:5 Pounds - Elizabeth II Victoria - Old Portrait 2019.png|center|700px]]<hr>{{center|'''5 Pound [[Victoria của Anh|Kỷ niệm 200 năm ngày sinh của Nữ hoàng Victoria]] - 2019<hr>6 năm (2025)}}||{{center|[[File:Paul Haddacks (cropped).jpg|120px]]'''<br>2006<hr>[[MS|UNC]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[38,6 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[92,5%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[28,28 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[26,159 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>496<hr>1.708.000<br>[[(66,36$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==🔔 JERSEY== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland|VƯƠNG QUỐC LIÊN HIỆP ANH VÀ BẮC IRELAND]] <Hr> [[Jersey|Lãnh địa vương quyền Jersey]] <br>(1204 - Nay)'''}}|| colspan="1" |{{center|[[File:Flag of Jersey.svg|center|125px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of Arms of Jersey.svg|center|75px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Andrew Ridgway|Phó Thống đốc Andrew Ridgway]]<br> (2006 - 2011)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|--------------------}} | |||
|- | |||
|[[File:5 Pounds - Elizabeth II Charles Darwin 2006.png|center|700px]]<hr>{{center|'''5 Pound [[Elizabeth II]]_[[Charles Darwin]] - 2006<hr>19 năm (2025)}}||{{center|[[File:Queen's Official Birthday reception Government House Jersey 2010 11.jpg|120px]]'''<br>2006<hr>[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[38,6 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[92,5%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[28,28 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[26,159 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[25.000]]<hr>1.300.000<br>[[(55,31$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
* [[Charles Darwin]] đã nói về Hoàng đế '''[[Pedro II của Brasil]]''': '''''"Hoàng đế làm rất nhiều việc cho khoa học, đến nỗi mọi nhà khoa học đều phải thể hiện sự tôn trọng tối đa với ông"'''''; Hoàng đế Pedro II chấp nhận những ý tưởng mới, chẳng hạn như thuyết tiến hóa của Charles Darwin, trong đó ông nhận xét rằng '''''"các quy luật mà ông [Darwin] đã khám phá ra tôn vinh Đấng sáng tạo"''''''. | |||
==🔔 GUERNSEY== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland|VƯƠNG QUỐC LIÊN HIỆP ANH VÀ BẮC IRELAND]] <Hr> [[Địa hạt Guernsey|Lãnh địa vương quyền Guernsey]] <br>(1204 - Nay)'''}}|| colspan="1" |{{center|[[File:Flag of Guernsey.svg|center|120px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of Guernsey.svg|center|65px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Charles Mills (Sĩ quan Hải quân Hoàng gia)|Phó Thống đốc Charles Mills]]<br> (1969 - 1974)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|--------------------------}} | |||
|- | |||
| [[File:25 Pence of Guernsey - Elizabeth II, 1972.png|center|700px]]<hr>{{center|'''25 Pence_[[Lễ cưới của Vương nữ Elizabeth và Philip Mountbatten|Kỷ niệm Đám cưới bạc Elizabeth II & Philip]] (1947 - 1972)<hr>53 năm (2025)'''}}||{{center|'''1972<hr>[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[38,61 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[92,5%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[28,28 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[26,159 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[15.000]]<hr>700.000<br>[[(28,57$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==✴️ BERMUDA== | |||
===Julian Gascoigne (132)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland|VƯƠNG QUỐC LIÊN HIỆP ANH VÀ BẮC IRELAND]] <hr>[[Bermuda]]<br>(1609 - Nay)}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Bermuda.svg|center|135px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of Bermuda.svg|center|63px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Julian Gascoigne|Thống đốc Julian Gascoigne]] <br>(1959 - 1964)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Thống đốc thứ 132 của Bermuda}} | |||
|- | |||
| [[File:1 Crown of Bermuda 1959.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 Crown [[Elizabeth II]]_[[Bermuda|Kỷ niệm 350 thành lập thuộc địa]] - 1959<hr>66 năm (2025)'''}}|| {{center|'''[[File:Bermuda - His Excellency, The Gov. of Bermuda LCCN2021747520.jpg|120px]]<br>1959<hr>[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[38,61 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[92,5%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[28,28 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[26,159 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[100.000]]<hr>1.450.000<br>[[(58,59$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|} | |||
===Roland Robinson (133)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland|VƯƠNG QUỐC LIÊN HIỆP ANH VÀ BẮC IRELAND]] <hr>[[Bermuda]]<br>(1609 - Nay)}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Bermuda.svg|center|135px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of Bermuda.svg|center|63px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Roland Robinson, Nam tước Martonmere thứ nhất|Thống đốc Roland Robinson, Nam tước Martonmere thứ nhất]]<br> (1964 - 1972)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Thống đốc thứ 133 của Bermuda}} | |||
|- | |||
| [[File:1 crown Bermuda 1964AU.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 Crown [[Elizabeth II]]_[[Quốc huy Bermuda|Sư tử cầm quốc huy của Bermuda]] 1st portrait - 1964<hr>61 năm (2025)'''}}|| {{center|'''1964<hr>[[AU]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[36,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[50,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[22,62 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[11,31 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[470.000]]<hr>650.000<br>[[(27,66$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|} | |||
===Richard Sharples (121)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Trọng lượng | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland|VƯƠNG QUỐC LIÊN HIỆP ANH VÀ BẮC IRELAND]] <hr>[[Bermuda]]<br>(1609 - Nay)}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Bermuda.svg|center|135px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of Bermuda.svg|center|63px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Richard Sharples|Thống đốc Richard Sharples]]<br> (1972 - 1973)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Thống đốc thứ 121 của Bermuda}} | |||
|- | |||
| [[File:4 dollar of Bermuda, Elizabeth II Silver Wedding - 1972.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 Dollar [[Elizabeth II]]_[[Lễ cưới của Vương nữ Elizabeth và Philip Mountbatten|Đám cưới bạc Elizabeth II & Philip]] - 1972<hr>53 năm (2025)'''}}|| {{center|'''1972<hr>[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[38,61 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[92,5%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[28,28 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[26,159 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[790.000]]<hr>790.000<br>[[(33,62$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==✴️ CAYMAN ISLANDS== | |||
===Thomas Russell (3)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland|VƯƠNG QUỐC LIÊN HIỆP ANH VÀ BẮC IRELAND]] <hr>[[Quần đảo Cayman]]<br>(1962 - Nay)}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of the Cayman Islands.svg|center|137px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of the Cayman Islands.svg|center|70px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Thomas Russell (quản lý thuộc địa)|Thống đốc Thomas Russell]] <br>(1974 - 1981)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Thống đốc thứ 3 của Cayman}} | |||
|- | |||
| [[File:2 dollar Cayman 1975MS.png|center|700px]]<hr>{{center|'''2 Dollar [[Elizabeth II]]_[[Diệc xanh lớn|Diệc xanh lớn (Great blue heron)]] - 1975<hr>50 năm (2025)'''}}|| {{center|'''1972 - 1986<hr>[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[40,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[92,5%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[29,45 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[27,241 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[5.390]]<hr>790.000<br>[[(33,6$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|} | |||
===Alan James Scott (5)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland|VƯƠNG QUỐC LIÊN HIỆP ANH VÀ BẮC IRELAND]] <hr>[[Quần đảo Cayman]]<br>(1962 - Nay)}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of the Cayman Islands.svg|center|137px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of the Cayman Islands.svg|center|70px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Alan James Scott|Thống đốc Alan James Scott]]<br> (1987 - 1992)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Thống đốc thứ 5 của Cayman}} | |||
|- | |||
| [[File:5 Dollars - Elizabeth II Christopher Columbus 1988.png|center|700px]]<hr>{{center|'''5 Dollar [[Elizabeth II]]_[[Christopher Columbus|Kỷ niệm 500 Columbus tìm ra Tân Thế giới]] - 1988<hr>37 năm (2025)'''}}|| {{center|'''1988<hr>[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[38,6 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[92,5%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[28,28 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[26,159 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[10.000]]<hr>1.850.000<br>[[(33,6$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==✴️ VIRGIN THUỘC ANH== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland|VƯƠNG QUỐC LIÊN HIỆP ANH VÀ BẮC IRELAND]] <hr>[[Quần đảo Virgin thuộc Anh]]<br>(1960 - Nay)}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of the British Virgin Islands.svg|center|140px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of the British Virgin Islands.svg|center|80px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Derek George Cudmore|Thống đốc Derek George Cudmore]] <br>(1971 - 1974)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Lãnh đạo thứ 17 và Thống đốc đầu tiên của Virgin thuộc Anh}} | |||
|- | |||
| [[File:1 dollar Elizabeth II, British Virgin Islands 1973.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 Dollar [[Elizabeth II]]_[[Fregata magnificens|Cốc biển đen (Magnificent frigatebird)]] - 1973<hr>52 năm (2025)'''}}|| {{center|'''1973 - 1984<hr>[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[38,61 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[92,5%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[25,7 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[23,7725 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[181.000]]<hr>600.000<br>[[(24,39$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==✴️ GIBRALTAR== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland|VƯƠNG QUỐC LIÊN HIỆP ANH VÀ BẮC IRELAND]] <hr>[[Gibraltar]]<br>(1704 - Nay)}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Gibraltar.svg|center|130px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of Gibraltar1.svg|center|76px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[David Durie|Thống đốc David Durie]] <br>(2000 - 2003)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|---------}} | |||
|- | |||
| [[File:1 Crown Elizabeth II of Gibraltar - Christening of William (1982-2002).png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 Crown [[Elizabeth II]]_[[William, Thân vương xứ Wales|Lễ rửa tội của Vương tử William]] - 2002<hr>23 năm (2025)'''}}|| {{center|'''2002<hr>[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[38,6 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[92,5%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[28,35 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[26,22375 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[?]]<hr>950.000<br>[[(37,48$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==✴️ SAINT HELENA== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland|VƯƠNG QUỐC LIÊN HIỆP ANH VÀ BẮC IRELAND]] <hr>[[Saint Helena, Ascension và Tristan da Cunha]]<br>(1659 - Nay)}}||colspan="1"|{{center|[[Tập tin:Flag of Saint Helena.svg|center|140px]]}}||colspan="1"|{{center|[[Tập tin:Coat of arms of Saint Helena.svg|center|63px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Alan Hoole|Thống đốc Alan Hoole]] <br>(1991 - 1995)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Thống đốc Vương quyền Anh thứ 31 của Saint Helena}} | |||
|- | |||
| [[File:50 Pence - Elizabeth II Queen Mother 1995.png|center|700px]]<hr>{{center|'''50 Pence [[Elizabeth II]]_[[Elizabeth Bowes-Lyon|Kỷ niệm 95 năm ngày sinh Hoàng thái hậu]] - 1995<hr>30 năm (2025)'''}}|| {{center|'''1995<hr>[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[38,6 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[92,5%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[28,28 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[26,159 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[1.200.000]]<hr>1000.000<hr>[[(39,37$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==✴️ FALKLAND ISLANDS== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland|VƯƠNG QUỐC LIÊN HIỆP ANH VÀ BẮC IRELAND]] <hr>[[Quần đảo Falkland]]<br>(1764 - Nay)}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of the Falkland Islands.svg|center|140px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of the Falkland Islands.svg|center|63px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[David Tatham|Thống đốc David Tatham]] <br>(1991 - 1995)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|-----------}} | |||
|- | |||
| [[File:50 Pence - Elizabeth II Birth of Princess Elizabeth 1995.png|center|700px]]<hr>{{center|'''50 Pence [[Elizabeth II]]_[[Elizabeth II|Kỷ niệm ngày sinh của Vương nữ Elizabeth]] - 1995<hr>30 năm (2025)'''}}|| {{center|'''1995<hr>[[MS|UNC]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[38,6 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[92,5%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[28,28 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[26,159 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[?]]<hr>1000.000<br>[[(39,37$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==✴️ TURKS & CAICOS== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland|VƯƠNG QUỐC LIÊN HIỆP ANH VÀ BẮC IRELAND]] <hr>[[Quần đảo Turks và Caicos]]<br>(1973 - Nay)}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of the Turks and Caicos Islands.svg|center|130px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of the Turks and Caicos Islands.svg|center|72px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Martin Bourke (nhà ngoại giao)|Thống đốc Martin Bourke]] <br>(1993 - 1996)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Thống đốc chính thức thứ 6 của Turks & Caicos}} | |||
|- | |||
| [[File:50 Pence Elizabeth II Kỷ niệm 40 năm ngày trị vì (1952-1992).png|center|700px]]<hr>{{center|'''50 Pence [[Elizabeth II]]_[[Kỷ niệm 40 năm ngày trị vì]] (1952-1992)<hr>33 năm (2025)'''}}|| {{center|'''1992<hr>[[MS|UNC]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[38,9 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[99,9%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[31,17 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[31,13883 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[10.000]]<hr>950.000<br>[[(37,40$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==🔔 SÍP THUỘC ANH== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đế quốc Anh|ĐẾ CHẾ ANH]] <hr>[[Síp thuộc Anh]] <br> (1925 - 1960)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Cyprus (1922–1960).svg|center|151px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Badge of Cyprus (1905–1960).svg|center|85px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Ronald Storrs|Thống đốc Ronald Storrs]] <br>(1926 - 1932)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Thống đốc đầu tiên của Síp thuộc Anh}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
| [[File:45 piastre British Cyprus 1928AU.png|center|700px]]<hr>{{center|'''45 piastre [[George V của Anh|George V]]_[[Síp thuộc Anh|Kỷ niệm 50 năm Anh thuộc địa đảo Síp]] - 1928<hr>97 năm (2025) '''}} ||{{center|[[File:Sir Ronald Storrs LCCN2014717333 (cropped).jpg|120px]]<br>1928<hr>'''[[AU|AU-58]]'''}} || style="background:#ceb"colspan="1"|{{center|'''Đường kính'''<br>[[38,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[92,5%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[28,2759 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[26,15521 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[80.000]]<hr>3.120.000<br>[[(135,07$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
# Từ năm 1878 - 1914, Anh quản lý Đảo Síp như đất bả hộ<br> | |||
# Từ năm 1914 - 1925, Anh chiếm đóng Đảo Síp và quản lý dưới chế độ quân sự<br> | |||
# Từ năm 1925 - 1960, Đảo Síp trở thành Thuộc địa vương thất của Anh<br> | |||
==🔔 BAHAMAS THUỘC ANH== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland|VƯƠNG QUỐC LIÊN HIỆP ANH VÀ BẮC IRELAND]] <hr>[[Bahamas|Bahamas thuộc Anh]]<br>(1718 - 1973)}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of the Bahamas (1964–1973).svg|center|132px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Emblem of the Bahamas (1964-1973).svg|center|55px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[John Paul (colonial administrator)|Thống đốc John Paul]]<br> (1972 - 1973)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Thống đốc cuối cùng của Bahamas}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
| [[File:2 dollar of Bahamas, Elizabeth II - 1970.png|center|700px]]<hr>{{center|'''2 dollar [[Elizabeth II]]_[[Hồng hạc Mỹ|Hồng hạc Mỹ (Phoenicopterus ruber)]] - 1970<hr>55 năm (2025)'''}}|| {{center|'''1966 - 1970<hr>[[MS|UNC]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[40.0mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[92,5%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[29,80 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[27,565 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[32.450]]<hr>900.000<br>[[(38,3$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
* [[Edward VIII của Anh|Vua Edward VII]] thời còn là Thân vương xứ Wales, ông được bổ nhiệm làm Thống đốc của Bahamas (1940-1945) | |||
==🔔 NAM RHODESIA== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đế quốc Anh|ĐẾ CHẾ ANH]] <hr>[[Nam Rhodesia|Thuộc địa Nam Rhodesia]] <br> (1923 - 1980)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Southern Rhodesia (1924–1953, 1963–1964).svg|center|152px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of Southern Rhodesia (1924–1953, 1963–1980).svg|center|85px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[John Kennedy (sĩ quan quân đội Anh, sinh 1893)|Thống đốc John Kennedy]] <br>(1947 - 1953)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|---------}} | |||
|- | |||
| [[File:5 Crown Elizabeth II Cecil Rhodes - 1953.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 Crown [[Elizabeth II của Anh|Elizabeth II]]_[[Cecil Rhodes|100 năm Ngày sinh của Cecil Rhodes]] - 1953<hr>72 năm (2025)'''}} ||{{center|1953<hr>'''[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[38,5 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[50%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[28,28 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[14,14 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[23.500]]<hr>1.368.000<br>[[(57,72$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
# Gia tộc Rothschild tại Anh đã tài trợ cho Cecil Rhodes trong việc thành lập thuộc địa Rhodesia ở Châu Phi. Từ cuối những năm 1880 trở đi, gia đình Rothschild nắm quyền kiểm soát công ty khai thác mỏ Rio Tinto ở nơi đây. | |||
==🔔 BELIZE THUỘC ANH== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đế quốc Anh|ĐẾ CHẾ ANH]] <hr>[[Honduras thuộc Anh|Thuộc địa Belize]] <br> (1973 - 1981)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of British Honduras (1919–1981).svg|center|147px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of British Honduras (1907-1967).svg|center|90px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Richard Posnett|Thống đốc Richard Posnett]] <br>(1972 - 1976)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Thống đốc đầu tiên của Belize}} | |||
|- | |||
| [[File:10 dollar of Belize Great Curassow - 1974.png|center|700px]]<hr>{{center|'''10 dollar Belize_[[Crax rubra|Chim trĩ lớn (Great Curassow)]] - 1974<hr>51 năm (2025)'''}} ||{{center|1974 - 1978<hr>'''[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[40,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[92,5%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[29,8 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[27,565 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[31.000]]<hr>800.000<br>[[(32,52$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|- | |||
| [[File:5 Dollars of Belize, Keel-Billed Toucan 1974.png|center|700px]]<hr>{{center|'''5 dollar Belize_[[Ramphastos sulfuratus|Toucan mỏ lườn (Keel-Billed Toucan)]] - 1974<hr>51 năm (2025)'''}} ||{{center|1974 - 1981<hr>'''[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[37,8 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[92,5%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[26,4 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,42 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[31.000]]<hr>650.000<br>[[(26,42$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==🍯 CEYLON TỰ TRỊ== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Vương quốc Thịnh vượng chung|VƯƠNG QUỐC THỊNH VƯỢNG CHUNG]] <hr>[[Lãnh thổ tự trị Ceylon]] <br> (1948 - 1972)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Ceylon (1951–1972).svg|center|125px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of Ceylon (1952–1972).svg|center|62px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Oliver Goonetilleke|Toàn quyền Oliver Goonetilleke]] <br>(1954 - 1962)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Toàn quyền thứ 3 và áp chót của Ceylon}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
| [[File:5 Rupees of Ceylon - 1957.png|center|700px]]<hr>{{center|'''5 Rupees [[Elizabeth II của Anh|Elizabeth II]]_[[Lễ Phật Đản|Kỷ niệm 2.500 năm Phật Đản]] - 1957<hr>68 năm (2025)'''}} || <br>{{center|1957<hr>'''[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[39,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[92,5%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[28,2757 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[26,155 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[500.000]]<hr>2.682.000<br>[[(113,16$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==🍯 TRINIDAD & TOBAGO== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Vương quốc Thịnh vượng chung|VƯƠNG QUỐC THỊNH VƯỢNG CHUNG]] <hr>[[Trinidad và Tobago]]<br>(1962 - 1976)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Trinidad and Tobago.svg|center|150px]]}}||colspan="1"|{{center|[[Tập tin:Coat of arms of Trinidad and Tobago (2025).svg|center|95px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Solomon Hochoy|Toàn quyền Solomon Hochoy]] <br>(1962 - 1972)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Toàn quyền đầu tiên và áp chót của Trinidad và Tobago}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
| [[File:10 dollar Elizabeth II Independence - 1972.png|center|700px]]<hr>{{center|'''10 dollar [[Elizabeth II]]_[[Trinidad và Tobago|Kỷ niệm 10 năm độc lập]] - 1972 FM<hr>53 năm (2025)'''}}|| {{center|'''1972<hr>[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[42,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[92,5%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[25,12 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[32,486 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[26.000]]<hr>1.000.000<br>[[(42,92$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==🍯 MALTA== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Vương quốc Thịnh vượng chung|VƯƠNG QUỐC THỊNH VƯỢNG CHUNG]] <hr>[[Nhà nước Malta]]<br>(1964 - 1974)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Malta.svg|center|130px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of Malta (1964–1975).svg|center|110px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Anthony Mamo|Toàn quyền Anthony Mamo]]<br> (1971 - 1974)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Toàn quyền thứ 2 và cuối cùng của Malta}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
| [[File:4 liri of Malta, Elizabeth II Cottonera Gate - 1974.png|center|700px]]<hr>{{center|'''4 liri [[Elizabeth II]]_[[Cổng Notre Dame|Cổng Cottonera]] - 1974<hr>51 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Sir Anthony Mamo (cropped).jpg|center|100px]]<br> '''1974<hr>[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[38,2 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[98,7%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[20,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[19,74 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[24.000]]<hr>1.000.000<br>[[(42,92$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==🍯 BARBADOS== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Vương quốc Thịnh vượng chung|VƯƠNG QUỐC THỊNH VƯỢNG CHUNG]] <hr>[[Barbados]]<br>(1966 - 2021)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Barbados.svg|center|120px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of Barbados (3).svg|center|78px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Deighton Lisle Ward|Toàn quyền Deighton Lisle Ward]] <br>(1976 - 1984)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Toàn quyền thứ 3 của Barbados}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
| [[File:5 dollars of Barbados - Barbados 1979.png|center|700px]]<hr>{{center|'''5 dollar [[Elizabeth II]]_[[Đài phun nước trên nền vỏ sò]] - 1979<hr>46 năm (2025)'''}}|| {{center|'''1973 - 1984<hr>[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[40,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[80,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[31,1 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,88 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[4.126]]<hr>750.000<br>[[(30,49$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
* Năm 2021, Barbarbados trở thành nhà nước cộng hoà | |||
==🍯 JAMAICA== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Vương quốc Thịnh vượng chung|VƯƠNG QUỐC THỊNH VƯỢNG CHUNG]] <hr>[[Jamaica]]<br>(1962 - Nay)}}'''||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Jamaica.svg|center|153px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of Jamaica.svg|center|80px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Florizel Glasspole|Toàn quyền Florizel Glasspole]]<br> (1973 - 1991)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Toàn quyền thứ 4 của Jamaica}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
| [[File:5 Dollars of Jamaica - Norman W. Manley 1973.png|center|700px]]<hr>{{center|'''5 dollar [[Norman Manley|Norman W. Manley]] - 1973<hr>52 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Sir Florizel Glasspole (cropped).jpg|100px]] <br> '''1973<hr>[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[45,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[92,5%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[41,48 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[38,369 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[36.000]]<hr>750.000<br>[[(30,3$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
| [[File:10 Dollars of Jamaica - Horatio Nelson, 1976.png|center|700px]]<hr>{{center|'''10 dollar [[Horatio Nelson]] & [[HMS Hinchinbrook (1778)|HMS Hinchinbrook]] - 1976<hr>55 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Sir Florizel Glasspole (cropped).jpg|100px]] <br> '''1976<hr>[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[45,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[92,5%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[42,8 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[39,59 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[31.000]]<hr>1.200.000<br>[[(48,78$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==🍯 CANADA== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#ccf"|[[File:Coat of arms of Canada.svg|70px]] | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|CANADA | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
Sự quan tâm của người Pháp đối với Tân Thế giới bắt đầu với [[François I của Pháp]], người đã tài trợ cho chuyến đi hàng hải của [[Giovanni da Verrazzano]] qua khu vực giữa Florida và Newfoundland vào năm 1524 với hy vọng tìm ra một [[Hành lang Tây Bắc|tuyến đường đến Thái Bình Dương]]. | |||
Mặc dù người Anh đã tuyên bố chủ quyền đối với khu vực này vào năm 1497 khi [[John Cabot]] đổ bộ vào một nơi nào đó trên bờ biển Bắc Mỹ (có thể là Newfoundland hoặc Nova Scotia ngày nay) và tuyên bố chủ quyền đối với vùng đất này cho Anh thay mặt cho [[Henry VII của Anh]] | |||
Thuộc địa [[Tân Pháp]] được tuyên bố chủ quyền vào năm 1534 với các khu định cư cố định bắt đầu vào năm 1608. Pháp đã nhượng lại gần như toàn bộ tài sản Bắc Mỹ của mình cho Anh vào năm 1763 theo [[Paris (1763)|Hiệp ước Paris]] sau [[Chiến tranh Bảy năm]]. | |||
Lãnh thổ được Pháp nhượng lại được thiết lập nên [[Tỉnh Québec (1763–1791)|Tỉnh Quebec]] thuộc Anh đã được chia thành [[Canadas|Thượng Canada và Hạ Canada]] vào năm 1791. [[Jeffery Amherst, Nam tước Amherst thứ 1|Lãnh chúa Jeffery Amherst]] làm thống đốc đầu tiên. Chức danh [[Toàn quyền Canada]] ra đời vào năm 1786 và [[Guy Carleton, Nam tước Dorchester thứ 1|Lãnh chúa Dorchester]] trở thành toàn quyền đầu tiên. | |||
Hai tỉnh này đã được thống nhất thành [[Tỉnh Canada]] theo [[Đạo luật Liên minh năm 1840]], có hiệu lực vào năm 1841. [[Charles Poulett Thomson, Nam tước Sydenham thứ nhất|Lãnh chúa Sydenham]] trở thành toàn quyền đầu tiên của tỉnh Canada. | |||
Năm 1867, Tỉnh Canada đã được sáp nhập với hai thuộc địa khác của Anh là [[New Brunswick]] và [[Nova Scotia]] thông qua [[Liên bang hóa Canada]], hình thành nên một thực thể tự quản. "Canada" được thông qua làm tên hợp pháp của quốc gia mới và từ "[[Dominion]]" được trao làm danh hiệu của quốc gia. [[Charles Monck, Tử tước Monck thứ 4|Tử tước Monck]] được bổ nhiệm làm toàn quyền đầu tiên của Canada Dominion. Tính từ thời của ông cho đến hiện tại, Canada đã trải qua 30 đời Toàn quyền. | |||
Trong tám mươi hai năm tiếp theo, [[Biến thiên lãnh thổ của Canada|Canada mở rộng]] bằng cách sáp nhập các phần khác của Bắc Mỹ thuộc Anh, kết thúc với [[Newfoundland và Labrador]] vào năm 1949. | |||
Mặc dù chính phủ tự quản đã tồn tại ở Bắc Mỹ thuộc Anh từ năm 1848, Chính phủ Anh vẫn tiếp tục thay mặc thực hiện các chính sách đối ngoại và quốc phòng của mình cho đến khi [[Chiến tranh thế giới thứ nhất]] kết thúc. [[Tuyên bố Balfour năm 1926]], [[Hội nghị Đế quốc năm 1930]] và việc thông qua [[Quy chế Westminster 1931]] đã công nhận rằng Canada trở nên ngang bằng với Vương quốc Anh. Việc trao trả Hiến pháp năm 1982 đánh dấu việc xóa bỏ sự phụ thuộc hợp pháp vào [[Quốc hội Anh]]. Canada hiện bao gồm [[Tỉnh bang và lãnh thổ của Canada|mười tỉnh và ba vùng lãnh thổ]] và là một nền dân chủ nghị viện và chế độ quân chủ lập hiến. | |||
|} | |||
===Vere Ponsonby (14)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Vương quốc Thịnh vượng chung|VƯƠNG QUỐC THỊNH VƯỢNG CHUNG]]<hr>[[Canada]]<br>(1867 - Nay)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Canada (Pantone).svg|center|150px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Royal Coat of Arms of Canada.svg|center|61px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Vere Ponsonby, Bá tước thứ 9 xứ Bessborough|Toàn quyền Vere Ponsonby, Bá tước xứ Bessborough]] <br>(1931 - 1935)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Toàn quyền thứ 14 của Canada}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
| [[File:1 Dollar George V (Silver Jubilee) of Canada 1935-MS.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 dollar_[[George V của Anh|Kỷ niệm 25 năm ngày lên ngôi của Vua George V]] - 1935<hr>90 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Earlofbessbourgh.jpg|120px]]<br>'''1935<hr>[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[36,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[80%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[23.33 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[18,664 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[428.707]]<hr>1.222.000<hr>[[(51,56$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|} | |||
===Georges Vanier (19)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Vương quốc Thịnh vượng chung|VƯƠNG QUỐC THỊNH VƯỢNG CHUNG]]<hr>[[Canada]]<br>(1867 - Nay)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Canada (Pantone).svg|center|150px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Royal Coat of Arms of Canada.svg|center|61px]]}} | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Georges Vanier|Toàn quyền Georges Vanier]]<br> (1959 - 1967)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Toàn quyền thứ 19 của Canada}} | |||
|- | |||
| [[File:1 Dollar - Elizabeth II 2nd portrait 1965.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 dollar [[Elizabeth II]] (2nd portrait) - 1965<hr>60 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Georges-Philias Vanier.jpg|120px]]<br>'''1965 - 1966<hr>[[XF]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[36,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc''' <br>[[80%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[23.33 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[18,664 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[10.768.569]]<hr>450.000 <br> [[(19,15$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|} | |||
===Jules Léger (21)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Vương quốc Thịnh vượng chung|VƯƠNG QUỐC THỊNH VƯỢNG CHUNG]]<hr>[[Canada]]<br>(1867 - Nay)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Canada (Pantone).svg|center|150px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Royal Coat of Arms of Canada.svg|center|61px]]}} | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Jules Léger|Toàn quyền Jules Léger]]<br> (1974 - 1979)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Toàn quyền thứ 21 của Canada}} | |||
|- | |||
| [[File:1 Dollar Canada - Elizabeth II Silver Jubilee.png|center|700px]]<hr>'''{{center|1 Dollar_[[Elizabeth II|Kỷ niệm 25 năm trị vì của Nữ vương Elizabeth II]]<hr>48 năm (2025)}}'''||{{center|'''1977<hr>[[AU]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[36,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[50%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[23.33 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[11,665 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[744.848]]<hr>450.000<br>[[(19,15$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|} | |||
===Jeanne Sauvé (23)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Vương quốc Thịnh vượng chung|VƯƠNG QUỐC THỊNH VƯỢNG CHUNG]]<hr>[[Canada]]<br>(1867 - Nay)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Canada (Pantone).svg|center|150px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Royal Coat of Arms of Canada.svg|center|61px]]}} | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Jeanne Sauvé|Toàn quyền Jeanne Sauvé]]<br> (1984 - 1990)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Toàn quyền thứ 23 của Canada}} | |||
|- | |||
| [[File:1 Dollar of Canada - Elizabeth II, Davis Strait 1987.png|center|700px]]<hr>'''{{center|1 Dollar_[[Eo biển Davis|Kỷ niệm 400 năm khám phá Eo biển Davis]] (1587-1987)<hr>38 năm (2025)}}'''||{{center|[[File:Jeanne Sauvé at Rideau Hall during visit of Ronald Reagan April 1987.jpg|140px]]<br>'''1987<hr>[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[36,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[50%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[23.3276 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[11,6638 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[405.688]]<hr>500.000<hr>[[(19,69$)]]}} | |||
|- | |||
| [[File:1 Dollar - Elizabeth II MacKenzie River 1989.png|center|700px]]<hr>'''{{center|1 Dollar_[[Sông Mackenzie|Kỷ niệm 200 năm khám phá Sông Mackenzie]] (1789-1989)<hr>36 năm (2025)}}'''||{{center|[[File:Jeanne Sauvé at Rideau Hall during visit of Ronald Reagan April 1987.jpg|140px]]<br>'''1989<hr>[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[36,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[50%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[23.3276 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[11,6638 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[272.319]]<hr>600.000<hr>[[(24,24$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==🍯 AUSTRALIA== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#ccf"|[[File:Coat of arms of the Commonwealth of Australia.svg|70px]] | |||
|- | |||
! style="background-color:#8dd3c7"|THỊNG VƯỢNG CHUNG AUSTRALIA | |||
|- | |||
|style="background:#fea;"| | |||
Mặc dù tồn tại một thuyết về việc người Bồ Đào Nha khám phá Úc trong thập niên 1520, song nó thiếu bằng chứng rõ ràng. Tàu [[Duyfken]] của Hà Lan, dưới quyền [[Willem Janszoon]] tiến hành cuộc đổ bộ được ghi chép đầu tiên tại Úc vào năm 1606. Trong cùng năm đó, một đoàn thám hiểm của Tây Ban Nha dưới quyền [[Pedro Fernandez de Quiros]] đi đến vùng biển lân cận Úc và đổ bộ lên [[Tân Hebrides]] và cho rằng quần đảo này là ''lục địa phương nam'' huyền thoại nên đặt cho vùng đất là: "Terra Austral del Espiritu Santo" (''Đất Phương Nam của Thánh Linh''). Cũng trong năm đó, cấp phó của De Quiros là [[Luís Vaez de Torres]] đi qua [[eo biển Torres]] và có thể đã trông thấy bờ biển miền bắc Úc. | |||
Hành trình của [[Abel Tasman]] vào năm 1642 là cuộc thám hiểm đầu tiên được biết đến của người châu Âu trong việc tiếp cận [[Van Diemen's Land]] (sau là [[Tasmania]]) và [[New Zealand]] và trông thấy [[Fiji]]. Trong hành trình thứ nhì của mình vào năm 1644, ông cũng có đóng góp đáng kể đến việc lập bản đồ đại lục Úc và tiến hành quan sát lãnh địa và dân chúng tại bờ biển phía bắc phía dưới New Guinea. | |||
Thuộc địa New South Wales của Anh được thành lập khi Đệ Nhất hạm đội gồm 11 tàu đến dưới quyền thuyền trưởng [[Arthur Phillip]] đến vào tháng 1 năm 1788. Ban đầu nó có trên một nghìn người định cư, kể cả 778 tù nhân (192 nữ giới và 586 nam giới). Vài ngày sau khi đến vịnh Botany, hạm đội chuyển đến nơi phù hợp hơn là [[Port Jackson]] và tại đây một khu định cư được thành lập tại vịnh Sydney vào ngày [[26 tháng 1]] năm 1788. Ngày này về sau trở thành ngày quốc khánh Úc, [[ngày Úc]]. Thuộc địa chính thức được Thống đốc Phillip công bố vào ngày 7 tháng 2 năm 1788 tại Sydney. Vịnh Sydney cung cấp một nguồn cung nước ngọt và một bến cảng an toàn. | |||
|} | |||
===Alexander Hore-Ruthven (10)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Vương quốc Thịnh vượng chung|VƯƠNG QUỐC THỊNH VƯỢNG CHUNG]]<hr>[[Australia]]<br>(1901 - Nay)}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Australia (converted).svg|center|150px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of the Commonwealth of Australia.svg|center|105px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Alexander Hore-Ruthven, Bá tước thứ 1 xứ Gowrie|Toàn quyền Alexander Hore-Ruthven, Bá tước thứ 1 xứ Gowrie]]<br> (1936 - 1945)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Toàn quyền thứ 10 của Úc}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
| [[File:1 Crown of Australia - George VI Coronation 1937.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 Crown Australia_[[Lễ đăng quang của George VI và Elizabeth|George VI lên ngôi vua]] - 1937<hr>88 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Lordgowrie.jpg|120px]]<br> '''1937<hr>[[MS|UNC]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[38,5 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[92,5%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[28,27 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[26,14975 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[1.008.000]]<hr>1.100.000<br>[[(50,83$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|} | |||
===Peter Hollingworth (23)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Vương quốc Thịnh vượng chung|VƯƠNG QUỐC THỊNH VƯỢNG CHUNG]]<hr>[[Australia]]<br>(1901 - Nay)}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Australia (converted).svg|center|150px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of the Commonwealth of Australia.svg|center|105px]]}} | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Peter Hollingworth|Toàn quyền Peter Hollingworth]]<br> (2001 - 2003)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Toàn quyền thứ 23 của Úc}} | |||
|- | |||
| [[File:1 dollar Elizabeth II (Kookaburra) - 2003.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 dollar [[Elizabeth II]]_[[Kookaburra|4th Portrait - Australian Kookaburra]] - 2002'''}}||{{center|[[File:Dr Peter Hollingworth.jpg|120px]]<br> '''2001-2002<hr>[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[40,6 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[99,9%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[31,135 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[31,103865 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[800.000]]<hr>1.100.000<br>[[(44,72$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|} | |||
===Michael Jeffery (24)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Vương quốc Thịnh vượng chung|VƯƠNG QUỐC THỊNH VƯỢNG CHUNG]]<hr>[[Australia]]<br>(1901 - Nay)}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Australia (converted).svg|center|150px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of the Commonwealth of Australia.svg|center|105px]]}} | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Michael Jeffery|Toàn quyền Michael Jeffery]]<br> (2003 - 2008)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Toàn quyền thứ 24 của Úc}} | |||
|- | |||
| [[File:1 dollar of AU Elizabeth II (Kookaburra) - 2003.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 dollar [[Elizabeth II]]_[[Kookaburra|4th Portrait - Australian Kookaburra]] - 2003'''}}||{{center|[[File:Jeffery Michael 030238DI-002.jpg|120px]]<br> '''2002-2004<hr>[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[40,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[99,9%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[31,1035 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[31,0724 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[1.733]]<hr>900.000<br>[[(36,59$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==🍯 COOK ISLANDS== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[New Zealand|VƯƠNG QUỐC NEW ZEALAND]]<hr>[[Quần đảo Cook]]<br>(1965 - Nay)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of the Cook Islands.svg|center|150px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of the Cook Islands.svg|center|80px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Denis Blundell|Toàn quyền New Zealand kiêm Đại diện tại Cook: Denis Blundell]]<br> (1972 - 1977)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Toàn quyền thứ 12 của New Zealand}} | |||
|- | |||
| [[File:7½ Dollars - Elizabeth II Hervey Islands 1974.png|center|700px]]<hr>{{center|'''7½ Dollar_[[Manuae (Quần đảo Cook)|200 năm James Cook tìm ra Hervey Islands]] 1773 - 1974<hr>49 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Sir Denis Blundell.jpg|120px]]<br> '''1973-1974<hr>[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[42,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[92,5%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[33,8 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[31,265 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[12.000]]<hr>1.250.000<br>[[(50,81$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==🍯 PAPUA NEW GUINEA== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Vương quốc Thịnh vượng chung|VƯƠNG QUỐC THỊNH VƯỢNG CHUNG]]<hr>[[Papua New Guinea|Nhà nước Độc lập New Guinea]]<br>(1975 - Nay)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Papua New Guinea.svg|center|122px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:National emblem of Papua New Guinea.svg|center|140px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[John Guise (chính trị gia Papua New Guinean)|Toàn quyền John Guise]]<br> (1975 - 1977)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Toàn quyền đầu tiên của Papua New Guinea}} | |||
|- | |||
| [[File:5 Kina of Papua New Guinea - Elizabeth II, bird-of-paradise 1975.png|center|700px]]<hr>{{center|'''5 Kina [[Elizabeth II]]_[[Đại bàng New Guinea]] - 1975<hr>50 năm (2025)'''}}||{{center|'''1975-1980<hr>[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[40,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[50%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,6 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[13,8 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[67.000]]<hr>600.000<br>[[(23,53$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==🍯 NEW ZEALAND== | |||
===Bernard Freyberg (7)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Vương quốc Thịnh vượng chung|VƯƠNG QUỐC THỊNH VƯỢNG CHUNG]]<hr>[[New Zealand]]<br>(1917 - Nay)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of New Zealand.svg|center|159px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of New Zealand.svg|center|90px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Bernard Freyberg, Nam tước Freyberg thứ 1|Toàn quyền Bernard Freyberg, Nam tước Freyberg thứ 1]]<br> (1946 - 1952)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Toàn quyền thứ 7 của New Zealand}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
| [[File:1 Crown of New Zealand - George VI Royal Visit 1949.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 Crown_[[George VI của Anh|Kỷ niệm George VI thăm ÚC và New Zealand]] - 1949<hr>76 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:General Freyberg (cropped).jpg|center|120px]]<br>'''1949<hr>[[MS|UNC]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[38,61 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[50,%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[28,28 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[14,14 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[200.020]]<hr>1.300.000<br>[[(50,83$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
* Chuyến thăm New Zealand và Úc của Vua George VI, Công chúa Elizabeth và Công chúa Margaret đã được đề xuất vào năm 1949. Khi ngày diễn ra chuyến thăm đến gần, rõ ràng là tình trạng sức khỏe yếu của Nhà vua không cho phép chuyến thăm diễn ra. | |||
===Keith Holyoake (13)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Vương quốc Thịnh vượng chung|VƯƠNG QUỐC THỊNH VƯỢNG CHUNG]]<hr>[[New Zealand]]<br>(1917 - Nay)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of New Zealand.svg|center|150px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of New Zealand.svg|center|90px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Keith Holyoake|Toàn quyền Keith Holyoake]]<br> (1977 - 1980)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Toàn quyền thứ 13 của New Zealand}} | |||
|- | |||
| [[File:1 Dollar - Elizabeth II 2nd Portrait; Coronation Jubilee 1978.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 dollar [[Elizabeth II|Kỷ niệm 25 năm trị vì của Nữ vương Elizabeth II]] - 1978<hr>47 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Keith Holyoake 1971 (cropped).jpg|center|120px]]<br> '''1978<hr>[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[38,7 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[92,5%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,3 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[25,2525 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[18.000]]<hr>850.000<br>[[(33,33$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|- | |||
| [[File:1 dollar Elizabeth II (Berry Portrait) - 1979.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 dollar [[Elizabeth II]] (Berry Portrait) - 1979<hr>46 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Keith Holyoake 1971 (cropped).jpg|center|120px]]<br> '''1979<hr>[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[38,735 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[92,5%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,3 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[25,2525 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[19.000]]<hr>1.350.000<br>[[(54,88$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|} | |||
===David Beattie (14)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Vương quốc Thịnh vượng chung|VƯƠNG QUỐC THỊNH VƯỢNG CHUNG]]<hr>[[New Zealand]]<br>(1917 - Nay)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of New Zealand.svg|center|170px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of New Zealand.svg|center|95px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[David Beattie|Toàn quyền David Beattie]]<br> (1980 - 1985)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Toàn quyền thứ 14 của New Zealand}} | |||
|- | |||
| [[File:1 dollar of New Zealand, Visit of Queen Elizabeth II, October 1981.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 dollar_[[Elizabeth II|Kỷ niệm Chuyến thăm Elizabeth II đến New Zealand]] - 1981 <hr>44 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Sir David Beattie.jpg|center|120px]]<br> '''1981<hr>[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[38,8 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[92,5%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,22 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[25,1785 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[20.000]]<hr>850.000<br>[[(33,33$)]]}} | |||
|- | |||
| [[File:1 Dollar - Elizabeth II 2nd Portrait 1983.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 dollar [[Elizabeth II]]_[[Tiền đúc|Kỷ niệm 50 năm tiền đúc New Zealand]] - 1983<hr>42 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Sir David Beattie.jpg|center|120px]]<br> '''1983<hr>[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[38,735 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[92,5%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,216 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[25,1748 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[17.000]]<hr>1.500.000<br>[[(60,98$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
===Catherine Tizard (16)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Vương quốc Thịnh vượng chung|VƯƠNG QUỐC THỊNH VƯỢNG CHUNG]]<hr>[[New Zealand]]<br>(1917 - Nay)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of New Zealand.svg|center|170px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of New Zealand.svg|center|95px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Catherine Tizard|Toàn quyền Catherine Tizard]]<br> (1990 - 1996)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Toàn quyền thứ 16 của New Zealand}} | |||
|- | |||
| [[File:5 dollars New Zealand, Elizabeth II - Decimal Currency 1992.png|center|700px]]<hr>{{center|'''5 dollar [[Elizabeth II]]_[[Tiền tệ thập phân|Kỷ niệm 25 năm Tiền tệ thập phân]] - 1992<hr>33 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Governor-General Catherine Tizard.jpg|center|120px]]<br> '''1992<hr>[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[38,61 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[92,5%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[28,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[25,9 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[8.000]]<hr>1.250.000<br>[[(50,81$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==🍯 LIÊN MINH NAM PHI== | |||
===Gideon Brand van Zyl (7)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''VƯƠNG QUỐC THỊNH VƯỢNG CHUNG<hr>[[Liên hiệp Nam Phi]]<br> (1910 - 1961)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of South Africa (1928-1982).svg|center|130px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of South Africa (1932–2000).svg|center|70px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Gideon Brand van Zyl|Toàn quyền Gideon Brand van Zyl]]<br> (1946 - 1951)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Toàn quyền thứ 7 của Nam Phi}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:5 shilling of South Africa Union, George VI - 1949.png|center|700px]]<hr>{{center|'''5 shilling [[George VI của Anh|George VI]]_[[Linh dương nhảy|Linh dương nhảy (Springbok)]] - 1949<hr>76 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Gideon Brand van Zyl.jpg|120px]]<br>'''1948 - 1950<hr>[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[38,61 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[80%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[28,28 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[22,624 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[535.000]]<hr>1.000.000<br>[[(42,92$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|} | |||
===Ernest George Jansen (8)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''VƯƠNG QUỐC THỊNH VƯỢNG CHUNG<hr>[[Liên hiệp Nam Phi]]<br> (1910 - 1961)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of South Africa (1928-1982).svg|center|130px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of South Africa (1932–2000).svg|center|70px]]}} | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Ernest George Jansen|Toàn quyền Ernest George Jansen]]<br> (1951 - 1959)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Toàn quyền thứ 8 của Nam Phi}} | |||
|- | |||
| [[File:5 Shillings - George VI Cape Town Anniversary 1952.png|center|700px]]<hr>{{center|'''5 shilling [[George VI của Anh|George VI]]_[[Cape Town|300 năm thành lập Cape Town (1652-1952)]]<hr>73 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:EG Jansen 1949.jpg|120px]]<br>'''1952<hr>[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[38,61 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[50%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[28,28 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[14,14 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[1.698.000]]<hr>720.000<br>[[(31,17$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==🟥 NHÀ NƯỚC HYDERABAD== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Nhà nước Hyderabad|NHÀ NƯỚC HYDERABAD]] CỦA [[Raj thuộc Anh|ĐẾ QUỐC ẤN ĐỘ THUỘC ANH]]<br> 1724 - 1948 <hr> [[Triều đại Asaf Jahi|Nhà Asaf Jahi]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Asafia flag of Hyderabad State.svg|center|125px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:State emblem of Hyderabad.svg|center|70px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Mir Osman Ali Khan|Phiên vương Mir Osman Ali Khan]] <br>(1911 - 1948)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị quân chủ thứ 10 và cuối cùng của triều đại Asaf Jahi}} | |||
|- | |||
| [[File:1 Rupee Mir Osman Ali Khan - 1913.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 Rupee [[Mir Osman Ali Khan]] - 1913<hr>111 năm (2025)'''}}|| {{center|[[File:NezamHaydarabad (cropped to image only).jpg|120px]]<br>'''1912 - 1925<hr>[[AU]]}}''' || {{center|'''Đường kính'''<br>[[30,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[81,8%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[11,178 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[9,1436 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[6%]]<hr>500.000<br>[[(21,46$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==🟥 VƯƠNG QUỐC MEWAR== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Trọng lượng | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Nhà nước Udaipur|VƯƠNG QUỐC MEWAR]] CỦA [[Ấn Độ thuộc Anh|ĐẾ CHẾ ẤN ĐỘ]]<br> 566 - 1949 <hr> [[Sisodia|Triều đại Sisodia]]'''}}||colspan="2"|{{center|[[File:Coat of arms of Udaipur State.png|center|120px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Fateh Singh của Udaipur và Mewar|Phiên vương Fateh Singh]] <br>(1884 - 1930)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị quân chủ thứ 32 và áp chót của Vương quốc Mawar đến từ Triều đại Sisodia}} | |||
|- | |||
| [[File:1 Rupee Fatteh Singh - 1928AU.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 Rupee [[Fateh Singh của Udaipur và Mewar|Fatteh Singh]] - 1928<hr>97 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Raja Ravi Varma, Maharaja Fateh Singh.jpg|100px]]<br>'''1928<hr>[[MS|UNC]]}}''' || {{center|'''Đường kính'''<br>[[30,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[?%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[10,85 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[? gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[14.906.000]]<hr>950.000<br>[[(40,77$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|} | |||
* Ông là '''phiên vương duy nhất của [[Tiểu lục địa Ấn Độ]] không tham dự [[Delhi Durbar]] trong cả 2 năm 1903 và 1911. Năm 1921, khi [[Edward VIII|Vương tử Edward, Thân vương xứ Wales]] con trai của vua [[George V]] và [[Mary xứ Teck|Hoàng hậu Mary]] đến thăm Udaipur, Fateh Singh đã cáo bệnh để từ chối tiếp kiến''', ông cử con trai mình đi thay. Những hành động này đã khiến [[người Anh]] không hài lòng về ông, vì thế mà sau sự kiện bất ổn xã hội ở Mewar ngày 28/07/1921, Fateh Singh đã bị phế truất, tuy vẫn giữ lại tước vị, nhưng quyền cai trị [[Nhà nước Udaipur]] được trao lại cho người kế vị của ông, [[Bhupal Singh]].<hr> | |||
* Ông vốn không thể kế vị ngai vàng của Udaipur, vì không thuộc nhánh chính của hoàng tộc, cha ông là Maharaj Dal Singh thuộc nhánh Shivrati, hậu duệ của con trai thứ 4, Arjin Singh của Rana [[Sangram Singh II]] (1710 - 1734). Ông được [[Sajjan Singh của Udaipur|Maharana Sajjan Singh]] nhận làm con nuôi và sau khi vị phiên vương này mất thì ông lên kế vị, cai trị Nhà nước Udaipur. | |||
==🟥 NHÀ NƯỚC CUTCH== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Nhà nước Cutch|NHÀ NƯỚC CUTCH]] CỦA [[Raj thuộc Anh|ĐẾ CHẾ ẤN ĐỘ THUỘC ANH]]<br>(1147 - 1947) <hr> [[Jadeja|Triều đại Jadeja]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Cutch flag.svg|center|120px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Cutch State Achievement Badge.jpg|center|77px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Khengarji III|Phiên vương Khengarji III]]<br> (1875 - 1942)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị quân chủ thứ 30 của triều đại [[Jadeja]] trị vì Kutch}} | |||
|- | |||
| [[File:5 Kori Khengarji III of Kutch 1936.png|center|700px]]<hr>{{center|'''5 Kori [[Khengarji III]] - 1936<hr>89 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Khengarji III.jpg|120px]]<br>1912 - 1936<hr>'''[[MS|UNC]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[32,45 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[93,7%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[13,87 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[12,99619 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[?]]<hr>1.194.000<br>[[(47,0$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==🔔 ẤN ĐỘ THUỘC ĐỊA== | |||
===🛑 Mogul thuộc Cty Đông Ấn Anh=== | |||
====Shah Alam II==== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Đường kính | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Trọng lượng | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Số lượng đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Giá thành | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Công ty Đông Ấn Anh|CÔNG TY ĐÔNG ẤN ANH]] <hR>[[Đế quốc Mogul]] <br> (1526 - 1857) <hr> [[Triều đại Mughal]]'''}}||colspan="3"|{{center|[[File:Fictional flag of the Mughal Empire.svg|center|180px]]}}||colspan="3"|{{center|[[File:Mughal Empire (orthographic projection).svg|center|120px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Shah Alam II|Hoàng đế Shah Alam II]] <br>(1760 - 1788 & 1788 - 1806)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị hoàng đế thứ 17 của}} | |||
|- | |||
| [[File:1 rupee Shah Alam II, Mughal - 1792XF.png|thumb|center|700px|{{center|'''1 Rupee [[Shah Alam II]] - 1792<hr>232 năm (tính đến 2024)''']]}}||[[File:Emperor Shah Alam II.jpg|120px]]<br>{{center|1792}} || {{center|30.0 mm}}|| {{center|'''?% [[Ag]]'''<hr>11,64 gr<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[? gr]]}}|| {{center|?}} || {{center|650.000<br>[[27,90$]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
===🛑 Cty Đông Ấn Anh=== | |||
====Lãnh chúa William Bentinck==== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Đường kính | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Trọng lượng | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Số lượng đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Giá thành | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''ĐẾ CHẾ ANH <Hr>[[Công ty Đông Ấn Anh]] <br> 1612 - 1858 <Hr> [[Vương tộc Hannover|Nhà Hannover]]}}||colspan="2"|{{center|[[File:Flag of the British East India Company (1801).svg|center|187px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of the East India Company.svg|center|137px]]}}||colspan="2"|{{center|[[File:British Indian Empire 1909 Imperial Gazetteer of India.jpg|center|140px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Lãnh chúa William Bentinck]] <br>(1828 - 1835)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Toàn quyền đầu tiên của Ấn Độ}} | |||
|- | |||
| [[File:1 Rupee William IV - 1835.png|thumb|center|700px|{{center|'''1 Rupee [[William IV của Anh|William IV]] - 1835<hr>189 năm (tính đến 2024)''']]}}||[[File:Bentinck william.png|120px]]<br>{{center|'''1835 - 1840 <hr> [[XF]]'''}} || {{center|30.5 mm}}|| {{center|'''91,7% [[Ag]]'''<hr>11,66 gr<hr>Bạc ròng <br>[[10,69222 gr]]}}|| {{center|54%}} || {{center|1.100.000<br>[[47,21$]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
===🛑 Đế chế Ấn Độ thuộc Anh=== | |||
====James Bruce, Bá tước thứ 8 xứ Elgin==== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Đường kính | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Trọng lượng | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Số lượng đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Giá thành | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Raj thuộc Anh|ĐẾ QUỐC ẤN ĐỘ]] <br> 1858 - 1947 <hr> [[Nhà Hannover]]'''}}||colspan="2"|{{center|[[File:British Raj Red Ensign.svg|center|197px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Star-of-India-gold-centre.svg|center|100px]]}}||colspan="2"|{{center|[[File:British Indian Empire 1909 Imperial Gazetteer of India.jpg|center|120px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''Phó vương [[James Bruce, Bá tước thứ 8 xứ Elgin]]<br> (1862 - 1863)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Toàn quyền thứ 7 và Phó vương thứ 2 của Ấn Độ}} | |||
|- | |||
| [[File:1 rupee Victoria - 1862XF.png|thumb|center|700px|{{center|'''1 Rupee [[Victoria của Anh|Victoria]] - 1862 B<hr>162 năm (tính đến 2024)''']]}}||[[File:Felice Beato (British, born Italy - Portrait of Lord Elgin, Plenipotentiary and Ambassador, Who Signed the Treaty - Google Art Project.jpg|120px]]<BR>{{center|1837 - 1901}} || {{center|30.78 mm}}|| {{center|'''91,7% [[Ag]]'''<hr>11,66 gr<hr>Bạc ròng <br>[[10,69222 gr]]}}|| {{center|6%}} || {{center|800.000<br>[[34,34$]]}} | |||
|} | |||
====George Curzon, Hầu tước Curzon thứ nhất của Kedleston==== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Đường kính | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Trọng lượng | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Số lượng đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Giá thành | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Raj thuộc Anh|ĐẾ QUỐC ẤN ĐỘ]] <br> 1858 - 1947 <hr> [[Nhà Hannover]] & [[Nhà Sachsen-Coburg và Gotha]]'''}}||colspan="2"|{{center|[[File:British Raj Red Ensign.svg|center|197px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Star-of-India-gold-centre.svg|center|100px]]}}||colspan="2"|{{center|[[File:British Indian Empire 1909 Imperial Gazetteer of India.jpg|center|120px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''Phó vương [[George Curzon, Hầu tước Curzon thứ nhất của Kedleston]]<br>(1899 - 1905)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Toàn quyền thứ 16, Phó vương thứ 11 của Ấn Độ}} | |||
|- | |||
| [[File:1 Rupee Edward VII - 1905 B.png|thumb|center|700px|{{center|'''1 Rupee [[Edward VII của Anh|Edward VII]] - 1905 B<br>119 năm (tính đến 2024)''']]}}||[[File:George Nathaniel Curzon, Marquess Curzon of Kedleston by John Cooke.jpg|120px]]<br>{{center|1903 - 1910}} || {{center|30.6 mm}}|| {{center|'''91,7% [[Ag]]'''<hr>11,66 gr<hr>Bạc ròng <br>[[10,69222 gr]]}}||{{center|76.202.000}} || {{center|700.000<br>[[30,04$]]}} | |||
|} | |||
====Frederic Thesiger, Tử tước Chelmsford thứ 1==== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Đường kính | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Trọng lượng | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Số lượng đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Giá thành | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Raj thuộc Anh|ĐẾ QUỐC ẤN ĐỘ]] <br> 1858 - 1947 <hr>[[Nhà Sachsen-Coburg và Gotha]]'''}}||colspan="2"|{{center|[[File:British Raj Red Ensign.svg|center|197px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Star-of-India-gold-centre.svg|center|100px]]}}||colspan="2"|{{center|[[File:British Indian Empire 1909 Imperial Gazetteer of India.jpg|center|120px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''Phó vương [[Frederic Thesiger, Tử tước Chelmsford thứ 1]] <br>(1916 - 1921)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Toàn quyền thứ 16, Phó vương thứ 19 của Ấn Độ}} | |||
|- | |||
| [[File:1 Rupee George V - 1916.png|thumb|center|700px|{{center|'''1 Rupee [[George V của Anh|George V]] - 1916<hr>108 năm (tính đến 2024)''']]}}||[[File:Lord Chelmsford LOC 10609148995.jpg|120px]]<br>{{center|1910 - 1936}} || {{center|30.5 mm}}|| {{center|'''91,7% [[Ag]]'''<hr>11,66 gr<hr>Bạc ròng <br>[[10,69222 gr]]}}|| {{center|115.000.210}} || {{center|450.000<br>[[19,31$]]}} | |||
|} | |||
====Archibald Wavell, Bá tước Wavell thứ 1==== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Đường kính | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Trọng lượng | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Số lượng đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Giá thành | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Raj thuộc Anh|ĐẾ QUỐC ẤN ĐỘ]] <br> 1858 - 1947 <hr> [[Nhà Sachsen-Coburg và Gotha]]'''}}||colspan="2"|{{center|[[File:British Raj Red Ensign.svg|center|197px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Star-of-India-gold-centre.svg|center|100px]]}}||colspan="2"|{{center|[[File:British Indian Empire 1909 Imperial Gazetteer of India.jpg|center|120px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''Phó vương [[Archibald Wavell, Bá tước Wavell thứ nhất]]<br> (1936 - 1952)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Toàn quyền thứ 19, Phó vương thứ 24 và áp chót của Ấn Độ}} | |||
|- | |||
| [[File:1,2 rupee George VI 1944.png|thumb|center|700px|{{center|'''1/2 Rupee [[George VI của Anh|George VI]] - 1944<hr>80 năm (tính đến 2024)''']]}}||[[File:Archibald Wavell2.jpg|120px]]<br>{{center|1942 - 1945}} || {{center|24.1 mm}}|| {{center|'''50% [[Ag]]'''<hr>5,84 gr<hr>Bạc ròng <br>[[2,92 gr]]}} || {{center|46.200.000}} || {{center|290.000<br>[[12,45$]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==🍅 PHÁP ĐỆ TAM== | |||
===Patrice de Mac Mahon=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Pháp|CỘNG HÒA PHÁP]] <hr> [[Đệ Tam Cộng hòa Pháp]]<br>(1870 - 1940)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of France (1794–1815, 1830–1974, 2020–present).svg|center|130px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Arms of the French Republic.svg|center|71px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Patrice de Mac Mahon|Tổng thống Patrice de Mac Mahon]] <br>(1873 - 1879)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Tổng thống thứ 3 của Pháp}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|[[File:5 fr French Third Republic - 1876.png|center|700px]]<hr>{{center|'''5 franc [[Pháp|Cộng hòa Pháp]] - 1876 A<hr>149 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Patrice de Mac Mahon- Presidente della Francia.jpg|120px]]<br>'''1870 - 1889<hr>[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[37,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[25,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[22,5 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[8.800.000]]<hr>1.000.000<br>([[(41,67$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
===Albert Lebrun=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Pháp|CỘNG HÒA PHÁP]] <hr> [[Đệ Tam Cộng hòa Pháp]]<br>(1870 - 1940)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of France (1794–1815, 1830–1974, 2020–present).svg|center|130px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Arms of the French Republic.svg|center|71px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Albert Lebrun|Tổng thống Albert Lebrun]] <br>(1932 - 1940)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Tổng thống thứ 15 của Pháp}} | |||
|- | |||
|[[File:20 Francs of France 1933.png|center|700px]]<hr>{{center|'''20 franc [[Pháp|Cộng hòa Pháp]] - 1933 A<hr>92 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Albert Lebrun 1932 (2) (cropped 2).jpg|120px]]<br>'''1929 - 1939<hr>[[AU]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[35,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[68%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[20,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[13,6 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[24.447.048]]<hr>500.000<br>[[(21,28$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==🍅 PHÁP ĐỆ NGỦ== | |||
===Charles de Gaulle=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Pháp|CỘNG HÒA PHÁP]]<hr>[[Đệ Ngũ Cộng hòa Pháp]]<br>(1958 - Ngay)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of France (1794–1815, 1830–1974, 2020–present).svg|center|134px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Armoiries république française.svg|center|77px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Charles de Gaulle|Tổng thống Charles de Gaulle]] <br>(1959 - 1969)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Tổng thống thứ 18 của Pháp}} | |||
|- | |||
|[[File:10 Francs of France 1965.png|center|700px]]<hr>{{center|'''10 franc [[Pháp|Cộng hòa Pháp]] - 1965<hr>60 năm (2025)'''}}||[[File:De Gaulle-OWI (cropped)-(c).jpg|120px]]<br>{{center|'''1964 - 1973<hr>[[AU]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[37,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[25,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[22,5 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[18.085.500]]<hr>700.000<br>[[(29,79$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
===Valéry Giscard d'Estaing=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Pháp|CỘNG HÒA PHÁP]]<hr>[[Đệ Ngũ Cộng hòa Pháp]]<br>(1958 - Ngay)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of France (1794–1815, 1830–1974, 2020–present).svg|center|134px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Armoiries république française.svg|center|77px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Valéry Giscard d'Estaing|Tổng thống Valéry Giscard d'Estaing]] <br>(1974 - 1981)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Tổng thống thứ 20 của Pháp}} | |||
|- | |||
|[[File:50 franc of France Republic 5 - 1978.png|center|700px]]<hr>{{center|'''50 franc [[Pháp|Cộng hòa Pháp]] - 1978<hr>47 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Valéry Giscard d’Estaing 1978.jpg|120px]]<br>'''1974 - 1980<hr>[[AU]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[41,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[30,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[27,0 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[12.030.211]]<hr>850.000<br>[[(36,48$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
===François Mitterrand=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Pháp|CỘNG HÒA PHÁP]]<hr>[[Đệ Ngũ Cộng hòa Pháp]]<br>(1958 - Ngay)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of France (1794–1815, 1830–1974, 2020–present).svg|center|134px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Armoiries république française.svg|center|77px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[François Mitterrand|Tổng thống François Mitterrand]] <br>(1981 - 1995)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Tổng thống thứ 21 của Pháp}} | |||
|- | |||
|[[File:100 Francs Fraternity 1988.png|center|700px]]<hr>{{center|'''100 franc_[[Hội huynh đệ|Tình huynh đệ, giá trị nền tảng của Cộng hòa Pháp]] - 1988<hr>37 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:President François Mitterrand in 1983.jpg|120px]]<br>'''1988<hr>[[MS|UNC]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[31,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[15,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[13,5 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[4.849.011]]<hr>500.000<br>[[(21,28$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
===Jacques Chirac=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Pháp|CỘNG HÒA PHÁP]]<hr>[[Đệ Ngũ Cộng hòa Pháp]]<br>(1958 - Ngay)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of France (1794–1815, 1830–1974, 2020–present).svg|center|134px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Armoiries république française.svg|center|77px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Jacques Chirac|Tổng thống Jacques Chirac]] <br>(1995 - 2007)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Tổng thống thứ 22 của Pháp}} | |||
|- | |||
|[[File:6,559557 franc Europa - 1999.png|center|700px]]<hr>{{center|'''6,559557 franc [[Europa]] - 1999<hr>26 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Jacques Chirac (1997) (cropped).jpg|120px]]<br>'''1999<hr>[[MS|UNC]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[37,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[22,2 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[19,98 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[25.000]]<hr>1.250.000<br>[[(50,81$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==🍅 NEW HEBRIDES== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đế quốc thực dân Pháp|ĐẾ CHẾ THỰC DÂN PHÁP]] & [[Đế quốc Anh|ĐẾ CHẾ ANH]]<hr>[[Tân Hebrides|Lãnh thổ bảo hộ chung New Hebrides]]<br>(1906 - 1980)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of New Hebrides.svg|center|120px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of New Hebrides.svg|center|110px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|'''[[Jacques Mouradian|Uỷ viên Pháp Jacques Mouradian]] (1965 - 1969)<hR>[[Colin Allan|Uỷ viên Anh Colin Allan]] (1966 - 1973)'''}} | |||
|- | |||
| [[File:100 Francs of New Hebrides 1966.png|center|700px]]<hr>{{center|'''100 Francs [[Tân Hebrides|New Hebrides]] - 1966<hr>59 năm (2025)'''}}||{{center|'''1966<hr>[[MS|MS-67]]'''}} || style="background:#ceb"colspan="1"|{{center|'''Đường kính'''<br>[[37,7 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[83,5%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[25,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[20,875 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[200.000]]<hr>1.900.000<hr>[[(74,51$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
# New Hebrides ngày nay là quốc đảo Vanuatu | |||
# Dưới thời Pháp thuộc, người Việt đã đưa bến đây lao động rất đông và hiện vẫn còn một cộng đồng ở đây. | |||
==🍅 GUYANA THUỘC PHÁP== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Pháp|CỘNG HÒA PHÁP]]<hr>[[Guyana thuộc Pháp]]<br>(1946 - Nay)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of French Guiana.svg|center|135px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of French Guyana.svg|center|67px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Ange Mancini|Tỉnh trưởng Ange Mancini]]<br> (2003 - 2006)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|-------------}} | |||
|- | |||
| [[File:1½ Euro of French Guyana Pattern 2004.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1½ Euro_[[Lịch sử hải quân Pháp]] ([[Tàu Pháp Soleil Royal (1669)|Tàu Soleil Royal]]) - 2004<hr> 21 năm (2025)'''}}||{{center|'''2004<hr>[[MS|UNC]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[38,6 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[99,9%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[31,14 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[31,10886 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[2.000]]<hr>1.300.000<br>[[(50,98$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==[[File:Flag map of Unified China (People's Republic of China).svg|100px]]📕 CHND TRUNG HOA== | |||
===Tập Cận Bình=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Trung Quốc|CỘNG HÒA NHÂN DÂN TRUNG HOA]]<br>(1949 - Ngay) <hr> Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of the People's Republic of China.svg|center|140px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:National Emblem of the People's Republic of China (2).svg|center|83px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Tập Cận Bình|Chủ tịch nước Tập Cận Bình]]<br>(2013 - Nay)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#fcc;"colspan="6"|{{center|Chủ tịch nước thứ 7, Tổng bí thư 18-20}} | |||
|- | |||
| [[File:10 Yuan 40th Anniversary of State Administration of Foreign 2019.png|center|700px]]<hr>{{center|'''10 Yuan_[[Cục Quản lý Ngoại hối Nhà nước|40 năm thành lập Cục Quản lý Ngoại hối Nhà nước 1978-2019]]}}||{{center|[[File:Xi Jinping at the APEC summit (2022).jpg|120px]]<br>'''2019<br>[[MS|UNC]]'''}}|| {{center|'''Đường kính'''<br>[[40,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[99,9%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[30,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[29,97 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[10.000]]<hr>950.000<br>[[(40,43$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==📕 SAN MARINO== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[San Marino|CỘNG HÒA SAN MARINO]]<br>(301 - Nay)<hr> [[Đại chấp chính San Marino|Đại chấp chính]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of San Marino.svg|center|120px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of San Marino.svg|center|65px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|......}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:500 Lire of San Marino Agency opening 1975.png|center|700px]]<hr>{{center|'''500 Lire_[[San Marino]]_Cơ quan tiền tệ mở cửa - 1975<hr>50 năm (2025)'''}}||{{center|'''1975<hr>[[MS|UNC]]'''}}|| {{center|'''Đường kính'''<br>[[29,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[83,5%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[11,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[9,185 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[200.000]]<hr>400.000<br>[[(17,24$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[San Marino|CỘNG HÒA SAN MARINO]]<br>(301 - Nay)<hr> [[Đại chấp chính San Marino|Đại chấp chính]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of San Marino.svg|center|120px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of San Marino.svg|center|65px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|......}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:10.000 lire San Marino 1997MS.png|center|700px]]<hr>{{center|'''10.000 Lire_[[San Marino|Millennium]] - 1997<hr>28 năm (2025)'''}}||{{center|'''1997<hr>[[MS|UNC]]'''}}|| {{center|'''Đường kính'''<br>[[34,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[83,5%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[22,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[18,37 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[30.000]]<hr>820.000<br>[[(34,89$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==[[File:Flag map of Kingdom of Ireland (1542–1801).svg|50px]]📕 IRELAND== | |||
===Douglas Hyde=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Cộng hòa Ireland|CỘNG HÒA IRELAND]]<br>(1937 - Nay)<hr>[[Cộng hòa nghị viện]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Ireland.svg|center|140px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of Ireland.svg|center|64px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Douglas Hyde|Tổng thống Douglas Hyde]]<br> (1938 - 1945)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Tổng thống đầu tiên của Ireland}} | |||
|- | |||
| [[File:2 Shilling of Ireland 1940.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1/2 Crown (2 Shilling) - 1940<hr>85 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Douglas Hyde, circa 1940.jpg|120px]]<br> '''1966<hr>[[XF]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[32,31 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[75,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[14,138 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[10,6035 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[752.000]]<hr>650.000<br>[[(27,66$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
===Éamon de Valera=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Cộng hòa Ireland|CỘNG HÒA IRELAND]]<br>(1937 - Nay)<hr>[[Cộng hòa nghị viện]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Ireland.svg|center|140px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of Ireland.svg|center|64px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Éamon de Valera|Tổng thống Éamon de Valera]] <br>(1959 - 1973)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Tổng thống thứ 3 của Ireland}} | |||
|- | |||
| [[File:10 Scilling of Ireland - Easter Rising Anniversary 1966.png|center|700px]]<hr>{{center|'''10 Scilling [[Patrick Pearse]]_[[Nổi dậy Phục sinh|50 năm Nổi dậy Phục sinh]] (1916-1966)<hr>59 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:De Valera LCCN2016822004 (headshot).jpg|120px]]<br> '''1966<hr>[[MS|MS-66]]'''}} || style="background:#ceb"colspan="1"|{{center|'''Đường kính'''<br>[[30,5 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[83,5%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[18,144 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[15,15024 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[2.000.000]]<hr>750.000<br>[[(29,41$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==📕 CỘNG HÒA Ý== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Ý|CỘNG HOÀ ITALY]] <br>(1946 - Nay)<hr>[[Cộng hòa nghị viện|Cộng hòa nghị viện đơn nhất]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Italy.svg|center|130px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Emblem of Italy.svg|center|70px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Giovanni Gronchi|Tổng thống Giovanni Gronchi]]<br> (1955 - 1962)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Tổng thống thứ 3 của Ý}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:500 Lire of Italy Unification Centennial 1961.png|center|700px]]<hr>{{center|'''500 Lire [[Kỷ niệm 100 năm thống nhất nước Ý]] - 1961<hr>64 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Giovanni Gronchi Official.jpg|120px]]<br> '''1974<hr>[[AU]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[29,3 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[83,5%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[11,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[9,185 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[27.120.000]]<hr>300.000 <br> [[(12,93$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==📕 CỘNG HÒA ÁO== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Áo|ĐỆ NHỊ CỘNG HÒA ÁO]] <br>(1945 - Nay)<hr>[[Cộng hòa nghị viện|Cộng hòa nghị viện Liên bang]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Austria.svg|center|140px]]}}||colspan="1"|{{center|[[Tập tin:Austria Bundesadler.svg|center|85px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Rudolf Kirchschläger|Tổng thống Rudolf Kirchschlager]]<br> (1974 - 1986)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Tổng thống thứ 9 của Đệ nhị Cộng hoà Áo}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:50 Schilling Garden Exhibition 1974.png|center|700px]]<hr>{{center|'''50 Schilling [[Garden Exhibition]] - 1974<hr>51 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Rudolf Kirchschläger 1983.jpg|120px]]<br> '''1974<hr>[[AU]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[34,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[64%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[20,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[12,8 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[2.279.000]]<hr>590.000 <br> [[(25,11$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==📕 LATVIA== | |||
===Gustavs Zemgals (2)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Latvia|CỘNG HÒA LATVIA]] <br>(1918 - 1940)<hr>[[Cộng hòa nghị viện]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Latvia.svg|center|134px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of Latvia.svg|center|100px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Gustavs Zemgals|Tổng thống Gustavs Zemgals]]<br> (1927 - 1930)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Tổng thống thứ 2 của Latvia}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:5 Lati of Latvia 1929.png|center|700px]]<hr>{{center|'''5 Lati [[Latvia]] - 1929<hr>96 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Zemgals.jpg|120px]]<br> '''1929-1932<hr>[[AU]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[37,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[83,5%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[25,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[20,875 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[1.000.000]]<hr>1.160.000<br>[[(49,36$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
===Alberts Kviesis (3)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Latvia|CỘNG HÒA LATVIA]] <br>(1918 - 1940)<hr>[[Cộng hòa nghị viện]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Latvia.svg|center|134px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of Latvia.svg|center|100px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Alberts Kviesis|Tổng thống Alberts Kviesis]]<br> (1930 - 1936)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Tổng thống thứ 3 của Latvia}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:5 Lati of Latvia - 1931.png|center|700px]]<hr>{{center|'''5 Lati [[Latvia]] - 1931<hr>94 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Kviesis.jpg|120px]]<br> '''1929-1932<hr>[[AU]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[37,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[83,5%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[25,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[20,875 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[2.000.000]]<hr>700.000<br>[[(29,79$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==📒 CỘNG HOÀ TIỆP KHẮC== | |||
===Tomáš Masaryk (1)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đệ Nhất Cộng hòa Tiệp Khắc|ĐỆ NHẤT CỘNG HOÀ TIỆP KHẮC]] <br>(1918 - 1938)<hr>[[Cộng hòa nghị viện]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of the Czech Republic.svg|center|134px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Middle coat of arms of Czechoslovakia.svg|center|70px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Tomáš Masaryk|Tổng thống Tomáš Masaryk]]<br> (1918 - 1935)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Tổng thống đầu tiên của Tiệp Khắc}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:10 Korun Tomáš Masaryk 1928.png|center|700px]]<hr>{{center|'''10 Korun [[Tomáš Masaryk]]_[[Tiệp Khắc|Kỷ niệm 10 năm độc lập của Tiệp Khắc]] - 1928<hr>97 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Tomáš Garrigue Masaryk 1925.PNG|120px]]<br> '''1928<hr>[[MS|MS-63]]'''}} ||style="background:#ceb"colspan="1"| {{center|'''Đường kính'''<br>[[30,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[70,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[10,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[7,0 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[1.000.000]]<hr>550.000<br>[[(21,17$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==📒 CHXHCN TIỆP KHẮC== | |||
===Antonín Novotný (2)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Tiệp Khắc|CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TIỆP KHẮC]] <br>(1948 - 1990)<hr>[[Chủ nghĩa xã hội]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of the Czech Republic.svg|center|134px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of Czechoslovakia (1960–1990).svg|center|65px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Antonín Novotný|Chủ tịch nước Antonín Novotný]]<br> (1953 - 1968)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Chủ tịch nước thứ 2 của CHXHCN Tiệp Khắc}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:10 Korun Technical College 1957.png|center|700px]]<hr>{{center|'''10 Korun [[Jan Willenberg]]_[[Đại học Kỹ thuật Séc tại Praha|Kỷ niệm 250 năm Technical College]] - 1957<hr>68 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Antonín Novotný 1968.jpg|120px]]<br> '''1957<hr>[[MS|MS-65]]'''}} || style="background:#ceb"colspan="1"|{{center|'''Đường kính'''<br>[[30,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[50,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[12,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[6,0 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[75.000]]<hr>550.000<br>[[(21,17$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==📕 ĐỨC QUỐC XÃ== | |||
===Adolf Hitler=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Đức Quốc xã|ĐỆ TAM ĐẾ CHẾ ĐỨC]] <br>(1933 - 1945)<hr>[[Chế độ độc tài]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[Tập tin:Flag of Germany (1935–1945).svg|center|134px]]}}||colspan="1"|{{center|[[Tập tin:Reichsadler Deutsches Reich (1935–1945).svg|center|120px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Adolf Hitler|Quốc trưởng Adolf Hitler]]<br> (1934 - 1945)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Quốc trưởng duy nhất của Đức Quốc xã}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:5 Reichsmark Paul von Hindenburg 1937.png|center|700px]]<hr>{{center|'''5 Reichsmark [[Paul von Hindenburg]] - 1937F<hr>88 năm (2025)'''}}||{{center|[[Tập tin:Ein Volk, ein Reich, ein Führer.jpg|120px]]<br> '''1936 - 1939<hr>[[AU]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[29,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[13,88 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[12,492 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[1.577.710]]<hr>550.000<br>[[(23,71$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==📕 HÀN QUỐC== | |||
===Chun Doo-hwan (5)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Hàn Quốc|ĐẠI HÀN DÂN QUỐC]] <br>(1948 - Nay)<hr>[[Đệ Ngũ Đại Hàn Dân Quốc]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[Tập tin:Flag of South Korea (1984–1997).svg|center|140px]]}}||colspan="1"|{{center|[[Tập tin:Emblem of South Korea (1984–1997).svg|center|88px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Chun Doo-hwan|Tổng thống Chun Doo-hwan]] <br>(1980 - 1988)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Tổng thống thứ 5 của Hàn Quốc}} | |||
|- | |||
| [[File:10 000 Won of Olympic Seoul Diving - 1987.png|center|700px]]<hr>{{center|'''10.000 Won_[[Thế vận hội Mùa hè 1988|Olympic Seoul 1988]], Diving 1987 <hr>38 năm (2025)'''}}||{{center|[[Tập tin:Chun Doo-hwan (전두환) Presidential Portrait.jpg|120px]]<br> '''1987<hr>[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[40,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[92,5%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[33,62 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[31,0985 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[117.500]]<hr>1.100.000<br>[[(43,14$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
* Olympic Seoul khai mạc vào năm 1988, dưới thời Tổng thống Roh Tae-woo (1988-1993), nhưng đồng xu kỷ niệm này được đúc năm 1987, dưới thời Tổng thống Chun Doo-hwan. | |||
==📕 CHDCND LÀO== | |||
===Khamtay Siphandone (4)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Lào|CỘNG HOÀ DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO]] <br>(1975 - Nay)<hr>[[Chủ nghĩa xã hội]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Laos.svg|center|130px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Emblem of Laos.svg|center|93px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Khamtay Siphandone|Chủ tịch nước Khamtay Siphandone]] <br>(1992 - 2006)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Chủ tịch nước thứ 4 của Lào}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:15.000 Kip of Laos - Year of the Horse 2002.png|center|700px]]<hr>{{center|'''15.000 Kip_[[Năm con ngựa]] - 2002 <hr>23 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:The Prime Minister, Dr. Manmohan Singh meeting with the President of Laos, Mr. Khamtay Siphandone at Vientiane in Laos on November 29, 2004 (cropped).jpg|120px]]<br> '''2002<hr>[[MS|UNC]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[38,7 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[92,5%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[20,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[18,5 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[6.000]]<hr>1.600.000<br>[[(61,49$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==[[File:Flag map of Singapore.svg|70px]]📕 SINGAPORE== | |||
===Benjamin Sheares=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Singapore|CỘNG HÒA SINGAPORE]] <br>(1965 - Nay)<hr>[[Cộng hòa nghị viện]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Singapore.svg|center|130px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of Singapore.svg|center|100px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Benjamin Sheares|Tổng thống Benjamin Sheares]] <br>(1971 - 1981)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Tổng thống thứ 2 của Singapore}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:10 Dollars of Singapore - Freighter beside Wharf 1976.png|center|700px]]<hr>{{center|'''10 Dollar_[[Singapore|Kỷ niệm 10 năm Độc lập của Singapore]] (1967 - 1976)<hr>49 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Benjamin Sheares at the University of Malaya in Singapore, 1951 (cropped).jpg|120px]]<br> '''1976 - 1977<hr>[[MS|UNC]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[41,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[50%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[31,1 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[15,55 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[150.000]]<hr>900.000<br>[[(34,94$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:10 dollars of Singapore - ASEAN 10th Anniversary 1977.png|center|700px]]<hr>{{center|'''10 Dollar_[[ASEAN|Kỷ niệm 10 năm thành lập ASEAN]] (1967 - 1977)<hr>48 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Benjamin Sheares at the University of Malaya in Singapore, 1951 (cropped).jpg|120px]]<br> '''1977<hr>[[MS|UNC]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[40,1 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[40%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[31,1 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[12,44 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[200.000]]<hr>700.000<br>[[(27,45$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==📕 PHILIPPINES== | |||
===Ferdinand Marcos=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Philippines|CỘNG HÒA PHILIPPINES]] <br>(1946 - Nay)<hr>[[Cộng hòa tổng thống]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of the Philippines.svg|center|135px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of the Philippines.svg|center|80px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Ferdinand Marcos|Tổng thống Ferdinand Marcos]] <br>(1965 - 1986)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Tổng thống thứ 10 của Philippines}} | |||
|- | |||
| [[File:1 peso Philippines 1967MS.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 Peso [[Bataan Day]] - 1967<hr>58 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Ferdinand Marcos (cropped).jpg|120px]]<br> '''1967<hr>[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[38,1 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[26,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[23,4 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[100.000]]<hr>800.000<br>[[(34,04$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
| [[File:25 Piso of Philippines 1976 (FAO).png|center|700px]]<hr>{{center|'''25 Peso [[FAO]] - 1976<hr>49 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Ferdinand Marcos (cropped).jpg|120px]]<br> '''1976<hr>[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[38,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[50,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[25,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[12,5 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[220.000]]<hr>1.450.000<br>[[(58,59$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
| [[File:50 Peso Boards of Governors Meeting 1976.png|center|700px]]<hr>{{center|'''50 Peso_[[Hội nghị thường niên của Quỹ Tiền tệ Quốc tế và Nhóm Ngân hàng Thế giới|Hội nghị thường niên của Hội đồng Thống đốc]] - 1976<hr> 49 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Ferdinand Marcos (cropped).jpg|120px]]<br> '''1976<hr>[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[40,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[92,5%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,4 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[25,345 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[10.000]]<hr>1.850.000<br>[[(72,55$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==[[File:Flag map of India actual control.png|70px]]📕 ẤN ĐỘ== | |||
===V. V. Giri=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Ấn Độ|CỘNG HÒA ẤN ĐỘ]] <br>(1950 - Nay)<hr>[[Cộng hòa liên bang]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of India.svg|center|130px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Emblem of India (without motto).svg|center|60px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[V. V. Giri|Tổng thống V. V. Giri]] <br>(1969 - 1974)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Tổng thống thứ 4 của Ấn Độ}} | |||
|- | |||
| [[File:1 rupee Gandhi India - 1948MS.png|center|700px]]<hr>{{center|'''10 Rupee_[[Mahatma Gandhi|Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Mahatma Gandhi]] (1869-1969)<hr>77 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:VV Giri 1974 stamp of India.jpg|120px]]<br> '''1969<hr>[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[34,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[80%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[15,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[12,0 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[3.160.000]]<hr>600.000<br>[[(25,53$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==[[File:Flag map of Turkey (with Northern Cyprus).png|140px]]📕 THỔ NHĨ KỲ== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Thổ Nhĩ Kỳ|CỘNG HÒA THỔ NHĨ KỲ]]<br>(1923 - Nay) <hr> [[Cộng hòa tổng thống]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Turkey.svg|center|130px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:A coat of arms design for Turkey.svg|center|66px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Süleyman Demirel|Tổng thống Süleyman Demirel]]<br> (1993 - 2000)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#fcc;"colspan="6"|{{center|Tổng thống thứ 9 của Thổ Nhĩ Kỳ}} | |||
|- | |||
| [[File:750.000 Lira of Turkey - Europa 1996.png|center|700px]]<hr>{{center|'''750.000 Lira_[[Europe]] - 1996<hr>29 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Suleyman Demirel 1998.jpg|120px]]<br>'''1885 - 1907<hr>[[MS|UNC]]'''}} ||{{center|'''Đường kính'''<br>[[38,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[92,5%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[31,47 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[29,10975 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[35.000]]<hr>1.200.000<br>[[(47,06$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==[[File:Flag map of Israel before the 1949 Armistice Agreements.png|50px]]📕 ISRAEL== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Israel|NHÀ NƯỚC ISRAEL]] <br>(1950 - Nay)<hr> [[Cộng hòa nghị viện]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Israel.svg|center|120px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Emblem of Israel.svg|center|70px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Zalman Shazar|Tổng thống Zalman Shazar]] <br>(1963 - 1973)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Tổng thống thứ 3 của Israel}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:10 Lirot of Israel 1968.png|center|700px]]<hr>{{center|'''10 Lirot_[[Israel|Kỷ niệm 20 năm Độc lập của Israel]] - 1968<hr>57 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Portrait of Zalman Shazar.jpg|120px]]<br>'''1968<hr>[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[37,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[93,5%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[26,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,31 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[49.996]] <hr>1.000.000<br>[[(42,55$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==🍎 CÁCH MẠNG MEXICO== | |||
===Álvaro Obregón (46)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Trọng lượng | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Mexico|HỢP CHỦNG QUỐC MEXICO]] <hr> [[Cách mạng México]] <br> (1911 – 1928)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Mexico.svg|center|140px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of Mexico.svg|center|90px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Álvaro Obregón|Tổng thống Álvaro Obregón]]<br> (1920 - 1924)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Tổng thống thứ 46 của Mexico}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 Peso Mexico 1921.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 Peso Mexico - 1921<hr>104 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Portrait of Alvaro Obregón 1.png|120px]]<br>1920 - 1945<hr>'''[[AU]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[34,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[72,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[16,6 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[11,952 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[5.480.000]]<hr>500.000<br>[[(21,55$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|} | |||
==🍎 MEXICO HIỆN ĐẠI== | |||
===Adolfo Ruiz Cortines (54)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Trọng lượng | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Mexico|HỢP CHỦNG QUỐC MEXICO]] <hr> Mexico hiện đại <br> (1934 – Nay)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Mexico.svg|center|140px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of Mexico.svg|center|90px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Adolfo Ruiz Cortines|Tổng thống Adolfo Ruiz Cortines]]<br> (1952 - 1958)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Tổng thống thứ 54 của Mexico}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:5 Pesos Hidalgo 1955.png|center|700px]]<hr>{{center|'''5 Peso Mexico_[[Miguel Hidalgo]] 1955<hr>70 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Adolfo Ruiz Cortines, Retrato.png|120px]]<br>1955 - 1957<hr>'''[[MS|UNC]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[36,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[72,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[18,055 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[12,9996 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[4.271.000]]<hr>650.000<br>[[(28,02$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:10 Pesos Hidalgo Grande 1956.png|center|700px]]<hr>{{center|'''10 Peso Mexico_[[Miguel Hidalgo]] 1956<hr>69 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Adolfo Ruiz Cortines, Retrato.png|120px]]<br>1955 -1956<hr>'''[[AU]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[40,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[28,888 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[25,9992 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[3.535.000]]<hr>800.000<br>[[(34,48$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
===Adolfo López Mateos (55)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Trọng lượng | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Mexico|HỢP CHỦNG QUỐC MEXICO]] <hr> Mexico hiện đại <br> (1934 – Nay)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Mexico.svg|center|140px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of Mexico.svg|center|90px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Adolfo López Mateos|Tổng thống Adolfo López Mateos]]<br> (1958 - 1964)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Tổng thống thứ 55 của Mexico}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:5 Pesos Centennial of Carranza's Birth 1959.png|center|700px]]<hr>{{center|'''5 Peso Mexico_[[Venustiano Carranza|Kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Carranza]] 1959<hr>66 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Retrato de Adolfo López Mateos.png|120px]]<br>1959<hr>'''[[AU]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[36,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[72,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[18,055 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[12,9996 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[1.000.000]]<hr>550.000<br>[[(23,71$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
===Vicente Fox (62)=== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Trọng lượng | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Mexico|HỢP CHỦNG QUỐC MEXICO]] <hr> Mexico hiện đại <br> (1934 – Nay)'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Mexico.svg|center|140px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of Mexico.svg|center|90px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Vicente Fox|Tổng thống Vicente Fox]]<br> (2000 - 2006)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Tổng thống thứ 62 của Mexico}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:100 Pesos of Mexico - Tlaxcala 2003.png|center|700px]]<hr>{{center|'''100 Peso Mexico_[[Tlaxcala|Kỷ niệm 180 năm thành lập Liên bang - Tlaxcala]] 2003<hr>22 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Vicente Fox Official Photo 2000 (Cropped) (b).jpg|120px]]<br>2003<hr>'''[[MS|UNC]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[39,04 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[92,5%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[33,49 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[? gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[250.000]]<hr>850.000<br>[[(32,67$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==[[File:Flag-map of Panama.svg|160px]]📕 PANAMA== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Panama|CỘNG HÒA PANAMA]] <br> (1821 - Nay) <hr> [[Cộng hòa tổng thống]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Panama.svg|center|139px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of Panama.svg|center|80px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Marco Aurelio Robles|Tổng thống Marco Aurelio Robles]]<br> (1964 - 1968)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|------}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1 balboa Republic of Panama - 1966.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1 Balboa [[Panama]] - 1966<hr>59 năm (2025)'''}}||{{center|'''1966 - 1974<hr>[[MS|UNC]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[38,1 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[90,0%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[26,73 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,057 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[40.000]]<hr>1.300.000<br>[[(55,79$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Demetrio B. Lakas|Tổng thống Demetrio B. Lakas]] <br>(1969 - 1978)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|------}} | |||
|- | |||
| [[File:5 balboa Central American Games - 1970.png|center|700px]]<hr>{{center|'''5 Balboa_[[Đại hội Thể thao Trung Mỹ]] - 1970<hr>55 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:President Demetrio Lakas (cropped).jpg|120px]]<br>'''1970<hr>[[AU]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[38,5 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[92,5%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[35,7 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[33,0225 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[1.647.000]]<hr>1.250.000<br>[[(53,65$)]]}} | |||
|- | |||
| [[File:5 Balboas of Panama - Belisario Porras 1975.png|center|700px]]<hr>{{center|'''5 Balboa [[Belisario Porras]] - 1975<hr>50 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:President Demetrio Lakas (cropped).jpg|120px]]<br>'''1975-1979<hr>[[MS|UNC]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[39,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[92,5%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[35,12 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[32,486 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[41.000]]<hr>850.000<br>[[(34,55$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==[[File:Flag-map of Trinidad and Tobago.svg|100px]]📕 TRINIDAD & TOBAGO== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Trinidad và Tobago|CỘNG HÒA TRINIDAD & TOBAGO]] <br> (1976 - Nay) <hr> [[Cộng hòa nghị viện]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Trinidad and Tobago.svg|center|150px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of Trinidad and Tobago (2025).svg|center|85px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Ellis Clarke|Tổng thống Ellis Clarke]] <br>(1976 - 1987)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#fcc;"colspan="6"|{{center|Tổng thống đầu tiên của Trinidad & Tobago}} | |||
|- | |||
| [[File:5 dollars Republic of Trinidad & Tobago 1976.png|center|700px]]<hr>{{center|'''5 dollar [[Trinidad và Tobago]]_[[Cò quăm đỏ|Cò quăm đỏ (Scarlet ibis)]] - 1976<hr>49 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Sir Ellis Clarke (cropped 2).jpg|120px]] <br>'''1976 - 1984<hr>[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[40,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[92,5%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[29,81 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[27,57425 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[11.000]]<hr>650.000<br>[[(26,42$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==📕 ARGENTINA== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Argentina|CỘNG HÒA ARGENTINA]] <br> (1810 - Nay) <hr> [[Cộng hòa tổng thống liên bang]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Argentina.svg|center|150px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of Argentina.svg|center|65px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Fernando de la Rúa|Tổng thống Fernando de la Rúa]] <br>(1999 - 2001)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Tổng thống thứ 51 của Argentina}} | |||
|- | |||
| [[File:25 Pesos of Argentina - Ibero-American Series - The Doma Criolla - 2000.png|center|700px]]<hr>{{center|'''25 Peso_Người đàn ông cưỡi ngựa - 2000<hr>25 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Fernando de la Rúa con bastón y banda de presidente.jpg|120px]] <br>'''2000<hr>[[MS|UNC]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[40,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[92,5%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[27,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[24,975 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[5.000]]<hr>1.200.000<br>[[(46,59$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==[[File:Flag Map of Guyana.png|70px]]📕 GUYANA== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Guyana|CỘNG HÒA HỢP TÁC GUYANA]] <br> (1970 - Nay) <hr> [[Cộng hòa]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Guyana.svg|center|150px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of Guyana.svg|center|85px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Arthur Chung|Chủ tịch Arthur Chung]] <br>(1970 - 1980)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Tổng thống đầu tiên của Guyana}} | |||
|- | |||
| [[File:5 Dollars of Guyana - Independence 1976.png|center|700px]]<hr>{{center|'''5 dollar [[Hubert Nathaniel Critchlow]]_[[Guyana|Kỷ niệm 10 năm độc lập]] - 1976<hr>49 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:President Arthur Chung.jpg|120px]] <br>'''1976 - 1980<hr>[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[42,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[50%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[37,3 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[18,65 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[18.000]]<hr>750.000<br>[[(30,3$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==[[File:Flag map of Western Samoa (New Zealand Mandate).png|100px]]📕 SAMOA== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Samoa|CỘNG HÒA SAMOA]]<br>(1962 - Nay)<hr>[[Cộng hòa nghị viện]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Samoa.svg|center|155px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of Samoa.svg|center|80px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Malietoa Tanumafili II|Nguyên thủ Malietoa Tanumafili II]] <br>(1962 - 2007)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị nguyên thủ thứ 2 của Samoa}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:10 Tālā of Samoa - Wilhelm Solf 1980.png|center|700px]]<hr>{{center|'''10 Tālā_[[Wilhelm Solf|80 năm Wilhelm Solf trở thành Thống đốc Samoa]] - 1980<hr>45 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Malietoa Tanumafili II (cropped).jpg|120px]]<br>'''1980<hr>[[MS]]'''}}|| {{center|'''Đường kính'''<br>[[38.7 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[92,5%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[31,47 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[29,10975 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[4.000]]<hr>1.225.000<br>[[(48,13$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:10 Tālā Tanumafili II - 1986MS.png|center|700px]]<hr>{{center|'''10 Tālā_[[Tổ chức Quốc tế về Bảo tồn Thiên nhiên|25 năm thành lập Quỹ Động vật hoang dã Thế giới]] - 1986<hr>39 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Malietoa Tanumafili II (cropped).jpg|120px]]<br>'''1986<hr>[[AU]]'''}}|| {{center|'''Đường kính'''<br>[[38.7 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[92,5%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[31,47 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[29,10975 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[25.000]]<hr>890.000<br>[[(37,87$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==📕 MARSHALL ISLANDS== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Quần đảo Marshall|QUẦN ĐẢO MARSHALL]]<br>(1979 - Nay)<hr>[[Hiệp ước Liên kết Tự do|Nhà nước liên kết tự do với Hoa Kỳ]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of the Marshall Islands.svg|center|120px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Seal of the Marshall Islands.svg|center|80px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Amata Kabua|Tổng thống Amata Kabua]] <br>(1979 - 1996)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Tổng thống đầu tiên của Quần đảo Marshall}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:50 Dollars of Marshall (First Men on the Moon) 1989.png|center|700px]]<hr>{{center|'''50 dollar_[[Neil Armstrong|Kỷ niệm 20 năm Người đàn ông đầu tiên đặt chân lên Mặt Trăng]] - (1969-1989)'''}}||{{center|[[File:Amata Kabua MH (cropped).jpg|120px]]<br>'''1989<hr>[[MS]]'''}}|| {{center|'''Đường kính'''<br>[[37,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[99,9%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[31,1 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[31,0689 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[50.000]]<hr>1.450.000<br>[[(58,94$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==📕 CHDC SUDAN== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Cộng hòa Dân chủ Sudan|CỘNG HÒA DÂN CHỦ SUDAN]]<br>(1969 - 1985) <hr> [[Xã hội chủ nghĩa]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Sudan.svg|center|130px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Emblem of the Democratic Republic of the Sudan.svg|center|75px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Gaafar Nimeiry|Tổng thống Gaafar Nimeiry]] <br>(1971 - 1985)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Tổng thống duy nhất của CHDC Sudan}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:2½ Pounds of Sudan 1976.png|center|700px]]<hr>{{center|'''2½ Pound_[[Eagle divides date]] - 1976 <hr>49 năm (2025)'''}}||{{center|[[File:Jafaar Nimiry in 1974.jpg|120px]]<br>1976<hr>'''[[MS|MS-69]]'''}} ||style="background:#ceb"colspan="1"|{{center|'''Đường kính'''<br>[[38,61 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[92,5%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[28,28 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[26,159 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[5.183]]<hr>1.500.000<br>[[(58,23$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==📕 CỘNG HÒA DAHOMEY== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Cộng hòa Dahomey|CỘNG HÒA DAHOMEY]] <br> (1958 - 1975) <hr> Nhà nước tự trị'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Benin.svg|center|132px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of Dahomey (1958–1964).svg|center|64px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Hubert Maga|Tổng thống Hubert Maga]] <br>(1970 - 1972)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị tổng thống đầu tiên của Dahomey - lần tại nhiệm thứ 2}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:500 Francs Independence 1971.png|center|700px]]<hr>{{center|'''500 franc_[[Cộng hòa Dahomey|Kỷ niệm 10 năm độc lập của Dahomey]] 1971<hr>54 năm (2025)'''}} ||{{center|[[File:Hubert Maga 1961 (cropped).png|120px]]<br>1971<hr>'''[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[41,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[99,9%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[25,20 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[25,1748 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[5.550]]<hr>1.750.000<br>[[(71,14$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
# Từ khi thành lập vào năm 1958 đến 1960 nó là một thuộc địa có quyền tự trị nằm trong Liên hiệp Pháp, từ năm 1960 đến 1975 nó hoàn toàn độc lập và sau năm 1975 thì nó đổi tên thành Cộng hòa Benin | |||
==[[File:Flag map of Benin.svg|40px]]📕 BENIN== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Benin|CỘNG HÒA BENIN]]<br>(1975 - NAY) <hr> [[Cộng hòa tổng thống]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Benin.svg|center|140px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of Benin.svg|center|105px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Mathieu Kérékou|Tổng thống Mathieu Kérékou]] <br>(1996 - 2006)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Tổng thống 2 lần của Benin}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"| | |||
|- | |||
| [[File:1000 Francs CFA Klaus Stortebeker 2002.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1.000 Franc CFA_[[Klaus Störtebeker|600 năm ngày mất của Klaus Störtebeker]] (1402 - 2002)'''}}||{{center|[[File:Mathieu Kérékou 2006Feb10.JPG|120px]]<br>2002<hr>'''[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[40,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[99,9%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[20,1 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[20,0799 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[15.000]]<hr>900.000<br>[[35,29$]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==[[File:Flag map of Cameroon (1961–1975).svg|70px]]📕 CAMEROOM== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Cameroon|CỘNG HÒA CAMEROON]]<br>(1960 - Nay) <hr> [[Cộng hòa tổng thống đơn nhất]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Cameroon.svg|center|140px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of Cameroon.svg|center|77px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Paul Biya|Tổng thống Paul Biya]] <br>(1982 - Nay)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị Tổng thống thứ 2 của Cameroon}} | |||
|- | |||
| [[File:1000 Francs of Cameroon Year of the Dragon 2012.png|center|700px]]<hr>{{center|'''1000 Franc [[Thìn|Năm con Rồng]] & [[Vạn Lý Trường Thành]] - 2012'''}}||{{center|[[File:Paul Biya 2014.png|120px]]<br>2012<hr>'''[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[38,61 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[99,9%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[20,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[19,98 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[888]]<hr>1.500.000<br>[[58,82$]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==📕 LIBERIA== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Liberia|CỘNG HÒA LIBERIA]]<br>(1847 - Nay) <hr> [[Cộng hòa tổng thống đơn nhất]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of Liberia.svg|center|170px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of Liberia.svg|center|80px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Charles Taylor (chính khách Liberia)|Tổng thống Charles Taylor]] <br>(1997 - 2003)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị Tổng thống thứ 22 của Liberia}} | |||
|- | |||
| [[File:20 Dollars of Liberia (Saint of Portugal) 2001.png|center|700px]]<hr>{{center|'''20 Dollar [[Liberia]]_[[Thánh bổn mạng Bồ Đào Nha]] - 2001'''}}||{{center|[[File:President Charles Taylor.png|120px]]<br>2012<hr>'''[[MS|UNC]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[40,0 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[99,9%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[20,0 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[19,98 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[550.000]]<hr>850.000<br>[[33,47$]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==[[File:Flag map of The Gambia.svg|150px]]📕 GAMBIA== | |||
{| class="wikitable sortable" | |||
|- | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Mệnh giá & Tên xu | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thời gian đúc | |||
! style="background:#00005c; color:#fff;"|Thông tin | |||
|- | |||
|style="background:LightCoral;"colspan="1"|{{center|'''[[Gambia|CỘNG HÒA GAMBIA]]<br>(1970 - Nay)<hr>[[Dawda Jawara|Đệ Nhất Cộng hòa]]'''}}||colspan="1"|{{center|[[File:Flag of The Gambia.svg|center|130px]]}}||colspan="1"|{{center|[[File:Coat of arms of The Gambia.svg|center|85px]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr> | |||
|- | |||
|style="background-color: #bfc;"colspan="6"|{{center|'''[[Dawda Jawara|Tổng thống Dawda Jawara]] <br>(1970 - 1994)'''}} | |||
|- | |||
|style="background:#ec6;"colspan="6"|{{center|Vị Tổng thống đầu tiên của Gambia}} | |||
|- | |||
| [[File:20 Dalasis of Gambia - Mungo Park 1994.png|center|700px]]<hr>{{center|'''20 Dalasi [[Dawda Jawara]]_[[Mungo Park (nhà thám hiếm)|Mungo Park]] - 1994'''}}||{{center|[[File:Dawda Jawara (1979).jpg|100px]]<br>1994<hr>'''[[MS]]'''}} || {{center|'''Đường kính'''<br>[[38,5 mm]]<hr>'''Tỷ lệ bạc'''<br>[[92,5%]]<hr>'''Trọng lượng'''<br>[[31,47 gr]]<hr>'''Bạc ròng''' <br>[[29,10975 gr]]<hr>'''Số lượng'''<br>[[10.000]]<hr>900.000<br>[[(35,29$)]]}} | |||
|- | |||
|style="background:#00005c; color:#fff;"colspan="6"|<hr/> | |||
|} | |||
==NHỮNG XU CẦN MUA TRONG TƯƠNG LAI== | |||
* [[5 yang Đế quốc Đại Hàn]] | |||
* '''''5 lire Công quốc Parma (Vợ của hoàng đế Napoleon I)''''' | |||
* [[5 lire Vương quyền Savoy và Segdena]] | |||
* [[1 ecu Louis XV của Pháp]] | |||
* Elisabeth của Nga | |||
* Peter Đại đế | |||
* [[1 ruble Peter II của Nga]] | |||
* Đế quốc Myanmar | |||
* '''''20 reales Joseph Bonaparte''''' | |||
* '''''120 Grana Joachim Muras''''' | |||
* '''''1 Reckdale Karl XIV Johan của Thụy Điển''''' | |||
* Giáo phận vương quyền... | |||
* Vương quốc Serbia | |||
* Thân vương quốc Montenegro | |||
* Cộng hòa Venice | |||
* Cộng hoà Geonova | |||
* Nhà Medici - Toscana | |||
* Baht Rama IV, V, [[1 baht Rama VI]], VII, VIII, IX, X | |||
* 1 dollar Vương quốc Hawaii | |||
==🌈 MỐC LỊCH SỬ PHÁP== | |||
*[[Vương tộc Capet|Vương quốc Pháp của Nhà Capet]] (987 - 1328) | |||
*[[Vương tộc Valois|Vương quốc Pháp của Nhà Valois]] (1328 - 1589) | |||
*[[Vương tộc Bourbon|Vương quốc Pháp của Nhà Bourbon]] (1589 - 1792) | |||
*[[Đệ Nhất Cộng hòa Pháp]] (1792 - 1804) | |||
**[[Chế độ Quốc ước]] (1792 - 1795) | |||
**[[Chế độ đốc chính Pháp]] (1795 - 1799) | |||
**[[Chế độ tổng tài Pháp]] (1799 - 1804) | |||
*[[Đệ Nhất Đế chế Pháp]] (1804-1914) | |||
*[[Chiến tranh Liên minh thứ Bảy|Triều đại Trăm ngày]] (20 tháng 3 – 8 tháng 7 năm 1815) 110 ngày | |||
*[[Bourbon phục hoàng]] (1814-1815 và 1815-1830) | |||
*[[Quân chủ tháng Bảy]] (1830 - 1848) | |||
*[[Đệ Nhị Cộng hòa Pháp]] (1848 - 1852) | |||
*[[Đệ Nhị Đế chế Pháp]] (1852 - 1870) | |||
*[[Đệ Tam Cộng hòa Pháp]] (1870 - 1940) | |||
*[[Chính phủ Vichy]] (1940 - 1944) | |||
*[[Chính phủ lâm thời Cộng hòa Pháp]] (1944 - 1946) | |||
*[[Đệ Tứ Cộng hòa Pháp]] (1946 - 1958) | |||
*[[Đệ Ngũ Cộng hòa Pháp]] (1958 - Nay) | |||